Trần Kiêm Đoàn 

BẾN TẦM XUÂN

 

Xuân sanh, Hạ chín, Thu héo, Đông tàn.  Nếp nghĩ xuôi ḍng đang đi theo một con đường ṃn miên viễn như thế.  Bỗng có một vị sơn tăng – như thiền sư Măn Giác (1090) chẳng hạn – huơ tay, mỉm cười, tầm nh́n hướng ra ngơ vắng đầy sương, ánh mắt bắt gặp một cành mai hôm trước và kêu lên hồn nhiên:

 “Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai!”

   Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết,

   Hôm qua sân trước, một cành mai.

Tiếng chổi trong tâm của người quét lá sân chùa vọng lại:

   Đừng tưởng tuổi già răng rụng hết

   Bảy mươi c̣n mọc chiếc răng khôn.

Cái “tưởng” là một định kiến ước lệ, khô cằn; trong khi hiện thực là ḍng tươi mát, trôi chảy thường hằng.  Thiền sư và người quét lá sân chùa chẳng có ǵ khác nhau.  Chỉ có một lằn ranh chưa gặp.  Nhưng rồi có thể gặp nhau trong nháy mắt; một lúc nào đó sẽ gặp; hay không bao giờ gặp:  Tri giác và Tuệ giác.

 Mai nở sớm hay mai cũ của mùa Xuân năm trước là câu hỏi theo cái nh́n cảm giác đời thường.  Nhưng với sự tinh anh từ ánh mắt đang phóng nét nh́n lạnh cả hư không, về thế giới hư huyễn – mà chữ nghĩa nhà Phật thường gọi là “quán niệm vạn pháp vô thường” – th́ đó chẳng phải là cành mai mới cắt trong vườn nhà ở làng Hương Cần, vác qua Huế bán ở chợ hoa ngày Tết Thương Bạc mà là cành mai “thật”, cành mai tinh túy mang bản chất của mọi cành mai từ cổ sơ đến hôm nay và măi măi.

Dựa theo thơ của danh tăng Ashi Zumi, phái Tào động Nhật Bản th́ có thể nói như thế này:  Cắt một nhành mai h́nh tướng. Cắm vào b́nh thủy tinh. Có một cành mai thể tánh. Ẩn trong ḷng biển xanh.  Phải chăng như Mẹ là h́nh tướng mà T́nh Yêu cao tuyệt vô biên của mẹ cho con là thể tánh?  Mẹ không c̣n nữa, t́nh yêu của mẹ ẩn trong ḷng biển xanh.

Như ngày xưa, cụ nghè tam nguyên Yên đổ Nguyễn Khuyến cũng nh́n thấy: “Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái. Một tiếng trên không ngỗng nước nào?!” Nhưng đây là cái nh́n thông qua cảm xúc, tri giác.  Có người hỏi: “ Văn chương tự cổ vô bằng cớ.  Văn chương từ xưa là sản phẩm của cảm xúc nên không có bằng cớ ǵ cả. Vậy th́ căn cứ vào đâu để nói Nguyễn Khuyến không là một thiền sư như Măn Giác của hơn ngh́n năm trước?”  H́nh như chỉ có một sự khác nhau rất nhỏ.  “H́nh như” v́ bạn và ta, và cả vũ trụ vô biên nầy đều giả tạm, huống chi là một ḍng tư tưởng mơ hồ (?!). Thiền sư Măn Giác nh́n vạn sự qua nét nh́n tĩnh lặng mà như xoáy vào nhịp biến dịch thành trụ hoại không.  Cụ nghè Nguyễn Khuyến nh́n đối thể với sự hồ nghi chất vấn.  C̣n hồ nghi sẽ thiếu vắng một nụ cười tuệ giác.

Mấy chùm trước giậu “hoa năm ngoái” của Nguyễn Khuyến là h́nh tướng mà cành mai “đ́nh tiền tạc dạ” của Măn Giác là thể tánh.  Mai nở thông qua cái nh́n tuệ giác – Tuệ giác mùa Xuân.

Nụ cười, tuệ giác và mùa Xuân là ba khái niệm và ba h́nh ảnh riêng biệt.  Nhưng khi kết hợp và ḥa quyện vào nhau sẽ thành một nguồn vui trong mơ ước.  Nhân gian ai lại không thích nụ cười; ai mà chẳng muốn mùa Xuân.  Muốn hái nụ tầm Xuân và tắm bến tầm Xuân nhưng chẳng biết mặt mũi cái “nụ xanh biếc” hay cái bến vạn lư sơ xưa đó như thế nào và ở chốn nào.  T́m đâu cho gặp khi nó ở chính trong ta.  Nó là tiếng pháo khi vui, sương khói khi buồn, đóa hoa khi yêu và nỗi đau khi ghét.  Khi t́m nỗi ḷng trên sông núi th́ chính sông núi là nỗi ḷng.  Ngay khi hết một đời buồn vui, xuôi tay về đất; người ở lại th́ khóc bù lu bù loa, thế mà người ra đi vẫn muốn cười, tuy hơi làm biếng hả miệng:  Ngậm cười nơi chín suối!

Tôn giáo ra đời cũng chỉ v́ nhân gian thích nụ cười vĩnh cửu.  Tâm lư muốn lên Thiên Đàng, hay về Niết Bàn cũng chỉ v́… ham vui!  Một tâm thức không c̣n  ham vui là đă bị đóng băng trong khổ đau và phiền năo.  Mọi hồng ân cứu rỗi hay độ tŕ đều chẳng c̣n tác dụng ǵ lên sỏi đá.  Bởi vậy, những thế giới hứa hẹn của các tôn giáo sau khi chết mà không có những an lạc vĩnh hằng, yên nghỉ đời đời, chim trời ca hát, nhạc trời véo von, niềm vui vĩnh cửu, hoa thơm cỏ lạ bốn mùa th́ hết thảy những người thích cười sẽ “trả lại vé” đă mua với giá một đời tin cẩn, mong cầu niềm vui cho chuyến xe thổ… mộ cuối cùng!

Người theo đạo Phật thể hiện giấc “mơ vui” của ḿnh qua h́nh ảnh đức Phật Di Lặc.  Theo niềm tin và tín lư nhà Phật th́ có ba đời, mười phương Phật.  Có hằng hà sa số chư Phật trong ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai.  Thích Ca Mâu Ni là đức Phật của thời hiện tại trong cơi Diêm Phù Đề mà chúng ta đang ở.  Đức Phật tương lai của cơi người nầy sẽ là Phật Di Lặc (Maitreya: Gốc chữ Phạn Maitri, có nghĩa là từ bi, yên vui) là một vị đại bồ tát đang ngự ở cung trời Đâu Suất.  Nếu chỉ riêng Việt Nam ta cũng đă có gần cả trăm kiểu cười, cách cười và nụ cười khác nhau th́ thế giới cũng nh́n về biểu tượng yên vui của đức Phật Di Lặc qua nhiều dáng vẻ phong phú như thế.

Tuy đạo Phật có nhiều bộ phái và pháp môn khác nhau, nhưng h́nh ảnh Phật Di Lặc vẫn trở thành một ước vọng chung tràn đầy niềm vui và hạnh phúc ở chân trời tương lai.  Đức từ bi của Phật Di Lặc được biểu hiện qua nhiều h́nh tướng khác nhau, tương hợp với điều kiện và hoàn cảnh xă hội, bản chất con người và đặc tính văn hóa của từng xứ, từng vùng.

Qua những tượng đài và kinh văn Ấn Độ th́ Phật Di Lặc là hiện thân của từ bi và trí tuệ với dáng vẻ minh triết, trầm tư.  Với Tây Tạng, Tích Lan th́ Phật Di Lặc là hóa thân của sự tái sinh an lạc và huyền nhiệm với dáng vẻ đẹp đẽ cao cả và huyền bí.  Nhưng tới đất Trung Hoa th́ Phật Di Lặc là biểu trưng của sự hoan hỷ, phong phú, măn nguyện với nụ cười khoan khoái, sắc diện béo tṛn, thân đầy, bụng phệ,  lúc nào cũng sẵn ḷng dang tay đón nhận mọi người.  Dưới ảnh hưởng sâu rộng và lâu dài của kinh điển toàn bằng chữ Hán từ Trung Hoa du nhập vào nước ta (Hán tạng), h́nh tượng đức Phật Di Lặc ở Việt Nam vẫn chưa đạt được một bản sắc thuần Việt của tinh thần “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”. Cũng là Nụ Cười Di Lặc, nhưng bản chất văn hóa “cung hỷ phát tài” của Trung Quốc làm mất đi tính chất tuệ giác của nguồn suối mơ ước tâm linh.  Nhiều nơi lẫn lộn giữa Phật Di Lặc và ông Thần Tài.  Thậm chí, khi mang ảnh tượng đức Di Lặc của Việt Nam và Trung Quốc sang các nước Âu Mỹ th́ trở thành những ông Phật Mập (Fat Buddha), Phật Cười (Laughing Buddha), Phật Phát Tài (Lucky Buddha) hoặc những h́nh thức tương tự để trang trí quanh những bồn hoa, hồ cá ở vườn sau.

Từ bi là ḷng thương không mù quáng,  trí tuệ là sự hiểu biết không cực đoan và hoan hỷ là niềm vui không dung tục. Tuy nhiên, qua lăng kính Đại Thừa của Phật giáo Trung Hoa – được đâm chồi nẩy lộc trong khung cảnh xă hội nông nghiệp và buôn bán nhỏ, giữa hoàn cảnh văn hóa Khổng, Lăo và phiếm thần dân gian làm xương sống tâm linh – phật Di Lặc trở thành biểu tượng của sự hoan hỷ, sung măn, hạnh phúc mang tính phàm trần, thực dụng. V́ con người tạo ra tôn giáo; chứ không phải tôn giáo tạo ra con người nên con người có quyền chối bỏ tôn giáo, nhưng tôn giáo không thể chối bỏ con người.  Cho nên, không ít người đă chơi tṛ dung dăng, dung dẻ với quyền tự do tâm linh để trói buộc chính ḿnh và người khác vào một sự dính mắc trầm kha như bệnh dịch hạch. Chỉ riêng trên đất Trung Quốc từ thế kỷ thứ III đến nay, đă có tới con số hàng trăm nhân vật theo Phật giáo xuất gia và tại gia tự xưng là “hiện thân của Phật Di Lặc” giáng trần.  Việt Nam ta cũng không thiếu những ông đồng bà văi như thế. Nhưng tất cả con người và vọng động đều đến rồi đi như những hiện tượng chiến tranh, dịch họa.

Thật ra, đức Phật Di Lặc là tâm ảnh nói lên niềm hy vọng thường an lạc; là biểu tượng mong cầu cho một tương lai thịnh vượng, tươi sáng. Đời có bao nhiêu niềm ước mơ tốt đẹp th́ sẽ có bấy nhiêu mẫu h́nh tướng của nụ cười Di Lặc.  Nếu có chăng điều quan ngại th́ nó sẽ không dừng lại ở mức độ h́nh tướng mà ở tác dụng của phương tiện.  Nếu nụ cười “niêm hoa vi tiếu” của Ca Diếp là sự khai mở của tuệ giác, nh́n đóa sen trên tay Phật mà thấy hết tánh sen là tánh Phật; thấy ngó sen đang ở trong bùn vẫn theo ḍng sinh diệt, lặng lẽ nhô lên khỏi mặt nước và có ngày nở rộ tỏa ngát hương th́ nụ cười Di Lặc cũng sẽ “đồng nhất thể” tương ưng như thế.  Đó là một nụ cười rất đẹp và trọn lành không phân biệt Bố Đại Ḥa Thượng khi cho hay Thằng Bờm khi nhận.

Càng ngày, những nước văn minh Âu Mỹ càng nghiên cứu sâu rộng để tiếp nhận và trân trọng tinh thần phá chấp, từ bi và hóa giải của đạo Phật.  Nhưng khác với người phương Đông, ngưởi phương Tây không c̣n ảo tưởng về vai tṛ “cứu rỗi” vô điều kiện của tôn giáo. Bởi vậy, họ t́m đến đạo Phật như một triết lư, một nghệ thuật sống và đồng thời là một tôn giáo.  Một câu hỏi thường xuyên xuất hiện của những người Âu Mỹ mang nặng định kiến thần học phương Tây khi nh́n về đạo Phật là: “Đạo Phật là một hệ thống triết lư, một học thuyết vô thần hay một tôn giáo?” Người hiểu đạo (nói chung) trả lời không ngập ngừng: “Thưa, cả ba!”  Nhưng cũng có người bị dị ứng với khái niệm “vô thần”.  Dị ứng bởi v́ tư tưởng bị đóng khung và lăo hóa trong kiểu cách suy nghĩ duy lư và chủ quan gọi tên, dán nhăn hiệu của phương Tây.  Nghĩa là chỉ biết khư khư định nghĩa “Thần” như là một đấng Sáng Thế toàn năng, một Vua Trời, một Thượng Đế.  Mahatma Gandhi, người tin vào Thượng Đế Hindu, đă nhận xét: “Đạo Phật không phủ nhận Thượng Đế nhưng định nghĩa Thượng Đế theo một cách khác.” Đấng “Sáng Thế toàn năng” theo đạo Phật là “Duyên Khởi từ bản thể Tánh Không” như cách nh́n của nhà vật lư nổi tiếng nhất thời hiện tại, Stephen Hawking đă viết trong Sự Tạo Tác Vĩ Đại (The Grand Design).

Người phương Tây t́m đến cái đẹp của Phật giáo không phải qua h́nh thức lễ nghi, bái vọng với một tâm lư đột phá những ṿng trói buộc của tín điều và tín lư.  Họ đánh giá chân xác với ḷng biết ơn Nụ Cười Di Lặc và tin rằng, một đức Phật tương lai sẽ đến như một sự tái khẳng định nếp nghĩ, lối sống ḥa b́nh, an lạc và trí tuệ chứ không phải là để “tái sáng thế” đầy huyền nhiệm và bí ẩn của nếp tâm linh cổ sơ.  Nếu quan chiêm những ảnh tượng của Phật Di Lặc trong những chùa viện Phật giáo phương Tây ngày nay, người ta sẽ thấy toát lên vẻ đẹp đầy nghệ thuật phảng phất hay rơ nét nụ cười toát ra từ bên trong.  Những ảnh tượng Di Lặc với ngoại h́nh đầy hoan hỷ đậm nét “ thỏa thê trù phú” trong các chùa viện Việt Nam mô phỏng hay chỉ là phiên bản của Trung Quốc đang mất dần tác dụng giải thoát tâm linh trong thời đại mới.

Truyền thống người Trung Quốc dân dă khi gặp nhau thường chào câu đầu tiên:  “Đă ăn chưa?”  Ngày nay, kinh tế phát triển, cơm áo không c̣n là nhu cầu bức xúc hàng ngày th́ tiếng chào cũng thay đổi dần như phương Tây không c̣n lo ăn mà lo vui, lo đẹp.  Ước mong dáng vẻ Di Lặc cũng sẽ theo phong trào tập “Tai Chi” và “Fitness” mà trở nên thon thả, thanh lịch hơn trong những thế hệ tương lai.  Đặc biệt là trong khung cảnh văn hóa Việt Nam, các chùa viện Phật giáo cần t́m cầu một biểu tượng an lạc của đức Di Lặc nói riêng và tất cả các tôn tượng, kiến trúc nói chung, phù hợp với bản chất dân tộc, văn hóa và tính độc lập, độc sáng của ḿnh.

Năm mới, mùa Xuân là sức bật của tuổi trẻ, là điểm hẹn của tuổi trung niên và dấu ghi thêm một bước gần đất của tuổi già.  Nhưng tinh thần... ham vui cũng giông giống như “tài không đợi tuổi”.  Mong rằng, tinh thần nụ cười của tuệ giác mùa Xuân đang có sẵn trong mỗi ḷng người sẽ đâm chồi nẩy lộc tự nhiên và dễ dàng như hoa lá quanh ḿnh.

 

Natomas, tuần đầu tháng Giêng 2011

Trần Kiêm Đoàn

 

 

tôn giáo - phật giáo

trankiemdoan.net