Trần Kiêm Đoàn

 

Đôi điều với Liên Thành về

 “Biến Động Miền Trung”

 

Sau hơn 30 năm ra nước ngoài im hơi lặng tiếng, gần đây ông Liên Thành, cựu thiếu tá trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên Huế (xin viết tắt là LT), viết hồi kư nói lên những ǵ ông biết về t́nh h́nh chiến tranh, chính trị và xă hội tại Miền Trung Việt Nam trong khoảng thời gian từ 1963 đến 1975.

Được tin LT sẽ ra mắt sách tại Sacramento, thành phố thủ phủ tiểu bang California vào đầu tháng 11 năm 2009.  Đang là một cư dân tại thành phố nầy, tôi xin gởi lời chào LT, một đồng hương xứ Huế và cũng người đồng trang lứa với tôi.  Trước cùng lớn lên và đă sống hơn nửa đời trong khung trời Huế và nay trong cảnh “tha hương ngộ cố tri!”

Tập sách “Biến Động Miền Trung” (viết tắt BĐMT) và những bài viết của LT về một số nhân vật thành danh xứ Huế đă tạo nhiều dư luận xôn xao trong cộng đồng người Việt hải ngoại.  Xôn xao, bởi v́ về mặt tâm lư, khát vọng lư giải hậu quả bi thảm của cuộc chiến Việt Nam đă trở thành một nỗi ám ảnh thường trực và chung thân đối với tập thể người Việt tỵ nạn ở nước ngoài. Sự phân định, xác quyết, chỉ danh điểm mặt hai tuyến nhân vật thiện–ác, chánh–tà  trong cuộc tương tranh ba mươi năm đầy máu lệ là một nhu cầu t́nh cảm, tâm lư và tri thức của cả một thế hệ đang lần bước đến tuổi già, đang từng tháng, từng ngày thay phiên nhau về đất.

Trong một tiến tŕnh truy t́m bằng chứng, phân tích, lư giải để t́m câu trả lời cho một vấn đề, nếu chỉ  đứng về mặt phương pháp luận th́ Đông – Tây rất khác nhau. Người phương Tây thiên về lư, phương Đông ta thiên về t́nh; phương Tây thường lư luận và chứng minh bằng dữ kiện khách quan độc lập, phương Đông ta thường suy diễn bằng cảm nhận và kinh nghiệm chủ quan tập thể.  Xác định điều nầy để nói lên sự dè dặt và cẩn trọng cần thiết về tính khả tín – mức độ đáng tin cậy – khi đọc và t́m hiểu một bản tin thời sự hay một tác phẩm liên quan đến t́nh h́nh thời cuộc như LT và BĐMT.

Qua những điều LT đă viết và đă nói trên đài phát thanh, trong các buổi hội luận th́ chi tiết nầy kia có chỗ khác nhau, nhưng nội dung và chủ đích chỉ có 3 điều nổi rơ hơn cả:

Thứ nhất, LT đă cố gắng tạo ra một bối cảnh xuất thân đầy sôi động về vai tṛ và quyền lực cá nhân trong vị thế trưởng ty cảnh sát Thừa Thiên Huế quá nhỏ bé và giới hạn của bản thân ḿnh trong bối cảnh chung của toàn đất nước bằng một thế giới thiên h́nh vạn trạng của lĩnh vực “t́nh báo”.  Đó là một thế giới của mê hồn trận mà trong lịch sử chiến tranh và chính trị kim cổ, cho đến nay, con người vẫn c̣n hoang mang trong vấn nạn nhiều hơn là giải đáp v́ nó dày đặc huyền thoại nhiều hơn là dữ kiện.

Thứ hai, LT đă cố ư cột buộc và đồng hóa phong trào đấu tranh Phật giáo 1963 và các hoạt động của Phật giáo trở về sau đều là cộng sản. Theo ông, các nhà sư Phật giáo trong hàng giáo phẩm lănh đạo phong trào là đảng viên cộng sản. Từ đó, LT suy luận và diễn giải rằng, các sinh hoạt Phật giáo có liên quan gián tiếp hay trực tiếp với một t́nh h́nh xă hội miền Nam thời chiến đầy biến động là do Cộng sản Việt Nam (CSVN) điều khiển, giật giây. Tự phong cho ḿnh vai tṛ phán quan của một kiểu ṭa án mặt trận thời chiến pha trộn với h́nh thức ngôn ngữ của các cuộc đấu tố, LT cho ḿnh quyền tự do mạ lỵ không tiếc lời các đối tượng mà ông đă “phán” là cộng sản.

Thứ ba, LT đă tự ḿnh, cùng lúc, đứng ra làm thủ lănh, chứng nhân, nạn nhân, quần chúng… của một thế giới ma để ông tha hồ gắn lên môi, lên mép, lên nhân dáng tưởng tượng của những người đă nằm im trong ḷng đất những lời nói, ư tưởng, động thái, chứng tích không thể kiểm chứng và không c̣n ai đối chất.  Từ đó, LT đă đơn giản yên trí rằng, ông đă “đả thông tư tưởng”,  thuyết phục được độc giả và người nghe đứng về phía ông để cho đấy là “sử liệu sống” của thời nay. 

T́m hiểu phản ứng của một số người giới hạn có dùng internet và đọc sách báo tiếng Việt thuộc mọi thành phần xă hội, tôn giáo, có biết đến LT và BĐMT th́ được biết thái độ của họ đă thể hiện trong nhiều cách thế khác nhau:

·         Những người tin những điều ông nói là đúng sự thật và lên tiếng th́ đứng khắp mọi phía bên nầy, bên kia; đằng nầy, đằng nọ nên kết luận phía nầy lắm lúc trở thành câu hỏi của phía khác.

·         Những người cho LT là dối trá th́ phản ứng lạnh nhạt. Họ cho rằng đây chẳng qua là một cuộc đánh trống khua chiêng của LT tự quảng cáo ḿnh một cách dễ dăi phù hợp với bản chất cố hữu của ông từ trước tới nay với sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhóm “Phù Ngô phục hận” đầy bản lĩnh đang đứng ở hậu trường (?!)

·         Những người có quan tâm mà im lặng thường không phải là họ không biết, nhưng chỉ v́ vấn đề và hoàn cảnh chẳng đáng quan tâm nên không đáng nói mà thôi.

Trong giới hạn của một bài viết ngắn dưới h́nh thức “đôi điều góp ư”, thay cho lời chào hỏi xă giao khách phương xa đến viếng vùng ḿnh, người viết không có tham vọng và có lư do đứng ở một vị trí nào đó để làm công việc biện minh không cần thiết và phán xét chưa đủ căn cứ cho các nhân vật và hoàn cảnh đă được nêu lên trong BĐMT.  Những nhân vật lịch sử và những ván bài thời cuộc xin trả về cho lịch sử sẽ phán xét công bằng và chung quyết.  Đây chỉ là đôi lời dấy lên như một phản ứng “qua đường thấy việc bất bằng chẳng tha” mà thôi.  Xin đi vào nội dung:

 

Điệp báo và nói láo:

 

Đó là nhan đề cuốn sách “Of Spies and Lies” của John F. Sullivan viết về mặt trận t́nh báo trong chiến tranh Việt Nam.  Nội dung cuốn sách đă trực tiếp hay gián tiếp nhắc đến nhiều trường hợp các nhân sự Việt Nam trong giới thường dân, công chức, cảnh sát, quân đội… làm cộng tác viên, điểm chỉ viên với các đơn vị t́nh báo của Mỹ đă bị các đơn vị đặc nhiệm phản t́nh báo của CSVN đánh tráo tin tức.  Sự đánh lừa trong nhiều trường hợp đă tạo ra những nguồn tin sai lạc nhằm gây mâu thuẫn, phân hóa, chia rẽ, hạ bệ và bôi đen phẩm cách của những nhân vật “bị” nổi tiếng mà xét ra không có lợi cho ư đồ lâu dài trong sách lược chiếm trọn miền Nam của họ.  Giới t́nh báo hành chánh bị lừa ngồi trong công sở và bàn giấy chỉ việc rung đùi nghe báo cáo từ các cộng tác viên, yên chí lớn là đă “nắm vững tin tức t́nh báo” để phản ứng. Thái độ chấp nhận vấn đề – dối trá hóa thật – mà cứ mang ảo tưởng là nắm vững và giải quyết được vấn đề đă góp phần tạo nên những tai họa cho địa phương và cả miền Nam sau nầy.

Đọc phần nói về vai tṛ t́nh báo bao quát trong mọi lĩnh vực, thấu suốt mọi vấn đề, nắm vững mọi hoàn cảnh, thấy được mọi ngơ ngách bao gồm luôn cả ta, địch và đồng minh của LT trong BĐMT, người đọc có cảm tưởng như đang coi chuyện vơ hiệp kỳ t́nh.  Trong đó, chưởng môn LT ngồi trong trướng vơ đàn mà thấy hết hoàn toàn thiên hạ sự.  V́ vậy, có thể tạm gọi BĐMT là một tập “hồi ức tạp ghi”… nghĩ chi nói nấy của tác giả LT; c̣n rất xa mới đủ tính khả tín của chứng tích và sử liệu.

Được biết LT lên tiếng là chỉ chấp nhận tranh luận “sự nghiệp t́nh báo” của ông với những người ở trong lĩnh vực t́nh báo mà thôi (?!).  Riêng kẻ viết những ḍng nầy chẳng thuộc ṇi hổ báo, t́nh báo ǵ cả; nhưng chưa hẳn là kẻ “ngoại đạo” trong lĩnh vực nầy.  Không biết nên chăng cần hé chút tâm sự riêng rằng, tôi đă từng dịch những hồ sơ “classified” cho Peter Downs, giám đốc cơ quan xă hội Tin Lành Việt Nam (VNCS:  Vietnamese Christian Social Services) suốt mấy năm liền song song với nghề dạy học. Sau nầy mới biết ông ta là cục phó CIA đặc trách miền Trung.  V́ chỉ “dịch nhi bất tác” nên sau 1975, tôi chỉ bị đuổi dạy, lái xe lam mà khỏi đi tù.  Tôi có hai người anh ruột.  Ông anh cả là chỉ huy trưởng lực lượng Biệt Kích Dù lần lượt ở các trại Biệt Kích trọng điểm như Thượng Đức, Khâm Đức và Khe Sanh, gắn liền số phận sinh tử với các tổ nhảy toán t́nh báo vào đất địch.  Anh đă tử trận ở Khe Sanh năm 1967 – “Biệt Kích Dù vị quốc vong thân!”  Ông anh thứ hai cũng ở trong lĩnh vực t́nh báo của quân lực Việt Nam Cộng hoà (VNCH), làm ở pḥng an ninh Không đoàn 41. Thời gian làm việc với P. Downs và hoàn cảnh anh em chia sẻ, thông tin thường xuyên cho nhau đă giúp tôi học hỏi, làm quen và có được cái nh́n không ảo tưởng về một thế giới mà người khí tiết, kẻ gian tà, nhóm trung thành, phường phản bội biến hiện, quần thảo nhau như bóng với h́nh thường khó ḷng phân biệt. Đó là thế giới t́nh báo hay nhân danh t́nh báo.  Và, thêm vào đó, bản thân tôi cũng là chuyên viên điều tra ṭa án (court investigator) về các hồ sơ tội phạm ngược đăi thanh thiếu niên thuộc chương tŕnh CPS của chính phủ Hoa Kỳ trong suốt 18 năm công tác liên tục tại Sacramento.

 Học hỏi và kinh ngiệm đă chỉ cho tôi biết rằng, đánh giá kết quả t́nh báo, điều tra là nh́n vào thành quả chứ không thể căn cứ vào hiện tượng chiến thuật và sách lược biểu hiện đầy vẻ “dung dăng, dung dẻ” biến hiện không lường trên bề mặt nổi.  Kiểu cách dùng lời lẽ đại ngôn để vẽ hươu, vẽ vượn cốt làm hoa mắt thiên hạ về những điều vừa mâu thuẫn, vừa không thể nào chứng minh được là một lối diễn xuất phường tuồng, chẳng dính dáng ǵ đến tổ chức t́nh báo và tác dụng của t́nh báo đích thực cả.

Hoàn cảnh thực tế của Thừa Thiên Huế trong thời kỳ LT làm trưởng ty cảnh sát chỉ c̣n cái lơi thành phố là tương đối c̣n an ninh trong phập phồng lo sợ.  Có thể nói đây là thời kỳ tệ hại nhất về mặt an ninh của xứ nầy.  Chiều chiều, từng đoàn người dân quê trong độ tuổi lao động từ các vùng nông thôn phải đạp xe đạp lên thành phố ngủ trọ qua đêm. Bốn phía đều trở thành những vùng xôi đậu, ngày Quốc gia, đêm Việt cộng.  Đi xe đạp rời khỏi cột cờ Phu Văn Lâu chừng 10 phút ra khỏi giới hạn An Ḥa, Bao Vinh, Chợ Dinh, Dạ Lê, Thủy Xuân, Phường Đúc… sau chạng vạng tối là đă nơm nớp lo sợ du kích cộng sản bắt cóc hay bắn sẻ bất cứ lúc nào. 

Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, 1968 của CSVN trên toàn miền Nam th́ Huế bị rơi vào t́nh trạng thê thảm nhất.  Trên 5000 người dân vô tội bị thảm sát.  Theo các nguồn thông tin đáng tin cậy th́ thủ phạm điểm chỉ bắt người và giết người là những giao liên du kích cộng sản nội thành mà phần đông trước đó, đă quen đường thuộc lối, lên núi và về đồng bằng; vào thành phố Huế dễ dàng như đi chợ.  Nếu LT có một mạng lưới t́nh báo “cái ǵ cũng biết” như ông nói th́ thực tế đau thương của Huế tự nó đă phản bác nghiêm khắc lời tự phong vu vơ, hoàn toàn thiếu căn cứ của ông. Theo tác giả chuyên nghiệp t́nh báo về cuộc chiến Việt Nam, James J. Wirtz, viết trong sách “Tổng công kích Tết: Sự thất bại của t́nh báo trong chiến tranh” (The Tet Offensive: Intelligence Failure in War) th́ t́nh báo Mỹ đă biết trước cuộc tổng công kích nầy từ tháng 11 năm 1967, nhưng chưa xác định được ngày giờ đích xác.  Sự thất bại của t́nh báo Mỹ bắt nguồn từ sự thất bại của t́nh báo Việt Nam, mặc dầu đă biết trước sự cố từ hơn 3 tháng trước.

Sự đại ngôn thái quá của LT trong lĩnh vực t́nh báo đă gây tác dụng ngược cho các chi tiết về những nhân vật và hoàn cảnh mà ông đă đưa ra với dụng ư chứng minh, phân loại và phê phán theo quan điểm tố cộng cực đoan và bất nhất riêng của ḿnh.  Mức độ đáng tin cậy về tính chất thiện, ác; chánh, tà của người và việc trong BĐMT cũng theo sự thổi phồng sai sự thật đó mà rơi xuống mức độ thấp nhất, hay trong nhiều trường hợp đă bị hiểu ngược lại.  Chào mừng LT đến Sacramento, tôi chỉ muốn nhắc với người anh em đồng hương, đồng tuổi, thuộc ḍng dơi quư tộc triều Nguyễn rằng, bản chất của t́nh báo là sự thông minh (intelligence) chứ chẳng phải là ngược lại.

 

Trả lời và câu hỏi.

 

Như đă xác định theo tiêu đề của bài viết, đây chỉ là đôi điều góp ư ngắn gọn.  Muốn phân tích và chia sẻ cho thấu t́nh đạt lư về vấn đề BĐMT với LT th́ ít nhất cũng cần vài ba trăm trang như có người đă viết, v́ nó liên quan đến quá nhiều nhân vật, nhiều sự cố đă thành cố sự.  Do đó, tôi chỉ đi thẳng vào trọng tâm của vài ba vấn đề tiêu biểu.

Trước hết là vấn đề Phật giáo với cộng sản. Phật giáo Việt Nam (PGVN) – nói chung chứ không phải là giáo hội PGVN thân chính quyền đang hiện diện trong nước – cơ bản theo tinh thần Đại Thừa.  Đạo Phật đi vào cuộc đời hiện thực nên có sự tương tác tùy duyên giữa đạo và đời; đời và đạo.  Tinh thần nhập thế của đạo Phật Việt Nam đă được thể hiện hài ḥa từ thời Lư Trần.  Vua Trần Nhân Tông là một thiền sư.  Nhưng khi cần, vua cũng cầm quân ra trận đánh tan quân xâm lược Mông Nguyên. Khi thanh b́nh trở lại, vua treo kiếm, coi chuyện công danh như đôi dép bỏ, lên Trúc Lâm Yên Tử tu hành giác ngộ.  Đạo Phật Việt Nam uyển chuyển như một ḍng sông; đi song song với ḍng lịch sử dân tộc nên phải chảy qua những chặng đường quanh co, khúc khuỷu theo vận nước thăng trầm.  Nh́n đạo Phật mà chỉ nh́n vào một giai đoạn, một bộ phái, một tổ chức hay một phong trào riêng lẻ nằm trong toàn thể sinh hoạt Phật giáo, rồi vội vàng kết luận đạo Phật như thế này, như thế kia… là nh́n biển qua sóng, nh́n sông qua bèo; nên có nh́n mà không thấy!

Khi Việt Minh (tiền thân CSVN) dấy lên phong trào toàn quốc chống Pháp vào mùa Thu năm 1945, những người Việt Nam yêu nước không phân biệt khuynh hướng, thành phần, giai cấp xă hội đều lên đường tham gia kháng chiến.  Lịch sử c̣n ghi lại những h́nh ảnh cảm động của xóm đạo Tha La.  Tuy đạo Thiên Chúa chịu nhiều ân nghĩa với Pháp, nhưng năm 1946, thanh niên xứ đạo Tha La bỏ ruộng vườn, xóm đạo lại đằng sau; Linh mục Nguyễn Bá Kính cũng cởi áo lên đường cứu nước.  PGVN với lịch sử gắn liền với vận nước nên nhiều nhà sư từ Bắc chí Nam cũng đă tham gia những phong trào cứu quốc nên đă bị Pháp gọi là “Giặc Thầy Chùa”!

Sau thời kỳ Việt Minh trở thành CSVN th́ sự hệ lụy giữa tôn giáo và chính trị kéo dài khi nổi, khi ch́m; nhưng chưa bao giờ đạo Phật quay lưng với đất nước và dân tộc.

Trong BĐMT, LT đă nh́n thấy cộng sản khắp nơi.  Điều nầy đúng. Khắp miền Nam, từ phủ tổng thống đến các nha, sở, bộ; trường học, chùa chiền, tu viện; thậm chí tư thất, tư dinh đều có cộng sản len lỏi vào. LT chọn bối cảnh cho “biến động miền Trung” bằng cách cắt một mảnh cuối cùng trong cuộc chiến Việt Nam từ 1963 đến 1975.  Nghĩa là từ khi có phong trào tranh đấu Phật giáo và Ngô triều bị sụp đổ cho đến khi CSVN chiếm hết miền Nam. 

Nội dung và chủ đích chính của LT và cái “Think Tank” (bồn trí tuệ) sau lưng ông là trang hoàng, sơn phết, làm đầy cho một cái khung định kiến đă đúc sẵn.  Cái khung khép lại chỉ đơn giản như thế nầy:

Phật giáo + Cộng sản = Đảo chánh nhà Ngô + Mất miền Nam

Đó là… cứu cánh của cách đặt vấn đề trong BĐMT.  Mọi phương tiện dầu đúng, dầu sai, dầu hay, dầu dở đều là phương kế khả thi nếu nó phục vụ cho cứu cánh đă đặt định.  Điều khó hiểu nhất đối với một người đọc trung b́nh là có chăng trăm ngh́n sự kiện mâu thuẫn và cách hành xử nghịch lư như những điều LT đă diễn tả trong BĐMT đă thực sự diễn ra tại miền Nam?  Những thắc mắc chính đáng của độc giả đă thể hiện qua những câu hỏi cụ thể, đại khái như:   Tại sao một trưởng ty cảnh sát nhỏ bé như LT lại có quyền lực khắp nơi, khắp chốn như vậy?  Tại sao một nhân viên cấp tỉnh như LT lại có uy quyền trên cả hàng tổng, bộ trưởng?  Tại sao một hệ thống quân giai có kỷ cương như quân lực VNCH lại để cho một viên thiếu tá địa phương như LT có quyền hành xử tùy tiện và bất chấp như thế?  Chỉ có một trong hai bên đúng:  Hoặc là giới lănh đạo quân đội và dân sự miền Nam hoàn toàn vắng bóng; hoặc là LT nói sai sự thật.  Nói cường điệu quá đà toàn những chuyện không thật th́ người Huế gọi đó là nói “phách tấu !”  Mà lẽ nào người Hoàng phái như LT lại đi nói điều phách tấu?!

Có thể nói những tiết mục hấp dẫn nhất trong BĐMT là những màn “t́nh báo nổi”.  Trong kỹ thuật t́nh báo kinh điển có nói đến phần nhận diện nhân dáng và quan sát tang vật hiện trường như một nghệ thuật “warm up” (hâm nóng) ban đầu để đo lường phản ứng của nhân vật; chuẩn bị tinh thần cho một tiến tŕnh tra vấn tiếp theo. Nhưng không biết LT đă tốt nghiệp ở trường t́nh báo nào mà thường khi lẫn lộn giữa kỹ thuật nhận diện với tiểu xảo coi tướng của các ông thầy bói xem gị gà xứ Huế theo kiểu xếp bộ “mắt trắng môi thâm”, “tai dơi mặt chuột”… để sơ kết bản chất của những nhân vật mà ông sắp sửa kết án (nhưng chưa chắc đă thấy bao giờ).  Cũng theo nguyên tắc t́nh báo quốc tế th́ sự lẫn lộn giữa định kiến, cảm tính và lư tính sẽ “nullification” (vô hiệu) kết quả điều tra.

Trong số nhiều khuôn mặt được ông đưa ra tố cộng trong BĐMT, có hai nhân vật Phật giáo được LT chiếu cố tận t́nh nhất là thầy Trí Quang và thầy Đôn Hậu.

Gần nửa thế kỷ trôi qua, nhưng nhân vật Thích Trí Quang vẫn c̣n là một đối tượng tham khảo và phân tích của các học viện chính trị, nhân chủng và xă hội quốc tế, nhất là ở Mỹ.  Mọi sự suy diễn đơn giản và phiến diện về nhân vật nầy là một trường hợp “nullification” dữ kiện đáng tiếc mà tôi đă có dịp nói ở trên.

Gần 30 năm trước, lúc mới chân ướt chân ráo đến Mỹ th́ tôi đă đọc một bài viết xuất phát từ vùng Tiểu Sài G̣n nói rằng, thầy Trí Quang là trung tá Việt cộng. Ngày CSVN chiếm Sài G̣n, thầy mang lon đội mũ trung tá cầm cờ chạy rông ngoài đường phố hoan hô quân miền Bắc. Tin tức kiểu tiếu lâm AVT đó, nay mới nghe lại LT lập lại trong BĐMT!  Không có ǵ thú vị và “xả hơi” hơn khi đọc về nhân vật Thích Trí Quang qua màn t́nh báo LT.  Nguồn tin t́nh báo LT cho rằng, thầy Trí Quang là đảng viên cộng sản.  Rằng, thầy là cộng sản gộc, nhận chỉ thị trung ương Đảng đứng ra sách động phong trào đấu tranh Phật giáo. Đi xa hơn nữa, LT c̣n viết là thầy Trí Quang có người yêu già nhân ngăi non vợ chồng là một cô bé làm thị giả 13 tuổi. Có lư nào LT là cháu của danh tăng Thích Tịnh Khiết lại hiểu tổ chức Phật giáo Huế có tiếng về giới luật khắt khe, nghiêm ngặt một cách quá nông nổi và sai lạc đến như thế.  Trong tổ chức Phật giáo làm sao lại có chuyện tréo cẳng ngỗng “thị giả” nữ 13 tuổi bên cạnh một thượng tọa là thế nào?  Chưa hết, LT c̣n kể là ông đă căi lệnh tướng tư lệnh cảnh sát Nguyễn Ngọc Loan, vào lục soát pḥng riêng của thầy Trí Quang và t́m thấy một bằng chứng hùng hồn cho sự nghiệp t́nh báo của ông là một cái x́ líp đàn bà.  Tưởng tượng vượt quá giới hạn đạo lư sẽ trở thành vô luân.

Thầy Trí Quang là một tu sĩ nổi bật trong cuộc đấu tranh Phật giáo 1963. Thầy được (hay bị?) báo chí Âu Mỹ và Việt Nam khai thác triệt để; h́nh thầy xuất hiện trên trang đầu của những tờ báo lớn như Time, FP với những lời b́nh luận nóng hổi. Đa số những bài viết đều có một điểm chung khá tương tự về khuynh hướng Dân Tộc của thấy Trí Quang:  Không lệch theo con đường duy vật vô thần của khối Cộng sản; mà cũng chẳng nghiêng về con đường duy linh nhất thần của khối Tư bản.  Thầy đứng giữa “hai lằn đạn”.  Bên tả cho thầy là CIA, bên hữu cho thầy là Cộng sản.

Biến động 1966 phát xuất từ nguồn gốc là người Mỹ đă chuyển hướng biến Miền Nam thành kho súng đạn sau khi xoa tay bức tử triều đại Ngô Đ́nh. Mỹ không muốn mất thời gian tái tổ chức một xă hội miền Nam theo mẩu mă dân sự ổn định như Hoa Kỳ mà nóng ḷng muốn dứt điểm cuộc chiến Việt Nam để ôm Trung Quốc bằng cách quân đội hóa toàn miền Nam.  Mỹ là chuyên viên dựng lên những chính quyền quân sự ở các nước chậm tiến và bất ổn như một sự dằn mặt giới lănh đạo đương quyền do Mỹ hỗ trợ rằng, hăy khôn hồn, đảo chánh và lật đổ có thể xảy ra bất cứ lúc nào.  Tại sao một miền Nam đang đối đầu với một đối thủ có bộ máy chính trị quá chặt chẽ như miền Bắc mà đồng minh Hoa Kỳ lại áp dụng một sách lược “ăn xổi ở th́” như vậy?   Những chính khách miền Nam chống cộng không nằm trong guồng máy hành chánh quân sự đều có chung mối quan ngại như thế.

Thầy Trí Quang và một số các nhà sư Phật giáo đă đứng lên đ̣i hỏi một hiến pháp và một sách lược mới thích hợp cho chính thể VNCH ổn định và có thực lực tại miền Nam trong thời điểm 1966 là đi ngược lại sách lược của Mỹ đang triển khai tại vùng châu Á Thái B́nh Dương.  Đồng thời, CSVNcũng thấy được nguy cơ của một miền Nam ổn định. Trong lúc đó, Kissinger đang đi đêm thương thuyết với Bắc Kinh và thuyết phục nội các Johnson bỏ rơi miền Nam. Vô h́nh chung,  nhân vật Trí Quang trở thành đối đầu cùng lúc với cả Mỹ lẫn CSVN. Và khi Mỹ đă bật đèn xanh với túi đô la lè kè bên cạnh th́ dẫu cho họ có muốn sông cạn núi ṃn trong chớp mắt cũng chẳng có ǵ là khó.  Đă có quá nhiều tài liệu công bố nói rằng, Mỹ đă cho nhân vật Trí Quang một trong ba sự chọn lựa là:  Im lặng bó tay vào chùa dịch kinh niệm Phật, lưu vong sang Hoa Kỳ hay về thăm… cụ Diệm (?!)

Trong suốt 40 năm qua, thầy Trí Quang sống yên lặng trong chùa, “thủ khẩu như b́nh, thủ ư như thành”.  Tất cả về thầy Trí Quang sau 1975 mà tôi được biết là hai tác phẩm dịch thuật.  Một là bản dịch kinh Kim Cương, 263 trang, do Mai Lan Lệ Ấn hải ngoại ấn hành năm 1987.  Hai là bản dịch kinh Diệu Pháp Liên Hoa, 1162 trang, cùng nhà xuất bản năm 1996.

Nhân vật thứ hai được LT mang ra tŕnh làng là thầy Đôn Hậu.  Hành tung và sự nghiệp của thầy được LT mô tả trong BĐMT thảy đều là “Việt cộng toàn ṛn”.  Rốt lại c̣n “dễ sợ” hơn là thầy Trí Quang!

Ông Đỗ Trung Hiếu, bí danh Mười Anh, người Quảng trị, đảng viên cộng sản thâm niên, được Đảng giao làm công tác Tôn giáo vận, một thời là kiến trúc sư Phật giáo Nhà nước đă khách quan nhận định rằng, thầy Đôn Hậu bị phe Cách mạng cưỡng ép đưa lên núi sau vụ Tết Mậu Thân ở Huế và đem ra Hà Nội trong thời gian chiến tranh, gán cho chức Ủy viên Cố vấn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng ḥa miền Nam; năm 1976 là đại biểu Quốc hội khóa 6 và Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc. Nhưng một thời gian sau, để phản đối việc chính quyền cộng sản đàn áp Phật giáo ở miền Nam, thầy Đôn Hậu đă công khai bằng văn thư từ bỏ hết mọi danh vị và chức tước bị gán nói trên. Thầy cực lực chống đối việc thống nhất Phật giáo thành Phật Giáo Việt Nam (thường gọi là Phật giáo Nhà Nước hay Phật giáo Quốc doanh) để làm công cụ chính trị cho đảng Cộng sản. Thầy giữ vững lập trường này cho đến ngày viên tịch (23.4.92). Ư hướng của thầy đă biến thành hành động cụ thể. Cuối đời, thầy Đôn Hậu đă phó thác ấn tín lănh đạo Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (PGVNTN) lại cho thầy Huyền Quang

Trong truyền thống Phật giáo, truyền y bát cho nhân vật lănh đạo kế thừa đồng nghĩa với sự phó thác tâm phúc nhất niềm tin và lư tưởng vào sự nghiệp hành đạo độ sanh của người kế vị. Với ư nghĩa đó, tưởng cũng nên khách quan t́m lại những nét tiêu biểu nhất về chí hướng của nhân vật thừa kế thầy Đôn Hậu trong PGVNTN. Trong cao trào kháng chiến chống Pháp năm 1945, như tôi đă lược tŕnh ở trên, thầy Huyền Quang tham gia Phật Giáo Cứu Quốc Liên Khu 5 trong những ngày đầu của cao trào yêu nước chống ngoại xâm.  Năm 1951, thầy bị Việt Minh lúc bấy giờ đă biến tướng thành CSVN bắt giam lỏng 4 năm v́ phản kháng quyết định độc đoán biến Phật giáo thành hội đoàn của cộng sản.  Năm 1963, thầy Huyền Quang là tổng thư kư của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo, làm việc trực tiếp với Uỷ Ban Liên Bộ của chính phủ tổng thống Ngô Đ́nh Diệm. Năm 1977, thầy Huyền Quang bị CSVN bắt biệt giam cùng với các thầy Thiện Minh và thầy Quảng Độ.  Năm 1992, sau khi được sự phó thác của thầy Đôn Hậu trở thành người lănh đạo kế nhiệm của PGVNTN, thầy Huyền Quang đă viết yêu sách 9 điểm, nêu lên những sai lầm của nhà cầm quyền và yêu cầu nhà nước CSVN phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng.  Kết quả là thầy đă bị CSVN quản chế cho đến ngày viên tịch (5-7-2008).  Ngoài ra, những tu sĩ Phật giáo ở vị thế lănh đạo khác trong phong trào đấu tranh Phật giáo mà LT cho là do cộng sản dựng lên cũng đă bị CSVN ngược đăi, giam cầm như:  Thầy Thiện Minh (chết bí mật năm 1978 sau thời gian bị giam cầm). Thầy Quảng Độ, thầy Đức Nhuận cũng bị tù tội triền miên.

Một nhà văn nào đó đă kêu lên: “Trong cảnh tranh tối tranh sáng nầy, anh em nh́n rơ mặt nhau thật khó!” Nh́n rơ nhau đă khó, phán xét đúng càng khó hơn.

 

Đôi điều với Liên Thành

 

Sau 35 năm im lặng, khi LT lên tiếng để xác nhận sự hiện diện của ḿnh nơi đất khách th́ tiếng nói của ông cũng đă lạc hậu mất 30 năm!  Những ngày đầu sau 1975, người dân miền Nam hầu hết đều ngỡ ngàng trước thực tế. Câu hỏi lớn nhất vẫn là tại sao quân lực VNCH với phương tiện thủy, lục, không quân c̣n nguyên vẹn lại phải bị bức tử bỏ cuộc?

Khi ra nước ngoài, những thư viện lưu trữ tài liệu về chiến tranh Việt Nam phần lớn nghiêm túc và đáng tin cậy trong các trường đại học Mỹ mà tôi đă theo học và giảng dạy; kết hợp với phương tiện truyền thông đại chúng tại các nước tự do Âu Mỹ về Việt Nam phong phú đă giúp tôi t́m hiểu sự thật nên xin được bày tỏ sự bất đồng hoàn toàn với những điều mang tính “hồi ức” và suy diễn theo cảm tính bốc đồng của LT trong BĐMT. Sự kiện lịch sử đă nói lên quá rơ rằng, đồng minh Hoa Kỳ đă bỏ miền Nam v́ quyền lợi của chính đất nước họ với đối tác mới Mỹ-Trung; cũng như trước đó, họ đă quyết định thay ngựa giữa ḍng với chính quyền tổng thống Ngô Đ́nh Diệm.  Mỹ đă thực hiện rốt ráo nguyên tắc chi phối chính trị của họ trên toàn thế giới:  Ai làm chủ túi tiền, người đó là vua.  Chiến tranh và chính trị cũng chỉ là một h́nh thức “thương vụ” quốc tế.  Có lời th́ tiếp tục kinh doanh mà thua lỗ th́ dẹp tiệm.  Khi Mỹ đă quyết định th́ họ đóng vai nguyên nhân, tất cả c̣n lại chỉ là nguyên cớ.

Trước khi phong trào tranh đấu Phật giáo phát khởi tại Huế th́ Mỹ đă quyết định thay chính quyền tổng thống Ngô Đ́nh Diệm v́ tâm huyết sâu sắc, ḷng yêu nước đậm cốt cách liêm khiết Nho phong và cách dùng người nhân hậu của Cụ đă bị nịnh thần và phản thần chuyên quyền lợi dụng.  Nhất là ở miền Trung, tham vọng quyền lực và vật chất của thế lực gian thần ngày càng tác oai tác quái đă làm mờ đi chính nghĩa của cụ Ngô.  Niềm tin khô cạn, nhân tâm ly tán.  Thực trạng nầy làm chậm bước tiến chinh phục ảnh hưởng toàn vùng châu Á Thái B́nh Dương của Hoa Kỳ nên sự thay thế lănh đạo là điều không tránh khỏi. Khi đèn xanh đèn đỏ của phú ông chi tiền đă chớp th́ nếu không có phong trào Phật giáo nầy, cũng sẽ có vô số những phong trào tương tự khác, mang biển hiệu và màu sắc khác rộ lên.

Ngày 29-3-1973, cả miền Nam có bóng dáng ông sư bà vải nào lên tiếng đâu, thế  mà Mỹ vẫn đơn phương hoàn toàn rút quân ra khỏi Việt Nam.  Nguyên nhân ở tận Washington DC và Bắc Kinh chứ không phải ở Huế, Sài G̣n hay nằm trong đống hồ sơ vụn vặt của một ông trưởng ty tỉnh lẻ như Liên Thành.  Trâu ḅ đại khánh, ruồi muỗi đánh nhau.  Thảm trạng của thân phận nhược tiểu xưa nay là thế.

Hoặc v́ không đầu tư học hỏi nghiêm túc, không chịu tham khảo tới nơi tới chốn; hoặc v́ một động cơ khó hiểu hay dễ dăi nào khác đă khiến LT đang đứng ở ngă tư thế giới nhưng vẫn tưởng như c̣n đang đứng ở Ngă Ba Bánh Bèo xứ Huế “mô rứa răng ri, thích chi noái nấy” qua 400 trang của BĐMT! V́ không dụng công, LT đă nh́n Phật giáo qua nhăn quan một chiều, qua sự hiểu biết giới hạn và qua nhận thức đóng khung của một viên cảnh sát trưởng địa phương.  LT đă mang định kiến xào trộn với mớ hồ sơ vi cảnh và cái gọi là “t́nh báo” đầy hoang tưởng để cột buộc Phật giáo với cộng sản.

Hồi kư của những nhân vật trùm cuộc chiến Việt Nam, có đủ kiến văn, dữ liệu và thẩm quyền để nói như McNamara (viết trong In Retrospect), Kissinger (trong Diplomacy), Rusk (trong As I saw It), Nolting (trong From Trust to Tragedy)… Hay gần gũi với thế giới người Việt hơn là các hồi kư của hơn 20 nhân vật người Việt đă từng ở vị thế lănh đạo trong cuộc chiến và thời kỳ cận đại, từ cựu hoàng Bảo Đại (Con Rồng Việt Nam) viết về thời kỳ 1913-1987; đến tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cố vấn cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, (Khi Đồng Minh Tháo Chạy) viết về giai đoạn Mỹ tham chiến ở Việt Nam cho đến năm 1975 là những tư liệu lịch sử và chính trị đáng tham khảo.  Thế nhưng khi viết về những sự kiện có liên quan đến thời kỳ biến động trong cuộc chiến và phong trào Phật giáo thời 1963 vẫn c̣n nhiều dè dặt và giới hạn.  Tác giả cũng như độc giả khi được phỏng vấn, đều có chung sự suy nghĩ rằng, những h́nh ảnh và chứng liệu cụ thể nặng tính dữ kiện và sử liệu khoa học vẫn c̣n chưa đủ tầm cỡ để nhận định và đánh giá chân xác, khách quan về bối cảnh và nhân vật liên quan đến những cuộc biến động miền Trung.  Mớ tài liệu nhếch nhác chạy giặc mang theo, tầm hiểu biết hạn chế, vị trí nhỏ bé và hồi ức tuổi già của LT đă đưa ông đến chỗ can đảm một cách thảm hại không đúng thời, đúng chỗ, đúng đối tượng đă làm cho độc giả, ngay cả những chiến hữu một thời thân cận nhất của LT, thất vọng.

Đây chưa phải là bài điểm sách và cũng chẳng phải là bài phản hồi nghiêm túc tương xứng với vấn đề đặt ra mà chỉ là đôi điều góp ư.

            Cũng xuất thân là một người con trai đàn ông Huế như Liên Thành, điều góp ư gần gũi nhất là những ǵ liên quan đến quê hương xứ sở ḿnh.  Huế nghèo nhưng thanh bạch.  Thanh bạch trong cách sống và trong lời nói.  Người bốn phương yêu Huế v́ cái phong cách Huế mà đặc biệt là sự tao nhă, tính văn hóa và dáng vẻ khiêm cung trong ngôn ngữ.  Rất tiếc là LT rời Huế quá sớm nên không chứng kiến được sự dị ứng và trăn trở của Huế sau ngày miến Bắc thắng trận.  Đó là khi một thiểu số thành phần xuất thân giữ trâu, giữ ḅ vô học trở thành người chiến thắng, có chút thế lực trong tay ngông nghênh dùng lời lẽ hạ cấp bất xứng với người thất thế.  Những người này đă gọi là “thằng”, là “hắn” là “lũ” là tên nầy tên nọ tuốt luốt như: “Thằng Thiệu, thằng Kỳ, thằng Mỹ, thằng Ngụy…” với những người đáng tuổi cha ông của ḿnh ở miền Nam bị liệt vào thành phần Mỹ, Ngụy; ngược lại th́ cũng tương tự như những người mà LT liệt vào thành phần cộng sản trong BĐMT.  Loại ngôn ngữ hằn học, thô lỗ, thiếu văn hóa đó đă bị không những Huế mà tất cả người miền Nam khinh bỉ và lên án.  Dẫu có ngoan cố bào chữa cách nào cũng không ai chấp nhận nên cuối cùng họ phải bỏ đi.  Tôi hơi ngỡ ngàng khi bắt gặp loại ngôn ngữ thô bạo này trong BĐMT mà LT đă dành cho bất cứ ai, kể cả thầy dạy học cũ của ḿnh, các vị tu sĩ Phật giáo cao niên, những nhân vật lớn nhỏ mà ông đă quy kết là cộng sản, theo cộng, hay thân cộng.  Xuất thân là một sĩ quan, một sinh viên đại học Huế, một người Hoàng phái danh gia tử đệ mà vô t́nh ông Liên Thành đă dẫm lên vết chân của những người thuộc thành phần thấp kém từ Bắc mới vô Nam năm 1975 th́ quả là điều xót xa và đáng tiếc! Qua Mỹ đă hơn 30 năm và đă từng làm trong nghề an ninh trật tự xă hội, ông LT cũng hiểu ít nhiều về nguyên tắc luật lệ và trật tự của một xă hội có văn hóa và văn minh: Dẫu là người phạm tội rành rành nhưng chưa có phán quyết của ṭa án th́ vẫn c̣n là nghi can.  Nhưng cho dẫu là tội phạm chăng nữa th́ cũng phải đối xử công bằng và nhân bản. Lẽ nào LT không biết hay quên?!

            Được hân hạnh đón LT về thăm vùng đất tỵ nạn của ḿnh đă sống trong hơn hai chục năm qua, tôi chỉ ước mong những người cùng thế hệ, cùng chịu chung nỗi vinh nhục của quê hương gặp nhau, nh́n nhau và thấy được nhau.

Là một Phật tử độc lập, tôi chỉ biết theo giáo lư nhà Phật để tự giáo hóa chính ḿnh t́m sự an lạc như phần đông các Phật tử xuất gia và tại gia khác.  Có thêm được chỗ dựa tinh thần và năng lực hóa độ của tăng ni đạo cao đức trọng vẫn là ân đức mong t́m của người Phật tử.  Cho nên tôi vẫn thường lập đi lập lại hoài như một lời tâm niệm về h́nh ảnh đạo Phật là một biển thái ḥa an lạc.  Nước của trăm nguồn đổ về biển cả, dẫu cho trong sạch hay dơ bẩn đến mức độ nào th́ cuối cùng cũng được hóa giải.  Trên đường t́m cầu học hỏi, chúng tôi không ngây thơ cho rằng, tất cả tăng ni qua h́nh tướng đầu tṛn áo vuông đều là thánh tăng hay chân tăng.  Nhất là trong thời đại “kinh tế thị trường” vàng thau lẫn lộn nầy th́ nh́n rơ chân tướng của nhau thật khó.  Ai không an trú trong giới luật, sẽ thọ lănh nghiệp quả của ḿnh.  Tiền thân của đức Phật là bồ tát Thường Bất Khinh.  Gặp bất cứ ai, ngài cũng cất một lời khiêm tốn: “Thưa ngài, tôi không dám coi nhẹ ngài v́ ngài là một đức Phật tương lai!”  Nhân danh là những nguời Phật tử, chúng ta có thể nói với nhau một lời đơn giản mà sâu dày như thế được chăng.

                                                                                   

Sacramento, cuối Thu 2009

 

Trần Kiêm Đoàn

www.Trankiemdoan.net

 

 

 

 

bút luận

 

trankiemdoan.net