Trần Kiêm Đoàn


 

PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI  NHÂN SINH VŨ TRỤ

Tác giả : Lê Sỹ Minh Tùng

 

Đối với Phật giáo, vũ trụ được sanh ra như thế nào, con người bắt đầu từ đâu không có ǵ quan trọng v́ tất cả chỉ là thế giới hiện tượng có sinh có diệt. Khi Đức Phật c̣n tại thế, một hôm Tỳ kheo Man Đồng Tử đặt ra những câu hỏi siêu h́nh để hỏi Thế Tôn rằng :

- Bạch Thế Tôn! Thế giới thường hằng hay không thường hằng, hữu hạn hay vô hạn, linh hồn với thân xác là một hay là khác. Chính Như Lai tồn tại hay không tồn tại sau khi chết… Ông yêu cầu Phật trả lời cho thật rơ ràng tất cả 16 vấn đề mang tính siêu h́nh này. Nếu Thế Tôn thấy và biết th́ nói thấy và biết. Nếu không, trả lời là không. Nếu các vấn đề này không được giải thích thỏa măn, ông ta cảnh báo sẽ từ bỏ phạm hạnh này, sẽ không theo Phật nữa.

Đức Phật điềm nhiên im lặng. Sự im lặng của Đức Phật cũng giống như ông Duy Ma Cật im lặng khi được hỏi thế nào là nhập pháp môn không hai (Nguyên lư Bất Nhị). Đối với đạo Phật, chân lư không thể diễn bày bằng ngôn ngữ văn tự của con người và chỉ khi nào chúng sinh tự ḿnh nghiệm chứng chân lư th́ tự ḿnh thấu biết. C̣n đối với thế giới hiện tượng có sanh có diệt, cho dù ngày nay khoa học cố t́m ṭi nghiên cứu để t́m định lư này hay định luật nọ th́ cũng vẫn c̣n nằm trong ṿng lẫn quẫn sinh diệt, chớ đâu phải là chân lư. Sự hiểu biết của Đức Phật ḥa đồng với chân lư của vũ trụ bởi v́ chân lư của vũ trụ và tâm thanh tịnh của Ngài đă ḥa đồng trở thành một nên bao la vô cùng vô tận th́ làm sao nói hết được. Những ǵ Ngài thuyết cho chúng sinh chỉ là những lá cây nằm trong bàn tay để giúp con người có phương tiện cần thiết tu học để vượt qua phiền năo trần lao, c̣n những ǵ Như Lai biết th́ bao la như biển rộng, như biết bao chiếc lá trong rừng già. Nói cách khác vũ trụ vạn hữu bao la như thế nào th́ Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na tức là trí tuệ của Phật cũng bao la như thế ấy. Tuy trí tuệ rộng như biển cả, nhưng Ngài không nói được v́ có nói chúng sinh cũng chẳng hiểu nào, chỉ là vô ích. Thí dụ như vào thời nhà Nguyễn, ông Nguyễn Trường Tộ đi kinh sứ ở Pháp về tŕnh lại với vua quan là ở bên Pháp bóng đèn treo ngược mà vẫn cháy sáng. Tuy ông có giải thích cách mấy th́ chẳng có ai tin mà c̣n mang tội vọng ngữ, khi quân. Đó là tại sao tuy thuyết pháp độ sanh ṛng suốt 49 năm mà sau cùng Ngài nói ta chưa hề nói một chữ cho nên nếu nói Như Lai có thuyết pháp là phỉ báng Như Lai vậy. Thật vậy, trí tuệ của Phật ví như nước trong bốn biển, bao la vô cùng vô tận. C̣n những kinh điển Ngài nói rất giới hạn chẳng khác ǵ nước trong dấu chân trâu. V́ vậy nếu nói Phật thuyết th́ chẳng khác ǵ nói rằng trí tuệ của Phật chỉ nhỏ hẹp như nước trong dấu chân trâu chớ không c̣n bao la như trong bốn biển. Nói thế nếu không phỉ báng Phật th́ là ǵ.

Phật giáo đối với nhân sinh quan và vũ trụ quan tức là thế giới hữu vi có một giải thích rất rơ ràng v́ tất cả chỉ là những hiện tượng trong pháp giới duyên khởi. Đứng về mặt hiện tượng vạn hữu th́ duyên khởi là pháp tắc phổ biến về tính nhân quả. Tất cả mọi pháp tồn tại đều là duyên khởi chẳng hạn to lớn như trăng sao hoặc nhỏ như vi trần, một cành hoa, một cọng cỏ không có pháp nào không là pháp duyên khởi. Đó là “Tất cả các pháp nương gá tác động làm nhân làm quả tức là mọi vật thể có được là do trùng trùng duyên khởi mà thành”. Nói theo danh từ khoa học là các chủng tử phải trải qua biết bao phản ứng hóa học mới kết thành vật chất mà chúng ta thấy được. Tuy vậy thế giới vũ trụ vạn hữu từ vô thỉ vô chung vô cùng vô cực này cũng không ngoàiCăn, Trần và Thức. Nếu đứng về phương diện “tục đế” mà nh́n thế gian hiện tượng vạn hữu qua cái thuyết “nhơn duyên sanh” th́ hoàn toàn đúng. Không những nó đúng riêng cho nền giáo lư Phật mà nó đúng với sự thật của cuộc đời, đúng với quy luật khách quan của tất cả hiện tượng vạn hữu. Tuy nhiên, nếu đứng về phương diện “chơn đế” mà quan sát để có thể thấy biết bằng tri kiến rộng răi hơn, xuyên suốt bản thể của mọi hiện tượng vạn hữu th́ “hiện tương nào cũng là hiện tượng của bản thể và không có bản thể nào ngoài hiện tượng cả”. Cũng như sóng biển nhấp nhô là nước và thể tánh yên lặng êm đềm ở dưới ḷng đại dương cũng là nước, bất khả phân ly. Phật giáo phủ nhận có một đấng thiêng liêng nào ở ngoài có đủ tư cách sáng tạo, sắp xếp vấn đề nhân sinh vũ trụ. Trọng tâm của đạo Phật là diệt khổ để có an vui tự tại cho nên toàn bộ giáo lư của Đức Phật không ngoài mục đích hướng dẫn chúng sinh quay về sống với chơn tâm, Phật tánh của chính họ để có sự an lạc, thanh tịnh trong đời nầy. Đây mới chính là bản thể chân như của vạn pháp. Do đó khi nói về thế giới vô vi thanh tịnh, Đức Phật dạy rằng : ”Phi nhơn duyên, phi tự nhiên, phi ḥa, phi hợp, pháp nhĩ như thị” nghĩa là thật tánh vạn pháp chẳng do nhân duyên, cũng chẳng tự nhiên sanh, cái này ḥa hợp với cái khác cũng không đúng mà thật ra vạn pháp sinh ra như thế nào th́ phải thấy biết như thế ấy. Khác với khoa học là nghiên cứu t́m ṭi ngoại cảnh, Phật giáo chỉ chủ trương quay về bên trong, trở về với “bản lai diện mục” tức là con người thật của chính ḿnh. Nói cách khác, khoa học có thể được ví như một ngọn đèn chói tỏa khắp mọi nơi, trong khi đó ánh sáng huyền diệu của đạo Phật như một tia laser chuyên hội tụ vào một điểm mà thôi.

Thí dụ, khoa học ngày nay mới khám phá vũ trụ có được là do một vụ nổ lớn từ một vi tử (The Big Bang Theory) khoảng 13.7 tỷ năm về trước và từ đó những dăy Thiên Hà được tạo dựng. Trước năm 1913 vũ trụ đối với khoa học chỉ vỏn vẹn có dăy Ngân Hà (The Milky Way). Măi sau khi Edwin Hubble đo được khoảng cách của dăy Thiên Hà Andromeda khoảng 900,000 năm ánh sáng th́ vũ trụ mới được hiểu là do sự tạo thành của rất nhiều dăy Thiên Hà khác chớ không nhất thiết chỉ có dăy Ngân Hà mà thôi. Nhưng măi đến năm 1965 tại pḥng thí nghiệm của hảng điện thoại Bell, hai nhà khoa học Arno Penzias và Robert Dicke thuộc đại học Princeton vô t́nh khám phá những năng lượng rơi rớt lại trong không gian sau vụ nổ lớn 13.7 tỷ năm về trước và từ đó họ đưa ra thuyết “The Big Bang”. Hiện nay vũ trụ vẫn c̣n nằm trong thời kỳ nới rộng cho đến khi tất cả những hành tinh nóng như mặt trời…đốt cháy hoàn toàn những nhiên liệu như Hydrogen, Helium…và lúc đó vũ trụ sẽ ch́m vào bóng tối, băng giá. Sau đó vũ trụ sẽ thu trở lại thành vi tử như lúc ban đầu. Hiện tượng này gọi là The Big Crunch. V́ có nước và không khí nên sinh vật phát triển trên trái đất và con người hiện diện khoảng một triệu năm. Dựa theo thuyết tương đối của Einstein, khi vũ trụ nới rộng nghĩa là không gian được dăn nở trong mọi chiều th́ các dăy Thiên Hà sẽ nguội dần nếu nó càng ở xa. Nhưng trên thực tế, khoa học ngày nay xác định là tuy có hàng tỷ dăy Thiên Hà cách xa trái đất mà nhiệt độ của chúng vẫn như nhau, không nguội dần như thuyết tương đối của nhà bác học Einstein. Thế th́ thuyết “The Big Bang” làm sao đúng được? Khoa học không thể giải thích hiện tượng này nên bị bế tắt trong khoảng một thời gian dài cho đến khi Alan Guth, hiện là giáo sư của đại học kỷ thuật nổi tiếng MIT (Massachusetts Institute of Technology) ở Boston đưa ra thuyết “The Inflationary Universe” nghĩa là sự tăng trưởng theo lối lạm phát của vũ trụ. Dựa theo thuyết này th́ khi vũ trụ nổ tung từ một vi tử cực nhỏ với sự tăng trưởng rất nhanh với tỷ số cực lớn là 1050 (Mười lũy thừa 50) . Đây được gọi là sự tăng trưởng lạm phát của vũ trụ. Sau đó quang năng, năng lượng và những vật thể nguội dần cho đến khi vũ trụ dăn nở đến mức tối đa. Đến thời điểm này, nhiệt độ của vũ trụ tự nhiên tăng lên và cuối cùng tất cả những dăy Thiên Hà cũng từ từ nguội dần dựa theo tiến tŕnh nới rộng như ngày nay cho nên tất cả các dăy Thiên Hà có nhiệt độ gần giống như nhau. Mặc dầu Einstein đă khám phá thuyết lượng tử và thuyết tương đối lúc ông ta c̣n trẻ, nhưng suốt quảng đời c̣n lại ông hoạt động không ngừng mà vẫn không t́m ra một công thức vật lư cho vũ trụ được.

Ở đây chúng tôi mạn phép xin được giới thiệu đến quư vị một cách tóm gọn tiến tŕnh khám phá mới nhất của khoa học về nhân sinh vũ trụ để thấy rằng tuy khoa học có tiến bộ cách mấy, có phát minh những máy móc rất tinh vi th́ những khám phá của họ vẫn nằm trong ṿng tương đối sinh diệt bởi v́ tất cả những khám phá đó đều là “thuyết” chớ không phải là “chân lư”. Mà đă là thuyết th́ nay đúng mai sai, có ǵ bảo đảm. Thuyết là giả huyễn, sinh diệt, chân lư mới là sự thật vĩnh hằng, là Bản Thể tuyệt đối. Thí dụ, ngay cả nhà bác học nổi tiếng Einstein cũng tính sai, đoán lầm về vũ trụ. Ông ta cho rằng vũ trụ đang ở trạng thái quân b́nh, không tăng không giảm. Nhưng thật ra hiện giờ vũ trụ đang ở trong trạng thái nới rộng chớ đâu có quân b́nh. Ngược lại những ǵ mà Đức Phật chứng là chân lư chớ không phải luận thuyết. Chân lư là cái đúng ở mọi thời gian và không gian. Mà muốn nghiệm chứng được chân lư th́ chỉ có một con đường duy nhất là tự ḿnh tu chứng để nghiệm biết chớ không thể dùng ngôn ngữ văn tự của con người mà diễn giải ra được. Nói cách khác không có một phương tŕnh vật lư hay một định lư toán học nào có thể diễn tả được chân lư cả.

Khác hẳn với những tôn giáo lớn khác trên thế giới đă cột chặt con người vào những giáo điều cứng ngắc để thọ lănh những thưởng phạt bất công, đạo Phật luôn khuyến khích chúng sinh tự ḿnh chứng ngộ chân lư, tự ḿnh thể nghiệm Niết bàn, tự ḿnh có được giải thoát giác ngộ mà đạo Phật chỉ là con đường, là phương tiện, là cỗ xe để giúp chúng sinh đạt đến những cứu cánh tối thượng này. Vũ trụ là thế giới sinh diệt, bản tâm mới chính là thế giới bất tử. Đó là tại sao Đức Phật lặng thinh khi Tỳ kheo Man Đồng Tử hỏi Ngài về thế giới siêu h́nh. Không phải là Ngài không biết, không thể trả lời, nhưng đó không phải là cứu cánh để có giải thoát giác ngộ mà chỉ làm tăng trưởng phiền năo vô minh. Giả sử Đức Phật giải thích thế giới vũ trụ bắt đầu và thành h́nh như thế đó th́ làm sao kiểm chứng được? Do vậy lời giải thích đó là chân thật hay chỉ là ảo thuyết? Nếu nói mà không thể chứng minh th́ nói ǵ chả được, nhưng một người giác ngộ th́ tuyệt đối không không bao giờ nói sai chân lư. Thí dụ cả mấy ngàn năm nay con người lầm lẫn cho rằng có chú cuội chị Hằng sống hạnh phúc sung sướng trên mặt trăng cho đến khi phi hành gia Armstrong đặt chân lên mặt trăng mà có thấy chú cuội chị Hằng đâu. Do đó thay v́ trả lời những câu hỏi siêu h́nh của tôn giả Man Đồng Tử, Đức Phật kể cho ông ta nghe câu chuyện một người bị mũi tên độc. Đối với Phật giáo khi thấy một người bị nhiễm tên độc th́ vấn đề cấp thiết là giải phẩu để giải độc ngay mà cứu sống họ. C̣n vấn đề t́m cho ra ngọn ngành mũi tên và người bắn mũi tên th́ không quan trọng. Bởi v́ nếu không lo cứu chữa, th́ người trúng tên độc sẽ chết trước khi biết được tông tích của hung thủ. Do đó vấn đề cấp thiết của con người và cũng là trọng tâm của đạo Phật là nhỗ mũi tên “khổ đau” chớ không phải đi t́m những câu trả lời cho các vấn đề siêu h́nh không thiết thực.

Vào thời Đức Phật c̣n tại thế có một ẩn sĩ Bà-la-môn khi gặp ngài Xá Lợi Phất liền hỏi :

- Niết bàn, Niết bàn, này ông bạn Xá Lợi Phất xin cho biết đó là cái ǵ vậy?

Tôn giả Xá Lợi Phất bèn trả lời :

- Sự tiêu diệt ḷng tham muốn, sự tiêu diệt ḷng nóng giận hận thù, sự tiêu diệt ḷng si mê sai lạc là cái mà con người gọi là Niết bàn.

Khi nói về Niết bàn, chính Đức Phật cũng dạy thêm rằng :

- Nếu chúng sinh nào đă từ bỏ thú vui và tham muốn, đă đầy đủ trí tuệ th́ họ đă đạt đến sự giải thoát sinh tử, sự tịch tĩnh, đă đạt đến Niết bàn tức là nơi an dưỡng thường tồn, vĩnh cửu ngay ở trong cơi đời nầy.

Như vậy, Niết bàn không phải là một cơi, một cảnh, một tâm trạng và dĩ nhiên Niết bàn cũng không phải là cái hư vô. Rơ ràng Niết bàn không thể dùng văn tự ngôn ngữ của con người để diễn tả, vậy Niết bàn thật sự có hay không có?

Trong kinh Na Tiên Tỳ Kheo, Ngài Na Tiên đă trả lời câu hỏi tương tự như thế của vua Milinda rằng :

- Tâu Hoàng thượng, thật sự có Niết bàn và Niết bàn chỉ có thể lấy trí mà nhận biết. Nếu chúng sinh giữ được tâm thanh tịnh và chánh trực, thoát khỏi các nghiệp chướng và thoát khỏi được các tham muốn thấp hèn th́ chính họ sẽ thấy được Niết bàn.

Nhà vua xin cho một thí dụ.

Ngài Na Tiên lại tiếp :

- Hoàng thượng biết một cái gọi là gió, nhưng Hoàng thượng có biết gió màu sắc ǵ, h́nh dáng ra sao, nó dày hay mỏng, dài hay ngắn?

Nhà vua đáp :

- Gió th́ vô h́nh vô sắc làm sao chỉ được. Tuy không chỉ được, nhưng nó vẫn có.

Bây giờ Tỳ Kheo Na Tiên mới kết luận :

- Cũng thế, tâu Hoàng thượng, Niết bàn là cái thật sự có mà không thể dùng văn tự ngôn ngữ để diễn tả cho con người thấy được h́nh sắc của nó.

Thế th́ làm sao biết được Niết bàn, nhà vua lại hỏi.

- Nhờ sự thoát khỏi phiền năo, nghiệp chướng, nhờ sự an ổn, an lạc thanh tịnh th́ có được Niết bàn.
Rồi ngài Na Tiên lại tiếp :

- Như người té vào đống lửa ngùn ngụt, nếu họ cố gắng vượt ra khỏi và lên đựoc chỗ mát th́ người ấy sẽ cảm thấy sung suớng vô cùng. Cũng thế, người thoát khỏi lửa của tham, sân, si sẽ huởng cái sung sướng an tịch của Niết bàn. Cũng như người thoát ra khỏi những tâm niệm bất thiện, người ấy sẽ hưởng cái sung sướng Niết bàn. Và sau cùng những ai thoát khỏi cái lo sợ của sanh, lăo, bệnh, tử người ấy sẽ hưởng cái sung sướng Niết bàn.

Do đó đối với nhân sinh vũ trụ, Đức Phật dạy rằng tất cả hiện tượng đều là : ”Đương xứ xuất sanh, đương xứ diệt tận” nghĩa là sanh ra ngay từ nơi này và diệt mất cũng ngay nơi này. V́ thế, đối với Phật giáo, tâm thanh tịnh mới là cứu cánh v́ khi có được tâm thanh tịnh, chúng sinh sẽ nghiệm chứng chân tướng của vạn pháp. Mà chân tướng là vô h́nh vô sắc th́ làm sao mà giải thích được. V́ thế Vĩnh Gia đại sư trong Chứng Đạo Ca có câu :

Mộng lư minh minh hữu lạc thú
Giác hậu không không vô đại thiên

Tạm dịch :

Trong mộng, sáu đường vằng vặc có
Giác rồi, tam giới rỗng toang hoang.

Ngày xưa, trước khi quy y theo Phật, Mă Minh là một luận sư danh tiếng. V́ nghe tiếng của Hiếp Tôn giả nên t́m đến thách thức luận chiến và đánh cuộc bằng chính thủ cấp của ḿnh. Mă Minh đưa ra đề tài tranh luận rằng:”Tất cả ngôn ngữ đều có thể bị phủ định” nghĩa là cái ǵ nói ra được th́ có chỗ sai lầm. Nghe xong Hiếp Tôn giả im lặng. Mă Minh thấy Hiếp Tôn giả không trả lời được cho rằng ḿnh thắng nên sinh tâm kiêu mạn mà cho rằng Hiếp Tôn giả chỉ là hư danh, không phá nổi luận điểm của ḿnh. Một thời gian sau, Mă Minh nghiệm biết sự sai lầm của ḿnh v́ câu nói của Mă Minh tự nó đă bị phủ định rồi. Y như giao ước, Mă Minh t́m đến để giao thủ cấp cho Hiếp Tôn giả. Nhưng Hiếp Tôn giả bây giờ mới nói : ”Tôi không cần cắt thủ cấp của ông, mà chỉ cần cắt tóc của ông thôi”. Từ đó, Mă Minh tôn Hiếp Tôn giả làm thầy và về sau trở thành vị đại luận sư rất nổi tiếng của Đại thừa. Một lần nữa, văn tự ngôn ngữ không phải là chân lư v́ chúng là tương đối, sinh diệt.
Thiên Chúa giáo, Hồi giáo hay Tin lành chỉ tin có một Thượng đế duy nhất th́ gọi là nhất thần giáo. Trong khi đó, đạo Khổng hay đạo Lăo tin vào nhiều đấng thần linh nên những đạo này được gọi là đa thần giáo.

Ngược lại, đạo Phật không phải là nhất thần giáo, cũng chẳng là đa thần giáo mà cũng không phải là giáo điều chủ nghĩa tức là vị giáo chủ đưa ra bất cứ giáo điều ǵ cho dù đúng hay sai th́ tín đồ bắt buột răm rắp tuân theo. Chính Đức Phật đă khẳng định rằng :

“Ta không là Thượng đế, cũng không phải là thần linh, mà chỉ là một con người, nhưng con người đă chiến thắng thế gian”.

Đức Phật đă chiến thắng thế gian, nhưng Ngài không cần ngai vàng để ngự trị và cũng không cần thần dân để được tôn vinh. Ngài sống rất thảnh thơi với ba mảnh y và một b́nh bát, nhưng chiến thắng được tâm ḿnh để sống với chơn tánh mới là cái chiến thắng vĩ đại của bậc Đại giác, Đại hùng vậy. Chỉ sau khi Ngài nhập diệt, con người mới tôn thờ Ngài, sùng tín Ngài như các vị thần linh. Tóm lại, Đức Phật chỉ là một đạo sư, là ngọn đuốc tuệ để giúp chúng sinh nương theo đó mà t́m ra con đường sáng, con đường giải thoát giác ngộ cho chính ḿnh.
Để giải thích mối quan hệ giữa ḷng tin và trí tuệ, Đức Phật dạy rằng :

“Người có ḷng tin mà không có trí tuệ th́ thường làm tăng trưởng vô minh. Người có trí tuệ mà không có ḷng tin th́ thường làm tăng trưởng tà kiến”.

Trí tuệ ở đây cần được hiểu là năng lực suy xét và phán đoán mọi sự việc cho nên nếu trí tuệ không có ḷng tin vào Chánh pháp th́ người tu tập dễ rơi vào tà kiến, tăng trưởng tự cao, tự đại, luôn cố chấp không thấy được chỗ sai lầm của ḿnh. Ngược lại, người có ḷng tin vào Chánh pháp mà thiếu đi trí tuệ để nhận hiểu và phân biệt đứng đắn th́ dễ dàng lún sâu vào chỗ si mê, tăm tối, mê tín dị đoan. V́ thế mà trong Bát Chánh Đạo tức là tám con đường chân chính giúp chúng sinh chuyển cuộc sống từ phàm đến thánh chỉ có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định mà không hề có chánh tín. Đức Phật không phải là đấng thần linh nên Ngài không bắt buộc chúng sinh phải tin vào Ngài một cách tuyệt đối. Ngược lại, Đức Phật dạy chúng sinh phải tư duy quán chiếu, suy nghiệm những lời Phật dạy một cách khách quan, đứng đắn th́ mới có lợi ích cho ḿnh. Đức Phật muốn chúng sinh thấu hiểu chánh pháp để thấy biết đúng, suy nghĩ đúng mà có cuộc sống thanh b́nh an lạc th́ lúc đó con người đâu c̣n tin vào tà kiến, mê tín dị đoan. V́ thế hăy lắng nghe thông điệp của Đức Phật chính là con đường sống cao thượng của cuộc đời :

“Hăy tránh xa tất cả những hành động tội lỗi, trau dồi cuộc sống bằng những hành động tốt, thanh lọc tâm trí khỏi những ư nghĩ bất tịnh”.

Trước khi nhập diệt, Đức Phật dạy rằng:

“Các con là những hải đảo, những ngọn đuốc cho chính ḿnh. Hăy nương tựa vào chính ḿnh, không nương tựa vào nơi nào khác”.

Trong kinh Pháp Cú, Phật lại dạy thêm :

“Các con hăy tự thắp đuốc lên mà đi! Các con hăy lấy Pháp của ta làm đuốc! Hăy theo Pháp của ta mà tu giải thoát! Đừng t́m sự giải thoát ở một kẻ nào khác, đừng t́m sự giải thoát ở một nơi nào khác, ngoài các con”.

Và sau cùng Đức Phật dạy rằng :

“Các con hăy tự cố gắng, Như Lai chỉ là kẻ dẫn đường”.

Đạo Phật là tôn giáo duy nhất trên hoàn cầu xác định rằng cánh cửa thành công để đạt đến cứu cánh giải thoát giác ngộ phải mở rộng cho tất cả mọi người, từ nam nữ, lớn nhỏ, sang hèn, cao thấp, đạo đức hay tội lỗi. Nếu chúng sinh biết cải thiện đời sống trong sạch, hóa giải hết phiền năo vô minh th́ sẽ có được Bồ-đề, Niết bàn như Phật.

Từ xưa đến nay, lư trí và đức tin luôn chống đối với nhau. Lư trí th́ dùng lư luận và suy tư phát xuất từ kinh nghiệm và nhận xét, trong khi đức tin nằm trong phạm vi t́nh cảm, không thể suy luận, suy xét hay giảng giải được. Do đó những tôn giáo thần khải th́ đức tin là thượng đế cảm nhận bằng trái tim, không phải bằng lư trí. T́nh thương phát xuất bằng trái tim th́ dựa vào t́nh cảm nên rất thăng trầm v́ thế nó có lúc đúng, có lúc sai, có lúc thương có lúc ghét. Ngược lại ḷng từ bi phát xuất từ trí tuệ sáng suốt th́ dựa theo tinh thần khách quan b́nh đẳng, không thiên vị. Thêm nữa, đối với những tôn giáo thần khải th́ thần thông, phép lạ là quan trọng. Ngược lại Đức Phật coi đó là không đáng kể và không thích đáng bởi v́ điều quan trọng nhất vẫn là bồi dưỡng trí tuệ để có giải thoát giác ngộ. Đối với đạo Phật, những người có phép lạ không nhất thiết là bậc giác ngộ hay các bậc Thánh cho nên theo Đức Phật, thần thông phép lạ cao siêu nhất và huyền diệu nhất phải là làm sao biến một người ngu si thành một người khôn ngoan, trí tuệ.

Vậy đạo Phật có phải là một tôn giáo không?

Dựa theo lời giải thích của học giả H. G Wells th́ tôn giáo là trung tâm của giáo dục xác định luân lư phẩm hạnh của con người.

Triết gia Aldous Huxley định nghĩa tôn giáo như sau :

- Tôn giáo là một hệ thống giáo dục, bằng các phương tiện con người có thể tự ḿnh huấn luyện cho ḿnh. Trước hết là thay đổi cái ḿnh mong muốn cho đúng với nhân cách của ḿnh trong xă hội. Thứ hai là nâng cao lương tri và thiết lập quan hệ giữa con người và vũ trụ mà họ là một thành phần trong đó.

Thông thường tôn giáo luôn đi đôi với tín ngưỡng v́ thế tất cả những tôn giáo trên thế giới đều tin tưởng đấng thần linh này, đấng cứu rỗi nọ, ông trời ḿnh và ông trời người. Duy chỉ có Phật giáo là không tin vào thần linh, không tin vào thượng đế, không tin vào ai cả mà chỉ tin vào khả năng tự ḿnh có thể giải thoát ra khởi mọi hệ lụy của phiền năo vô minh cho chính ḿnh mà Đức Phật là người dẫn đường, là bậc toàn giác.

Đạo Phật khai mở một hệ tư tưởng triết học rất thâm thâu huyền diệu dựa vào tư tưởng tánh Không (Bát nhă) để dẫn dắt chúng sinh quán triệt thật tướng của vạn pháp chớ không nhất thiết chỉ thấy biết vạn pháp qua thế giới hiện tượng. Những lời dạy thâm sâu của Đức Phật để đưa tâm quy về một trạng thái tinh thần tĩnh lự và sáng suốt được nhiều người cho đó là tôn giáo, người khác lại cho là triết học hay tâm lư trị liệu. V́ vậy, khi đề cập đến thế giới bản thể và hiện tượng là một vấn đề rất quan trọng, một vấn đề mang tính triết học sâu xa, nếu con người nh́n nó qua lăng kính của triết học. Nhưng đối với Phật giáo, cho dù con người có gọi nó là tôn giáo, nền giáo dục, môn triết học hay là ǵ đi chăng nữa th́ điều đó chẳng có giá trị thêm bớt ǵ v́ lư luận là c̣n nằm trong ṿng lẩn quẩn của Nhị nguyên, của thế giới tương đối có sinh có diệt. Mà điều quan trọng hơn hết là những lời thuyết pháp của Đức Phật nhằm nói lên chân lư khách quan, nói lên cái nguyên thủy của sự h́nh thành và sự tồn tại khách quan của vũ trụ vạn hữu. Nhưng cho dù con người có lư luận dựa theo bất cứ khía cạnh, phương diện nào th́ có một điều chắc chắn mà mọi người đều đồng ư rằng Đức Phật không phải là đấng thần linh, đấng cứu rỗi mà Ngài chỉ là đấng toàn giác, là bậc thầy vĩ đại mà thôi.

V́ vậy, đạo Phật có thể được gọi là một tôn giáo không có tín ngưỡng. Tại sao lại không có tín ngưỡng?Bởi v́ đạo Phật là con đường giúp chúng sinh tự ḿnh thể nghiệm chân lư để có giải thoát giác ngộ mà không tin có một đấng Thượng đế, một đấng thần linh nào đó có thể ban vui cứu khổ hay cứu rỗi cho họ được. Mà muốn đạt đến cứu cánh tột đỉnh này, người đệ tử Phật bắt buộc phải có niềm tin. Nhưng niềm tin ở đây là tin vào lời dạy chân thật của Đức Phật là người đă thực chứng những chân lư nhiệm mầu bởi v́ lời dạy của Phật là : ”Như Lai thị chơn ngữ giả, thật ngữ giả, bất dị ngữ giả, bất cuống ngữ giả” nghĩa là lời nói của Phật là chân chính, là thành thật, không tráo trở và không bao giờ dối trá. Quan trọng hơn là người đệ tử Phật phải tin chính ḿnh có khả năng hóa giải, diệt trừ mọi vô minh phiền năo để đạt được tâm thanh tịnh mà có Niết bàn, có Bồ-đề cũng như chư Phật, chư Bồ-tát vậy. Đức Phật dạy chúng sinh phát triển những tiềm năng và nỗ lực của chính bản thân ḿnh để đạt đến trạng thái an lạc và hạnh phúc tuyệt đối Niết bàn. Do đó hạnh phúc hay khổ đau là do nơi con người chớ không tùy thuộc vào một đấng quyền năng tuyệt đối nào và Đức Phật chỉ là một bậc thầy hướng đạo.

Do đó nếu nói Thượng đế là đấng toàn năng toàn thiện th́ tại sao Ngài lại sáng tạo cái thế giới con người đầy dẫy tội lỗi đau thương? Tại sao Ngài tạo ra biết bao nhiêu cảnh tai trời ách nước, tàn phá, giết hại chúng sinh? Như thế th́ ḷng bác ái của Ngài ở đâu? Vậy sự cầu nguyện có làm bớt thiên tai, dịch họa, chiến tranh hay khổ đau của con người được không? V́ thế Phật giáo phủ nhận sự hiện hữu thần linh trong cuộc sống của con người. Theo tinh thần Phật giáo th́ chính con người phải tự ḿnh giải quyết những vấn đề như chiến tranh hay ḥa b́nh, hạnh phúc hay khổ đau của chính ḿnh. Chiến tranh hay ḥa b́nh là do con người quyết định chớ không dính dấp ǵ tới Phật trời cả. Nếu con người biết sống khoan dung độ lượng để biết thương yêu nhau th́ họ biến chiến tranh thành ḥa b́nh, ngược lại nếu các nhà lănh đạo chạy theo những tham vọng đen tối th́ từ ḥa b́nh thành chiến tranh giết chóc thế thôi. Thêm nữa, do sự chuyển động của trái đất, của núi lửa, của những cơn gió lốc…theo định luật vô thường : thành, trụ, hoại, không đă tác hại con người. Nói chung th́ đó cũng là do ḷng tham của con người phá hũy môi trường sống của chính ḿnh qua chiến tranh, qua những cuộc thí nghiệm nguyên tử, qua tàn phá thiên nhiên, đốt rừng tiêu hủy cây cối…tạo nên những ảnh hưởng dây chuyền nguy hiểm cho nhân sinh. Con người cũng v́ muốn thỏa măn ḷng tham mà đi ngược lại với thiên nhiên nên hàng ngày lấy lên từ ḷng đất, từ ḷng biển hàng triệu thứ từ kim cương đến vàng, bạc, nhôm, sắt, khí đốt, dầu hỏa rồi lại thải ra hàng triệu tấn chất độc tác hại gây ra lầm than qua thiên tai, động đất, sóng thần, bảo lụt, hạn hán…V́ thế con người không thể tin rằng có một Thần linh nào đó có thể nhẫn tâm trừng phạt, hủy diệt loài người và gây đau thương chết chóc tang tóc khắp mọi nơi. Khi liễu ngộ như thế con người không phải sợ hăi thần linh, tôn thờ thần linh, van vái và cầu xin ở thần linh nữa.

Tóm lại, đạo Phật không phải là đạo đổi chác, không phải là đạo ban bố phép mầu và cũng không phải là đạo hứa hẹn. Sự giải thoát giác ngộ hay sự an lạc thanh tịnh Niết bàn thật ra tự chúng sinh đem lại cho ḿnh chớ Phật không ban bố cho ai cả. V́ thế, tuy đạo Phật là đạo của từ bi, trí tuệ và ḷng dũng cảm, nhưng nếu con người không tin vào ḷng từ bi để thương yêu, ban vui cứu khổ để cứu giúp chúng sinh; vào khả năng phát triển trí tuệ để chứng đạt chân lư ngỏ hầu thấu biết được thật tướng nhân sinh vũ trụ và ḷng dũng cảm để vượt qua sóng gió chập chùng mà chiến thắng được vô minh phiền năo của ḿnh mà chỉ muốn cầu xin, van vái thần linh để có hạnh phúc th́ con đường họ đi chắc chắn “ không phải” là đạo Phật.

Lê Sỹ Minh Tùng




 

văn học nghệ thuật
bút luận

trang chính