Khái Niệm Về Vốn Xă Hội

Trần Kiêm Đoàn

 

Khi nói về vốn liếng, người ta thường nghĩ ngay đến những giá trị vật chất cụ thể mà người sở hữu có thể nh́n thấy, cất giữ hay cân, đo, đong, đếm được.  Những giá trị phi vật thể, đặc biệt là những giá trị tinh thần tạo nên bản sắc đặc thù của một quốc gia, một xă hội, một ḍng họ hay một con người được coi như những “bẩm tính trời sinh”, bị ch́m khuất sau biên cương và hào lũy truyền đời của lịch sử và văn hóa. 

            Từ trong nếp nghĩ theo thói quen và cảm tính, VXH thường bị xem hay được xem là một hệ thống giá trị mặc nhiên (taking for granted value system), mỗi người sinh ra là đă có nó như khí trời, thiên nhiên cây cỏ.  Thật ra, nguồn vốn to lớn và quan trọng bậc nhất là Vốn Xă Hội (VXH).  Trong cụm từ “Vốn Xă Hội” đă ngầm chứa hai thành tố là: Vốn (capital) + Xă Hội (social).

Vậy th́ Vốn Xă Hội là ǵ và ai là sở hữu chủ của nguồn vốn đă bén rễ, đâm chồi nẩy lộc lâu dài và phong phú đó?

Vốn Xă Hội là một thực tại đă có chung ḍng lịch sử với đất nước và con người từ thuở sơ khai.  Nhưng người ta đă gọi nguồn vốn nầy theo những khái niệm và từ ngữ khác nhau.

Khái niệm về “Vốn Xă Hội” xưa nhất của người Việt Nam xuất hiện trong câu chuyện dân gian là chuyện Thằng Bờm. Giá trị của “có” (thằng Bờm) và “đổi” (phú ông) trong câu chuyện nầy căn cứ trên nguồn “vốn” th́ mờ nhạt mà đậm nét nhất chính là cuộc trao đổi nặng tính chất tâm lư và xă hội giữa hai nhân vật có quan hệ mua bán và trao đổi là Phú Ông và Thằng Bờm. Cái quạt mo chỉ là biểu tượng của vật chất.  Thằng Bờm mới chính là biểu tượng của xă hội và khát vọng cụ thể của con người trong xă hội đó.

Với phương Tây, khái niệm “vốn xă hội” (social capital) được Lyda Judson Hanifan, một nhà giáo dục Mỹ,  nói đến lần đầu tiên năm 1916 khi ông ta bàn đến vấn đề quan hệ trong các trường ốc ở vùng thôn dă tại Bắc Mỹ.  Để nói về vốn xă hội, ông xác  định rằng: “ những giá trị hiện thực đó có tác dụng lên hầu hết cuộc sống hàng ngày của con người” (those tangible substance [that] count for most in the daily lives of people).

Từ đó, vấn đề vốn xă hội đă được nhắc nhở, nghiên cứu, phát triển và áp dụng một cách có hệ thống và rộng khắp trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, xă hội, tâm lư… tại Mỹ, các nước phương Tây và các quốc gia kỹ nghệ trên toàn thế giới. Năm 1961, Jane Jacob phân tích và thảo luận về vốn xă hội trong mối tương quan của đời sống ở thành phố.  Năm 1983, Pierre Bourdieu soạn hẳn ra một lư thuyết riêng về VXH.  James S. Coleman phát triển lư thuyết thành một nội dung giáo dục về nguồn vốn xă hội.  Ư tưởng nầy đă được một tổ chức tài chính lớn nhất hành tinh là Ngân Hàng Thế Giới sử dụng như một ư kiến rất hữu ích về mặt tổ chức.  Ngân Hàng Thế Giới xác định rằng: “ bằng chứng mỗi ngày một nhiều chỉ rơ rằng, sự liên kết xă hội là rất thiết yếu cho các xă hội trong việc làm giàu mạnh kinh tế và cho việc phát triển tiến lên không ngừng”. (Increasing evidence shows that social cohesion is critical for societies to prosper economically and for development to be sustainable (World Bank 1999) ”.

Trong khi vốn vật chất (physical capital) nói đến các vật thể hiện hữu và vốn nhân sinh (human capital) nói đến tài sản cá nhân th́ vốn xă hội nói đến liên hệ nối kết giữa những con người. Đấy là mạng lưới xă hội với những tiêu chuẩn giao dịch qua lại trong sự tin tưởng lẫn nhau và đồng thời đó cũng là đạo lư cư xử giữa người và người trong xă hội.  Theo định nghĩa của Ngân Hàng Thế Giới th́ vốn xă hội là những ǵ liên quan đến các cơ sở, các mối quan hệ và những giá trị truyền thống.  Tất cả cùng hợp sức tạo nên chất lượng và số lượng của thành phẩm làm nên bởi sự tương giao hợp tác trong xă hội… Vốn xă hội không phải chỉ đơn thuần là sự tổng hợp những khối lượng vật chất của xă hội mà là chất keo làm dính chặt những khối lượng tài sản xă hội nầy lại với nhau.

Nói một cách cụ thể hơn về vốn xă hội, Cohen và Prusak (2001) định nghĩa: “Vốn xă hội bao gồm phần lớn sự hợp tác xây dựng giữa những con người với nhau:  Sự tin tưởng, sự hiểu biết lẫn nhau, và sự chia sẻ những giá trị đạo đức, phong cách nối kết những thành viên trong các tập đoàn, các cộng đồng lại với nhau làm cho việc phối hợp hành động có khả năng thực hiện được”.

Như vậy, vốn xă hội chính là con người.  Trong khi con người lại chính là sản phẩm của một hoàn cảnh xă hội hiện hữu và phát triển trong một hoàn cảnh kinh tế, một bối cảnh lịch sử, một truyền thống văn hóa cụ thể nào đó.

 

Nh́n về Vốn Xă Hội Việt Nam

Ngày 24 tháng 4 năm 2006 vừa qua, Bill Gates, chủ nhân công ty Microsoft và cũng là người giàu nhất thế giới với gia tài xấp xỉ 53 tỷ đô la Mỹ, đến thăm Việt Nam.  Nhân vật nầy đă được giới trẻ Việt Nam cả nước đặc biệt quan tâm theo dơi.  Đă có người tự hỏi: “Nếu Bill Gates sinh ra tại Việt Nam hay một nơi nào đó không phải là Mỹ th́ liệu một ‘Bill Gates hạt giống’ có khả năng trở thành một Bill Gates thành công lẫy lừng như hôm nay không?  Tuy đây chỉ là câu hỏi giả định, nhưng câu trả lời dĩ nhiên là “không!” và câu hỏi tiếp sẽ là “Tại sao?” Câu trả lời đơn giản nhất sẽ là: “V́ Mỹ khác, ta khác.  Mỹ có nhiều phương tiện kinh doanh và điều kiện thuận lợi nghiên cứu kỹ thuật và tham khảo thị trường mà ta không có...”  Thế th́ có người lại hỏi, một nhân vật Mỹ nổi tiếng khác cũng đă đến thăm Việt Nam, cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton, có một người em trai cùng cha khác mẹ, lớn lên trong cùng một mái ấm gia đ́nh, suưt soát tuổi nhau là Roger Clinton lại trở thành một tay lêu lổng, bị tù tội v́ ghiền x́ ke, ma túy.  Như vậy có hai Clintons trái ngược nhau trong cùng một hoàn cảnh.  Clinton anh là vốn xă hội đáng quư và Clinton em là cục nợ xă hội đáng thương hại.

Trên đây là thí dụ cụ thể về mối tương quan và sự tác động qua lại giữa con người và hoàn cảnh.  Đây là cả một sự tương tác về cả ba mặt: Vật chất, tinh thần, hoàn cảnh riêng, chung.  Bởi vậy, phương pháp luận cũng như dữ kiện về các mặt nhân sinh và môi trường xă hội thường là những đối tượng rất phức tạp trong việc đo lường hay phân tích nguồn vốn xă hội.

Các nhà nghiên cứu phải lưu ư đến ba định mức của vốn xă hội: (1) Mức độ vốn xă hội vi mô (micro-level social capital), (2) mức độ vốn xă hội trung mô (Meso-level social capital), và (3) mức độ vốn xă hội vĩ mô (macro-level social capital).  Ba định mức nầy liên quan đến: (1) Cá nhân, (2) gia đ́nh, trường học, cơ quan, đoàn thể, xí nghiệp, và (3) xă hội, đất nước và toàn cầu.  Mối liên hệ hữu cơ là: (1) Nếu cá nhân không được chuẩn bị kỹ càng; (2) nếu nghiệp vụ không được đào tạo, huấn luyện nghiêm túc; (3) kết quả sẽ tạo ra là những thành viên xă hội có chất lượng nghèo nàn và hệ quả tất yếu là sẽ làm cho nguồn vốn xă hội suy thoái hay khánh tận.

Công tŕnh nghiên cứu về vốn xă hội gần đây nhất của Robert D. Putnam (1993; 2000) nhấn mạnh về sự hợp tác hai chiều và nhiều chiều của các thành viên trong xă hội.  Ông cho rằng sự hợp tác và chia sẻ giữa các thành viên xă hội với nhau là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc xây dựng vốn xă hội.  Từ đó, Putnam cũng báo động nguy cơ về sự xuống dốc của nguồn vốn xă hội tại Mỹ.  Nguyên nhân chính là v́ chủ nghĩa cá nhân (individualism) ngày một chiếm thế mạnh và trẻ em chỉ sống với cha hay mẹ một ḿnh do t́nh trạng ly dị gia tăng làm cho tinh thần hợp tác xă hội yếu dần.

Nh́n lại vốn xă hội Việt Nam, cảm nhận tức thời trước khi đưa lên bàn cân tính toán là nước ta và dân ta có một nguồn vốn xă hội phong phú được tích lũy qua “bốn ngh́n năm văn hiến”.  Nếu đem các tiêu chí điển h́nh nhất của khái niệm vốn xă hội cơ bản như truyền thống đạo lư, phong cách xử sự hợp tác làm ăn nghiêm túc, đáng tin cậy, giàu tinh thần hợp tác và chia sẻ, có tay nghề vững vàng trong lĩnh vực chuyên môn… th́ đất nước và con người Việt Nam xưa nay không thiếu.   Nguồn vốn xă hội Việt Nam, do đó, sẽ rất nhiều.  Nếu không có nguồn vốn xă hội giàu có làm căn bản cho sự sống c̣n và vươn lên của đất nước và con người Việt Nam th́ có lẽ nước Việt Nam đă bị đồng hóa hay biến mất giữa những thế lực xâm lăng cường bạo đến từ mọi phía trong những ngh́n năm qua.  Nhưng nếu xin tạm gác lại niềm tự hào dân tộc để nh́n vào thực tiễn cuộc sống của dân ta trong ḍng sinh mệnh của đất nước và trong bối cảnh lịch sử thế giới th́ ta thấy được những ǵ?

Phải chăng nguồn vốn xă hội của Việt Nam trong bao nhiêu năm qua đă được tận dụng đem làm vũ khí chống xâm lăng?  Nguồn vốn quan trọng đó bây giờ đang cạn kiệt hay vẫn c̣n dự trữ tràn đầy dưới dạng tiềm năng?

Căn bản để tạo ra nguồn vốn xă hội là con người.  Phẩm chất của con người Việt Nam không thua sút bất cứ dân tộc nào trong cùng hoàn cảnh địa dư và lịch sử. Trong những trường đại học Mỹ mà người viết bài nầy có dịp giảng dạy, sự thể hiện rất rơ ràng là sinh viên Việt Nam, thuộc cả hai thế hệ trẻ từ quê nhà sang du học hay sinh ra và lớn lên tại Mỹ đều không thua kém mảy may sinh viên của bất cứ nước nào, nhất là đối với sinh viên châu Á như Nhật, Trung Quốc, Đại Hàn, Singapore…  Thế nhưng trong thực tế đất nước, về mặt chuyên môn và khả năng khai phá, sáng tạo trong khoa học, kỹ thuật để tạo ra những sản phẩm kỹ nghệ hiện đại, chúng ta vẫn c̣n bị giới hạn và tụt hậu so với họ?  Vốn xă hội hiện nay của đất nước ta có đủ phẩm chất và lượng dự trữ để đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường hay không?  Đấy vẫn c̣n là những vấn đề cần được nghiên cứu một cách khách quan và khoa học mới có thể t́m ra câu trả lời thích đáng.

 

Kết Luận

Vốn xă hội là một khái niệm tương đối c̣n mới mẽ trong sinh hoạt kinh tế đậm tính truyền thống và kế thừa của người Việt chúng ta.  Khi nói về nguồn vốn, người ta quen nói đến nguồn vốn vật chất hữu h́nh và cụ thể (tangible). C̣n nguồn vốn xă hội là một giá trị phi vật thể (intangible) nên người ta mơ hồ thấy nó “ở đâu đó” qua những biểu hiện “tài năng” cá nhân có tính chất tiểu xảo và tiểu thương theo kiểu: “nói dẽo quẹo như mẹo con buôn…”!  Lenkowsky (2000) đă chứng minh rằng xă hội càng kém phát triển, sức mạnh kinh tế càng yếu th́ nguồn vốn xă hội càng dễ bị quên lăng.  Nguồn vốn xă hội là một tiến tŕnh h́nh thành và đầu tư lâu dài chứ không xuất hiện cụ thể và nhanh chóng trong đời sống như “ḿ ăn liền”.  Tuy nhiên, Putnam cũng đưa ra một “kính chiếu yêu” để nh́n vào và nhận biết những vùng đang có nguồn vốn xă hội cao hơn… khi “những nơi công cộng sạch sẽ hơn, con người thân thiện, đáng tin cậy hơn, và đường sá an toàn hơn.

Sự phát triển kinh tế thường đi song song với sự cải thiện đời sống về mặt vật chất.  Nhưng một vùng đất nào đó rất giàu có về vật chất thuần túy mà thiếu vắng vốn xă hội.  Nghĩa là thiếu đi chiều sâu văn hóa và chiều cao nhân văn th́ đấy cũng chỉ là một h́nh thức phồn vinh thô thiển mà người xưa gọi là “trọc phú” (thanh bần hơn trọc phú) hay theo mắt nh́n của quần chúng b́nh dân là “giàu mà không sang”.  H́nh ảnh của những vùng đất giàu vốn vật chất mà nghèo vốn xă hội thường xuất hiện trong những vùng kinh tế “nước nổi”. Nếu có dịp ghé đến những vùng kinh tế quanh các khu quân sự, hầm mơ hay hảng xưởng khai thác kinh doanh tạm thời ở Phi Luật Tân, Panama, Trung đông, Nam Phi… sẽ thấy rơ h́nh ảnh “giàu mà không sang” nầy xuất hiện nhan nhản.  Theo Sennett, R. (1998) th́ “Dấu hiệu báo động đầu tiên của sự suy thoái nguồn vốn xă hội là số người phát giàu mà không làm ǵ cả hay kiếm lợi bất chính một cách công khai càng lúc càng đông và khoảng cách giữa những người nghèo lương thiện và những người giàu gian manh mỗi ngày một lớn”.

Các nhà nghiên cứu về nguồn vốn xă hội trong tương quan kinh tế đều đồng ư với nhau rằng, một nền kinh tế lành mạnh trong một đất nước có kỷ cương và văn hiến không thể nào thiếu vắng nguồn vốn xă hội.  Friedland (2003) đă nêu dẫn trường hợp các nước châu Mỹ La Tinh và sự èo uột của vốn xă hội.  Giới lănh đạo và thân hào nhân sĩ trong vùng thường vinh danh tinh thần địa phương và ḷng tự hào nhân chủng một cách quá bảo thủ và cực đoan đến độ lơ là không quan tâm đúng mức đến sự un đúc, nuôi dưỡng và phát triển nguồn vốn xă hội.  Hậu quả là sự thiếu hợp tác giữa những thành viên xă hội và các thế lực đầu tư đă đưa đến quan hệ một chiều và dẫn đến chỗ vốn xă hội bị phá sản.  Các nhà kinh doanh đầu tư nản ḷng lui bước.  Thay v́ hợp tác song phương trong tinh thần ngay thẳng, b́nh đẳng và danh dự th́ lại biến tướng thành quan hệ “đút” (bribe) và “đớp” (being bribed) trong mối quan hệ bệnh hoạn của hối lộ và tham nhũng.  Kết quả là hơn một thế kỷ qua, các nước nghèo vẫn nghèo.  Dân chúng vẫn lầm than; nền kinh tế các nước trong vùng rất giàu tài nguyên nhưng vẫn kiệt quệ v́ giới tài phiệt sử dụng nhân lực và tài nguyên đất nước để làm giàu cho riêng cá nhân, gia đ́nh và ḍng họ của ḿnh rồi t́m cách chuyển tiền của và gửi con cháu của ḿnh ra nước ngoài du học và lập nghiệp.

 Kẻ thù dai dẳng nhất của quá tŕnh tích lũy, phát triển nguồn vốn xă hội là tham nhũng.  Bởi vậy, vốn xă hội và tham nhũng có mối quan hệ nghịch chiều với nhau:  Nạn tham nhũng càng bành trướng, vốn xă hội càng co lại.  Khi tham nhũng trở thành “đạo hành xử” hàng ngày th́ cũng là lúc vốn xă hội đang trên đà phá sản.

Nếu chỉ có ánh sáng mới có khả năng quét sạch hay đuổi dần bóng tối th́ cũng  Tương tự như thế, vốn xă hội được tích lũy càng cao, nạn tham nhũng càng có hy vọng bị đẩy lùi dần vào quá khứ.

Thử nh́n lại vốn xă hội Việt Nam trong tương quan nguồn vốn xă hội của thế giới, chúng ta mới thấy rơ được đâu là thế mạnh và thế yếu của ḿnh.  Nh́n rơ ḿnh không phải để thỏa măn hay nản ḷng dễ dăi nhất thời mà để cầu tiến bộ; để sửa đổi và điều chỉnh kịp thời trước sự đ̣i hỏi như một xu thế tất yếu của thời đại toàn cầu hóa. Sẽ không bao giờ muộn màng, cũng như chẳng bao giờ quá sớm để gây vốn xă hội, v́ vốn xă hội là xương sống của đời sống kinh tế và nhân văn cho đất nước hôm nay và cho thế hệ đàn em mai sau.

                                                                                     

Sacramento, Xuân 2006

 

Website: Trankiemdoan.net

Email: Doantran@sbcglobal.net