SĨ PHẬT GIÁO

  (Bài viết của Giáo sư Trần Kiêm Đoàn cho chương tŕnh chuyên đề của

Phật Học Đường Vạn Hạnh trên Chuaquocteonline ngày 10/05/2003)

                                                       

         Khác hẳn với tất cả các hệ thống triết lư và tôn giáo trên thế giới, Đạo Phật – tự bản chất lẫn hiện tượng – vừa là một hệ thống triết lư mà cũng vừa là một h́nh trạng tôn giáo hoàn chỉnh với sự kết hợp hài ḥa giữa tín điều và tín lư.  Giữa cuộc đời, đức Phật là một vị Thầy hóa độ; trong đức tin, đức Phật là một đấng Giác Ngộ chứng tri.  Người theo đạo Phật là những người luôn luôn tỉnh thức để làm chủ lấy ḿnh , không giao trọn số phận của ḿnh cho sự định đoạt của một đấng quyền năng tuyệt đối nào cả.  Tuy cùng là Phật tử, nhưng không ai giống ai hoàn toàn về mức độ thuần thành và sở đắc giáo pháp trong quá tŕnh hộ đạo và hành đạo v́ mỗi cá nhân c̣n phải tùy thuộc vào căn cơ, trí tuệ, hoàn cảnh... trùng trùng duyên nghiệp khởi và động không ngừng của chính ḿnh.  Bởi vậy, không ai có thế “tu thay” hay “lănh thế” nghiệp duyên của tha nhân như thường thấy trong các tôn giáo khác.

         Dưới bóng vạn lư của ba ngôi Tam Bảo – Phật, Pháp, Tăng –  người Cư sĩ Phật giáo là chiếc cầu tượng trưng và tiêu biểu giữa Tam Bảo và cuộc đời thường; giữa hàng xuất gia và quần chúng.  Nhưng thế nào là chân dung của một ngưởi Cư sĩ Phật giáo điển h́nh và tiêu chí nào để thành người Cư sĩ?  Đâu là sự khác biệt giữa một người Cư sĩ Phật giáo và một Phật tử “b́nh thường”?

         Định nghĩa danh từ Cư sĩ:

         Trong hệ thống xă hội cổ điển Đông Phương, Cư Sĩ thường được định nghĩa như là người có tài năng nhưng  không ra tham gia việc nước hay dấn thân vào việc đời, sống mai danh ẩn tích ở chốn thâm sơn hay điền dă (Cư: ở. Sĩ: kẻ sĩ).

         Nói về nguồn gốc th́ sách Cải Trai Mạn Lục của Ngô Tăng Năng ghi rằng: “Danh hiệu Cư sĩ có từ thời Thương Chu”.   Sách Hàn Phi Tử chép: “Thái Công được phong ở đất Tề.  Ở Đông Hải có hai cư sĩ là Cuồng Duật Hoa và Sĩ T́ Đệ can rằng: “Ta không nên thần phục Thiên tử, không giao hữu với chư hầu, chỉ nên cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống.”   Như vậy, từ thơi xa xưa Cư sĩ là người sống rất độc lập, thanh đạm (gần với hàn sĩ) và sống ẩn dật (ẩn sĩ).

         Trong Phật giáo th́ Cư sĩ (Kulapati) là người học Phật tại gia.  Sách Xuyết Canh Lục có ghi: “ Người học Phật đời nay phần nhiều tự gọi ḿnh là Cư Sĩ.  Khảo trong Lục Kinh th́ chỉ có sách Lễ Kư có danh từ Cư Sĩ Cẩm Đới (cư sĩ đai gấm), nhà chú giải ghi là vị cư sĩ có đạo nghệ.” Sách Duy Ma Kinh Sớ của Tuệ Viễn, quyển 1, nói rơ hơn về khái niệm Cư sĩ: “Cư sĩ có hai loại: Một loại tích lũy được nhiều của cải (cư tài cư sĩ), gọi là cư sĩ.  Một loại là tu Đạo tại gia, tức là Cư gia đạo sĩ cũng gọi là cư sĩ.”  Phụ nữ cũng có thể gọi là cư sĩ , tức Nữ cư sĩ.  Trong các sách Thiền Lục thường có danh hiệu ấy.

         Đệ tử đầu tiên của đức Phật Thích Ca là Cư sĩ.  Ngay khi ngài vừa mới thành Đạo dưới cội Bồ Đề, có hai thương khách từ Phương Nam đến, đó là Bà Ha Lệ Ca (Bahallika) và Trà Phú Sa (Trapusha) chiêm ngưỡng dung mạo quá uy nghi của Phật tỏa trong ánh hào quang rạng ngời, bèn đến đảnh lễ và dâng đức Thế Tôn phẩm vật cúng dường.  Đức Phật mĩm cười, đặt tay lên đầu hai người thọ nhận quy y và truyền giới.  Đó là hai Ưu Bà Tắc (Upasaka, tiếng Phạn có nghĩa là đệ tử nam giới) đầu tiên của Phật giáo.  Sau khi quy y Tam Bảo, đức Phật truyền năm giới (Ngũ Giới):  Không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối và không uống rượu.  Theo lời Phật dạy th́ sau khi quy y Tam Bảo và thọ Ngũ Giới rồi, hai đệ tử nầy có thể ở tại nhà tiếp tục cuộc sống b́nh thường để tu học.  Sau đó không lâu tại vườn Lộc Uyển, đức Phật cũng thọ nhận quy y, truyền giới và khuyên tu tại gia cho vị Ưu Bà Di (Upasika: Nữ đệ tử) đầu tiên trong lịch sử Phật giáo.

         Giới Cư sĩ Phật giáo đă hiện diện từ những ngày đức Phật Thích Ca chưa chuyển pháp luân dưới gốc Bồ Đề, trong vườn Lộc Uyển, nhưng giới Phật tử vẫn c̣n rất ít người tự nhận ḿnh là Cư sĩ (cách gọi Việt Nam); là Thiện Nhơn, hay Cận Sự Nhơn (như thường thấy danh xưng Thiện Nam hay Cận Sự Nam theo cách gọi của Trung Hoa).  Có lẽ v́ chữ “Sĩ” đă làm cho nhiều  người tự cảm thấy danh xưng Cư sĩ mang một ư nghĩa đặc biệt tương tự nào đó như  kẻ sĩ, hiền sĩ... có vẻ xa cách với “người thường”!

         Thật ra tự nguồn gốc, cư sĩ là một người hiểu biết, sống có nhân cách, trách nhiệm và bổn phận với bản thân, gia đ́nh, người thân và xă hội ; có tinh thần cầu tiến bộ trong ư hướng học đời, học đạo làm người.  Cư sĩ, nói chung, có thể là một người chẳng liên quan ǵ đến tôn giáo hoặc chỉ có khuynh hướng về tôn giáo mà thôi.  Nhưng Cư sĩ Phật giáo, trước hết phải là một Phật tử.  V́ vậy, bất cứ một người nào theo Phật giáo có quy y Phật, Pháp, Tăng (Tam Bảo),  có chuyên tâm giữ giới (Ngũ giới) và có ư thức hành thiện (Thập Thiện), tu học tại gia đều có thể gọi là Cư sĩ Phật giáo, không phân biệt hoàn cảnh xuất thân hay địa vị xă hội.  Đạo Phật là đạo b́nh đẳng. Người theo đạo Phật lấy cái Tâm Bồ Đề làm gốc, nên Chân Tâm là chủ đạo, là cốt lơi tinh yếu, là giá trị tuyệt đối của người Phật tử.  Thời đức Phật c̣n tại thế,  hội Ấn Độ sinh hoạt riêng trong cung đường của giai cấp.  Giai cấp cùng đinh Chiên Đà La, chuyên nghề hạ tiện gánh phân có thể bị giết v́ lầm lỡ đạp trên cái bóng của giai cấp thượng đẳng quư tộc của hàng vua quan Sát Đế Lỵ.  Giai cấp tu sĩ Bà La Môn có quyền phán quyết tối cao trên thân phận của giai cấp thương gia, học   Trưởng Giả và giai cấp lao động Thủ Đà La.  Thế nhưng đạo Phật đă dung hóa được giai cấp v́ đức Phật không căn cứ vào giả tướng mà nh́n thấu suốt bản lai diện mục của chúng sanh để t́m thấy Phật tánh trong từng cá thể.  Không có giai cấp trong ḍng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn. 

         Nói một cách đơn giản và đại chúng hơn th́ Cư sĩ Phật giáo là những Phật tử  chuyên tu học tại gia.

         Vai tṛ truyền thống của người Cư sĩ Phật giáo (CSPG)

         Để góp phần minh họa chân dung và vai tṛ đa dạng trong quá tŕnh tu hoc của người CSPG, người xưa có nói rằng:

         Khó nhất là tu tại gia,

         Thứ nh́ tại chợ, thứ ba tại chùa.

         Tu tại gia thường được coi là khó nhất v́ cùng lúc, người CSPG phải đóng trọn hai vai tṛ:  Vai tṛ đối với Đời và vai tṛ đối với Đạo.

         Theo Ḥa thượng Thích Thiện Hoa th́ cái danh của người CSPG có đến năm chữ:  “Người + Phật tử + Tại gia”.  Đó là chưa kể người Phật tử tại gia ấy c̣n có những danh vị và trách nhiệm khác như: Công chức, giáo sư, chủ tiệm...

         Vai tṛ đối với đời:  Bao gồm những bổn phận và trách nhiệm đối với tự thân, đối với gia đ́nh quyến thuộc, đối với mọi người, đối với quốc gia và xă hội.  Vai tṛ đối với đời là một sự thử thách thường xuyên, có tác động trực tiếp và mạnh mẽ để tạo điều kiện thuận lợi hay trở lực cho vai tṛ đối với Đạo.  Trong giới hạn nhất định của cuộc đời thường th́ mọi người đều chỉ có mỗi ngày 24 giờ để sống.  Giữa hai hạng người cực đoan   Hoặc không có ǵ để làm; hoặc làm tới khi chết rồi mà vẫn chưa hết công việc –  là những người điều khiển được con ngựa thời gian bất kham.  Thực tế đă chứng minh rằng, giữa ḍng cuộc sống tất bật và trôi chảy không ngừng, nếu biết sắp đặt sẽ không có sự mâu thuẫn hay xung đột  nào giữa việc đời và việc đạo như những kẻ sĩ xưa thường nói: “Hành tàng bất nhị kỳ quan” (Gánh vác việc đời hay rút lui ẩn dật không phải là hai trạng thái tách rời nhau).  Trong tinh thần đó, người CSPG luôn luôn có khả năng tạo được thế quân b́nh giữa hai vai tṛ đối với đời và đạo.

         Khi nói đến sự bức xúc của tâm lư tham gia công tác phục vụ cộng đồng, nhà xă hội và Tâm lư Mỹ, Thomas Wagner, đă phát biểu rằng: “Làm việc thiện nguyện cũng như tham gia sinh hoạt tôn giáo cần phải làm ngay trong điều kiện có sẵn hiện tại (right here, right now).  Đừng đợi, v́ ngày mai cũng như ngày hôm nay.  Sự đợi chờ có khi sẽ trở thành quá muộn v́ không ai nắm chắc rằng, ngày mai họ sẽ c̣n hiện hữu hay không...”  Vai tṛ người CSPG cũng tương tự như thế.  Nếu chờ đến lúc về hưu; chờ đến khi con cháu thành tài; chờ đến khi nợ cái nhà, chiếc xe trả hết mới có điều kiện tham gia công tác chùa chiền, tu học... th́ có khi sẽ lâm vào cảnh “mai ăn khỏi trả tiền” và cái ngày mai đầy hứa hẹn đó có thể sẽ không bao giờ thành hiện thực.

            Tu tại gia khó nhất... là một thực tế hiển nhiên, nhất là đối với quư vị chưa đến lứa tuổi “lăo giả an chi” c̣n phải bôn ba với cuộc sống.  Vật lộn với nợ áo cơm đă khó, thỏa măn hết các món nợ đời, nợ danh, nợ tiếng... lại càng khó hơn.  Bên cạnh nỗ lực nhằm thỏa măn những nhu cầu căn bản của đời sống thường nhật, c̣n sắp xếp được hoàn cảnh và thời gian để tu học, tham gia công tác hộ đạo và hành đạo... đ̣i hỏi người CSPG một tín tâm kiên cố và một chí tu học bền bĩ mới tránh được cảnh tu học chợ chiều như Nguyên Phong than thở trong một bài thơ vui đăng ở báo Liên Hoa: “Xuân Thu tu học nhị kỳ, mỗi năm mỗi vắng c̣n ǵ là tu !”

         Không phải chỉ có trong thời đại mới hay trong hoàn cảnh lưu cư ở xứ người, giới CSPG mới phải đối diện với sự khó khăn của hoàn cảnh.  Giới luật căn bản của Phật giáo từ xưa đă căn cứ trên hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của người tu tại gia để quy định những điều luật khả thi cho Phật tử tại gia và xuất gia.  Nếu là xuất gia th́ tùy theo tŕnh độ và quá tŕnh tu học để thọ giới.  Như có 10 giới dành cho người mới xuất gia (Sa Di và Sa Di Ni), 250 giới dành cho Tỳ Kheo và 340 giới cho Tỳ Kheo Ni đă xuất gia trên 10 năm và có tŕnh độ thọ giới đầy đủ.  Trong khi đó, chỉ có 5 giới dành cho người Phật tử tại gia. 

         Tuy sự hưng thịnh của một tôn giáo không nhất thiết tỷ lệ thuận với số lượng tín đồ, nhưng rơ ràng là khối quần chúng tín đồ đóng một vai tṛ chủ lực và sinh động trong sinh hoạt tôn giáo.  Trong sinh hoạt của Phật giáo tịnh độ, giới CSPG là chỗ dựa của Tam Bảo như Thiền sư Thích Thanh Từ khẳng định trong tập sách Trách Vụ Phật Tử Tại Gia, rằng: “Truyền bá Phật giáo được phổ biến, linh động trong quần chúng do Phật tử tại gia thực hiện”.  Bởi v́ theo Thiền sư th́ làm Phật sự chính là làm “sống dậy lời Phật dạy” chứ không phải bị dính chặt vào những phương tiện tạm thời trợ lực cho việc hoằng dương chánh pháp như cúng chùa, cất chùa, trai nguyện, công quả v.v...  Cũng trong tác phẩm vừa nêu dẫn, Thiền sư viết tiếp: “Nếp sống của người xuất gia cao siêu cách biệt quần chúng quá, dù cố gắng cách mấy cũng khó ảnh hưởng lây.  V́ thế, Phật tử tại gia có trách nhiệm làm linh động và sống dậy tinh thần Phật giáo qua nếp sống cá nhân và gia đ́nh ḿnh.”

         Vai tṛ hộ đạo của người Cư sĩ Phật giáo.

         Quy y Tam Bảo không phải là một h́nh thức “lễ thánh” để từ đó, người quy y sẽ trở thành một tín đồ ngoan đạo, giao trọn tâm linh và số phận của đời ḿnh cho một đấng thiêng liêng toàn năng định đoạt, v́ đức Phật không phải là một vị thần linh.  Quy y là tự nguyện chọn cho ḿnh một hướng đi, đặt cho ḿnh một lư tưởng để nhắm đến:  Phật là mục tiêu của lư tưởng để nhắm đến.  Pháp là đường lối, là phương tiện cần thiết để tiến đến được mục tiêu lư tưởng đó.  Và Tăng là người dẫn đường đáng tin cậy để hướng dẫn người học Phật định hướng và tiến vững bước trên con đường t́m đến mục tiêu.  Do đó, sự liên lạc giữa người Phật tử với Tam Bảo cũng cần thiết như người vượt biển trong sương mù cần phải có hải đăng, ghe thuyền, hướng đi để tới bờ.  Hay cũng như  nhân cần phải có sự liên lạc với gia đ́nh và xă hội.  Là một thành viên trong tứ chúng, là một cá thể trong cộng đồng, người CSPG có một trách vụ trực tiếp, thường xuyên và tích cực trong tiến tŕnh hộ đạo và hành đạo.

         Khác với các bậc tu hành đă xuất gia, người Phật tử tại gia mỗi người có riêng một hoàn cảnh bản thân và gia đ́nh khác nhau.  Hoàn cảnh nầy có khi là thuận duyên mà cũng có khi là nghịch duyên có ảnh hưởng và tác động trực tiếp đến sự tu học của người Cư sĩ Phật giáo.  Bên cạnh đại đa số Phật tử tại gia, tạo được sự hài ḥa song hành giữa việc đời và việc đạo, vẫn có hiện tượng thiếu quân b́nh giữa hai khuynh hướng gần như cực đoan của một thiểu số Phặt tử.   Khuynh hướng “thái quá”:  Bất chấp những nhu cầu cấp thiết của gia đ́nh và quay lưng với trách nhiệm xă hội, rủ bỏ tất cả để đến chùa, sử dụng toàn thời gian để lo việc chùa chiền Phật sự.  Khuynh hướng ngược lại là “bất cập” Tuy có tín tâm nhưng không đến chùa, luôn luôn t́m cách biện minh cho thái độ xa cách Tam Bảo của ḿnh bằng những khái niệm sáo ṃn như :  “Phật tức tâm.  Tu đâu cho bằng tu nhà... và v.v...”  Cả hai khuynh hướng thái quá và bất cập đều là những chướng ngại trên con đường tu học của người Phật tử tại gia.

         Đă có quá nhiều sách vở, bài bản, ư kiến của chư tôn đức, các học giả, Cư sĩ Phật giáo tŕnh bày, tham khảo và nghiên cứu về vai tṛ tu và hành của người Phật tử tại gia.  Trong phần tham luận rất giới hạn này, người tŕnh bày sẽ không làm công việc tóm tắt hay liệt kê và lập lại một cách có hệ thống hoặc tản mạn những điều nên làm hay không nên làm đă được ghi thành bài bản trong sách vơ nói về vai tṛ của người Cư sĩ Phật giáo mà chỉ xin đưa ra những ư kiến rất khiêm tốn của ḿnh để làm cơ sở thảo luận.  Tinh thần triết học Phật giáo rất thoáng đạt và mềm dẽo.   Có khi c̣n mang tính chất  “phủ định nhất quán” như Bồ tát Long Thọ đă tập đại thành Bát Nhă Ba La Mật để phủ nhận luôn cả nguyên tắc đầu tiên và cơ bản nhất trong nhân sinh quan của Phật giáo như Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo... Nhưng phủ nhận như khép cánh cửa sổ để mở ra khung cửa rộng của một sự xác tín về hành tŕnh tất yếu trên con đường đưa đến giác ngộ và giải thoát sau cùng.  Bởi vậy, ngôn từ dầu có hoa gấm tới đâu; cơ sở lư luận dù có vững chăi tới mức nào; luận điểm có sức thuyết phục đến mấy... th́ cũng chỉ là phương tiện nhất thời rất tương đối và phù du để đư a đến sự  im lặng của Chánh Pháp; sự vô ngôn của giác ngộ và giải thoát.

         Trong tinh thần học Phật thoáng rộng và đầy tâm đạo đó,  chúng ta thử cùng nh́n vào hoàn cảnh thực tế để có thể được hay chăng, cùng bàn thảo một vài ư niệm đề cương về vai tṛ hộ đạo của người Cư sĩ Phật giáo:

        1.Vai tṛ xây dựng cơ sở vật chất.

Khi hướng về Tam Bảo, khuynh hướng truyền thống phổ biến nhất của giới Phật tử tại gia là nghĩ đến mái chùa và h́nh ảnh quư Thầy, quư Ni sư .  Tuy động cơ tâm linh của Phật tử đến chùa có khác nhau về cách nhận thức và mức độ thể hiện, nhưng tất cả đều có một gốc rể chung là Tín Tâm hay ḷng tin kính vào Đức Phật và giáo lư cứu khổ, độ sanh của Ngài.  Thế giới tâm linh riêng tư của từng cá nhân thường có điều kiện khai mở và un đúc trong khung cảnh thờ tự trang nghiêm của chùa chiền và tu viện, dưới sự d́u dắt tinh thần của Tăng, Ni.  Ngôi chùa, v́ vậy, không chỉ là ngôi nhà thờ tự mà c̣n là một thế giới thu gọn của một cộng đồng của những người có chung Niềm Tin. 

         Trong những xă hội kỹ nghệ và cường quốc kinh tế Tây Phương, nhất là tại Mỹ, rơ ràng có một sự quan hệ hổ tương theo tỷ lệ thuận giữa cuộc sống vật chất và đời sống tinh thần.  Đời sống kinh tế gia đ́nh và vật chất xă hội càng phong phú th́ chùa chiền và tu viện được xây dựng càng nhiều.  Và đây cũng chính là “ngọn lửa thử vàng” để trắc nghiệm cho cái Tâm Bồ Đề và Chí Tu Học của cả hai giới Phật tử xuất gia và tại gia.  Sự xuất hiện nhiều chùa chiền và tu viện là một hiện tượng tích cực và lành mạnh của Phật giáo.  Tuy nhiên, giới xuất gia quư Thầy và Sư cô đóng vai tṛ nào trong việc hướng dẫn tinh thần và giới Cư sĩ Phật giáo đóng vai tṛ nào trong việc vận động vật chất để lập chùa, xây dựng tu viện mới là điều quan trọng.  Bất cứ một ngôi chùa lập nên dù nguy nga hay khiêm tốn đến mức độ nào mà vẫn phát huy được h́nh ảnh cao đẹp và uy nghi của Tam Bảo; duy tŕ được cốt lơi của tinh thần Lục Ḥa trong giới cư sĩ với nhau mới là điều đáng quư.  Phật giáo không chấp nhận lối ngụy biện “cứu cánh biện minh cho phương tiện”.  Ngược lại, trong phương tiện đă mang mầm cứu cánh.  Chùa chiền và cơ sở vật chất tuy cũng chỉ là phương tiện, nhưng ngay dười mái chùa, hạt giống Từ Bi, Trí Tuệ, Giải Thoát đă ươm mầm từ thiện ư, tâm đạo và việc làm của Tăng Ni và Cư sĩ.  Trong vai tṛ góp phần xây dựng cơ sở vật chất làm phương tiện tu học, người cư sĩ là chỗ dựa vững chắc của Tăng Ni trong vai tṛ hộ đạo để xác định được giới hạn hợp lư của nhu cầu, khả năng và hoàn cảnh cụ thể hầu tránh được t́nh trạng cả Thầy lẫn Đệ tử đem phương tiện làm cứu cánh; quên mục đích tu học để giải thoát và tự trói buộc nhau vào cảnh nợ nần ngân hàng; đôn đáo lo chạy tiền trả nợ... “chùa”!  Hậu quả trực tiếp là thay v́ chú tâm tu học th́ người cư   ngày lại ngày chỉ lo hô hào, tổ chức  gây quỹ dưới những h́nh thức đượm màu tục lụy để tranh đua xây chùa to, đúc tượng lớn; thường xuyên tiếp cận với nhu cầu vật chất mà xa ĺa phẩm hạnh của đời sống tinh thần.

         2. Vai tṛ đem đạo vào đời.

         Một thiền sư Nhật Bản, tu sĩ Samurai Kenji, có nhận xét:  “ Đem đời vào đạo sẽ làm cho đạo chao đảo chông chênh; nhưng đem đạo vào đời sẽ làm cho đời thanh cao và vững chắc”.  Đem đạo vào đời có nghĩa là mang cái tâm Bồ Đề vào cuộc sống.  Kinh Hoa Nghiêm chỉ rơ: “Quên mất Tâm Bồ Đề mà tu hành các Thiện Pháp th́ gọi là hành động theo ma vương.  Quên mất c̣n thế, huống chi chưa phát!” (Hoa Nghiêm- Phẩm Phát Bồ Đề Tâm.  Trí Quang dịch)

Giới cư sĩ đóng vai chiếc cầu bắc qua gịng sông tâm ư và hành trạng để đưa đạo Phật vào cuộc đời.  Đạo Phật và kinh điển nhà Phật không phải là một kho tàng tri thức đóng khung bất biến trong gia tài kiến thức cổ truyền của nhân loại.  Trái lại, đạo Phật là một hệ thống tư tưởng và nguyên tắc hành xử sinh động, không bị biến chất hay cô lập với thời gian và hoàn cảnh.  Đạo Phật không nhằm chế ngự tư duy của nhân loại như hệ thống luận lư học  Tây phương mà tiếp cận với cuộc đời thường một cách b́nh đẳng và công minh.   Từ hàng quư tộc đến giới cùng đinh; từ hàng thức giả đến giới không biết chữ đều là những chúng sanh có Phật tính và có khả năng giác ngộ.  Bởi vậy, mọi người cư sĩ đều có tác dụng quan trọng ngang nhau trong vai tṛ hộ đạo và hành đạo.  Trách vụ làm cho đạo Phật sinh động trong môi trường sống hiện thực trước hết là cách sống của chính người cư sĩ.  Nhà tôn giáo học Mỹ, Willie Bretch, nhận xét: “Bản chất của một tôn giáo thể hiện trong cách sống của tín đồ theo tôn giáo đó sẽ mang khả năng truyền đạo mạnh mẽ và trực tiếp nhiều lần hơn là lư thuyết kinh điển nằm chất đống dưới bệ thờ và trong thư viện” (Religious Nature, 2001)

Thực tế tại Mỹ và các nước phương Tây, một gia đ́nh Việt Nam có vợ chồng con cái theo nhiều đạo khác nhau không phải là chuyện hiếm có đời nay. Cũng vậy, trong mọi cơ cấu đoàn thể cũng như tổ chức và khu vực xă hội, Phật tử thường là một phần nhỏ hay lớn bên cạnh những người theo các tôn giáo khác.  Người ngoài đạo Phật  thường nh́n người Phật tử như là h́nh ảnh tiêu biểu, phản ảnh trung thành tinh thần Phật giáo.  V́ vậy, trách vụ hộ đạo tích cực đầu tiên của người Cư sĩ Phật giáo là xây dựng một phong thái sống thích hợp với khái niệm của một người Phật tử qua lời nói, sinh hoạt và cách ứng xử.

Nguyên tắc xử thế nhằm thu phục nhân tâm thường được liệt kê dài lê thê trong các sách giáo khoa “học làm người” để đạt đến nghệ thuật đắc nhân tâm.  Nhưng Cư sĩ không phải là người đi t́m đắc nhân tâm mà là người nuôi dưỡng và chia sẻ Chân Tâm.   

Muốn có sự ḥa hợp với mọi người trong cuộc sống cần phải có tấm ḷng sống thật, không chấp cái danh hư huyễn.  Muốn có sự gần gũi và thân thiện với mọi người cần giảm thiểu tối đa thái độ thắc mắc, phê phán, lư sự mà giàu ḷng cảm thông chia sẻ và khiêm tốn.   Không phải gia đ́nh nào cũng có cả vợ lẫn chồng và con cái đều là Phật tử.  Không phải xă hội nào cũng chỉ có giới Phật tử thuần nhất đến với nhau.  Giới xuất gia là tấm gương đạo hạnh đă đành.  Nhưng h́nh ảnh giới Phật tử tại gia, hai tay nâng lấy cả việc đời lẫn việc đạo, mới chính là đại biểu đầy thuyết phục nhất để mang đạo vào đời.

        3. Vai tṛ hộ tŕ Tam Bảo

Hành động bảo vệ thường được thể hiện dưới ba cách:

- Bảo thủ:  Khư khư nắm giữ những ǵ đang có.  Trong tôn giáo, thái độ này là quyết liệt nắm giữ những tín điều như những nguyên tắc bất biến.  Sợ sự xâm lấn từ bên ngoài và động cơ thay đổi từ bên trong.

- Trung dung:  Đồng thời bảo vệ và phát huy những giá trị chính đáng.  Trong tôn giáo, thái độ này có một tác động tích cực, tạo được sức mạnh mới và giúp cho tôn giáo không bị lỗi thời.

- Cấp tiến:  Hoàn toàn đổi mới.  Mạnh mẽ phá đổ cái cũ để xây dựng cái mới.  Trong tôn giáo, thái độ này thường dẫn đến t́nh trạng cho sự ly khai giáo hội chính thống để xây dựng một hệ phái mới.

Phật giáo, cũng giống như các tôn giáo lớn với hàng chục triệu tín đồ, trải rộng qua nhiều vùng có lănh thổ, chính trị, văn hóa, xă hội và ngôn ngữ khác nhau trên toàn thế giới, ba khuynh hướng bảo vệ đạo pháp nói trên cũng thường xuyên xảy ra đồng thời hay riêng lẻ.

Những khuynh hướng cực đoan, mang nặng tính chất duy lư và bảo thủ không hợp với một tôn giáo lấy cái Tâm làm gốc như đạo Phật.  V́ vậy, khuynh hướng Trung Dung được thể hiện phổ biến nhất trong vai tṛ hộ đạo và hành đạo của người Cư sĩ Phật giáo. 

         Tuy thái độ trung dung được tôn trọng và ưa chuộng,  nhưng trong những thời điểm và hoàn cảnh đặc biệt, người Cư sĩ Phật giáo cần phải đấu tranh tích cực giữa “Kính” và “Chính”.  Kính trọng một người không có nghĩa là phải kính trọng luôn sự bất chính hay sai lầm của người đó.  Ví dụ:  Kính Thầy không có nghĩa là phải thỏa hiệp với những điều chưa đúng của Thầy; hoặc kính nể đạo hữu không có nghĩa là im lặng đồng lơa với những điều sái trái của bạn đạo.

         Bảo vệ là giữ ǵn và tu hành là sửa đổi.  Không có một sự giữ ǵn và sửa đổi nào mà không tạo ra những hệ quả tất nhiên theo sau.  Nghĩa là luôn luôn có sự tán đồng và bất đồng trong tập thể.  Sự mâu thuẫn có khi ở mức độ tiềm tàng, nhưng cũng có khi bùng nổ đưa đến chỗ phân ly hay chia thành phe nhóm.  Hiện tượng có nhiều chùa chiền trong một địa phương nhỏ bé và vị tu sĩ trụ tŕ chùa nầy chẳng hề bén mảng thăm viếng chùa kia không phải là hiện tượng hiếm hoi tại nhiều vùng đất ở hải ngoại.  Nếu phải tu học trong một hoàn cảnh phân hóa như thế,  sĩ Phật giáo thường có một tư thế thuận lợi nhất để giúp đưa sinh hoạt các chùa cô lập đến gần nhau.  Bảo vệ Đạo Pháp không phải là khư khư đến chùa nầy hay nhất tâm theo Thầy khác mà cần phát huy ḷng kính ngưỡng rộng lớn đối với Tam Bảo.  Khi trên đường tu học, người cư sĩ không lấy biên giới đất đai làm điểm tựa hay lấy thành quách chùa chiền làm giới hạn th́ h́nh ảnh Tam Bảo sẽ trở thành thế giới tín ngưỡng không biên giới với mọi người.

         4. Vai tṛ giáo dục

         Trong 49 năm hoá độ chúng sanh, đức Phật đă xuất hiện như một vị Thầy trụ cột (Bổn Sư) bên cạnh Tăng đoàn tứ chúng.  Có thể nói, moat trong những vai tṛ trọng điểm hàng đầu của Đạo Phật là giáo dục.  Thông qua phương tiện giáo dục đạo Phật đă giúp khai phóng con người từ “mê” đến “giác”,  từ cảm tính đến nhận thức ; và từ nhận thức đến hành động.  Bởi vậy, hàng giáo phẩm xuất gia các cấp  của Phật giáo đều là những vị Thầy (Sư: Tổ sư, đại sư, thiền sư, ni sư).  Những danh tăng lỗi lạc và uyên bác trong lịch sử Phật giáo như Đạt Ma, Huyền Trang, Vạn Hạnh, Viên Chiếu, Măn Giác, Hương Hải… đều là những vị Thầy.

Giáo dục là phương tiện chủ lực trong vai tṛ hoá đạo của Phật giáo.

Trong bối cảnh Phật giáo tại Hải Ngoại, nhất là trong xă hội của các nước có nền giáo dục tiên tiến và mức độ dân trí cao như các nước Âu Mỹ ngày nay, phương tiện giáo dục để hoằng dương Phật pháp là một sự kết hợp tất yếu giữa Tín Tâm và Tri Thức.  Có Tín Tâm mà thiếu tri thức th́ con đường học Phật rất dễ thiên về khuynh hướng bảo thủ, khép kín và vụ h́nh thức lễ nghi.  Ngược lại, có Tri Thức mà thiếu Tín Tâm th́ con đường học Phật dễ dàng thiên về khuynh hướng duy lư, phân hoá và tùy tiện.

         Tương lai Phật giáo và khả năng kế thừa để duy tŕ và phát huy tinh thần Phật giáo của tuổi trẻ Việt Nam tại Hải Ngoại cũng là mối quan tâm thiết yếu của thế hệ Phật tử đàn anh, kể cả hàng xuất  gia và tại gia.  Theo thống kê của Viện Khảo sát các nhóm chủng tộc tại Mỹ (M G R I) th́ cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ thưộc vào hàng khá “trẻ trung”.  Có 68% tuổi trẻ Việt  Nam sinh sau 1975.  Nhưng quan sát kỹ thành phần tuổi tác của Phật tử đến sinh hoạt hay tu học đều đặn tại các chùa th́ sẽ thấy rơ tỷ số tuổi trẻ học Phật c̣n quá “mỏng” so với tỷ số dân cư.  Nếu thử phóng tầm nh́n về một tương lai chừng 20 năm sau, khi thế hệ Phật tử đàn anh hiện tại trở thành quá khứ, th́ thế hệ đàn em tại hải ngoại có đủ “dày” và thuần thành để bảo vệ và phát huy đạo pháp hay không?  Gia Đ́nh Phật Tử tuy là một tổ chức tuổi trẻ đầy hứa hẹn nhưng có bao nhiêu chùa lớn hay nhỏ mới được xây dựng trong những năm gần đây có được sự hiện diện của Gia Đ́nh Phật Tử?

         Bên cạnh quư Tăng Ni, giới Cư sĩ  Phật giáo có một vị thế cốt cán và tiên phong trong vai tṛ giáo dục, bao gồm:

         - Góp phần hỗ trợ trong vấn đề đào tạo tăng tài:  Sự hưng thịnh của Phật giáo xư a nay đều có một sự liên đới hữu cơ giữa tài năng (học thuật, nghiên cứu, sáng tạo…) của giới Tăng  Ni và công cuộc hoằng dương Đạo Pháp.  Hiện trạng tại Hải Ngoại th́ học vấn đóng một vai tṛ quan trọng khi nói đến tài năng.  Chẳng hạn như các Mục sư quản nhiệm của nhiều hệ phái Tin Lành đ̣i hỏi phải có văn bằng cao học hay tiến sĩ thần học.  Tuy tinh thần Phật giáo không vụ bằng cấp, nhưng hoàn cảnh địa lư và xă hội đă thay đổi.  Trong hoàn cảnh mới, vai tṛ của quư Tăng Ni càng nặng nề hơn.  Bên cạnh trách vụ tu tŕ truyền thống quư Tăng Ni c̣n phải đóng vai tṛ đối ngoại với xă hội đa chủng đang nh́n về Phật giáo; vai tṛ giáo dục cho thế trẻ không thông tiếng Việt; vai tṛ làm chỗ dựa tinh thần cho giới Phật tử tại gia đang tranh sống trong một môi trường xứ người.  Những vai tṛ đó, đ̣i hỏi quư Thầy và quư Sư cô không chỉ thông thạo Kinh Tạng nội điển mà c̣n phải thông qua quá tŕnh học hỏi tại các nhà trường hay Học Viện nơi ḿnh cư trú.   Nếu giới Cư sĩ nhiệt t́nh gánh vác bớt một số công việc thích hợp giúp quư Thầy, Cô có th́ giờ và phương tiện đi học th́ đó cũng là một hành động gián tiếp góp phần đào tạo Tăng tài.

         - Bắt nhịp cầu thế hệ: Giúp thế hệ trẻ, mà trực tiếp nhất là con em của chính ḿnh, hiểu Phật giáo và hành theo tinh thần Phật giáo.  Đồng thời tạo điều kiện bảo trợ và phát triển những tổ chức Phật tử trẻ như Gia Đ́nh Phật Tử, Thanh niên Phật Tử…

         Giáo dục là một lănh vực rất đa dạng.  Đầu tư vào cơ sở vật chất dễ hơn v́ có kết quả nh́n thấy ngay trước mắt, nhưng đầu tư vào giáo dục th́ có khi kết quả chưa thấy liền, nhưng sẽ đâm hoa kết trái trong nhiều thế hệ tương lai.

Kết luận:

         Rất có thể phát xuất từ tinh thần trọng sĩ thái quá của văn hóa Á Đông “Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên...” nên khi nói đến Tam Giáo (Nho- Phật -Lăo) xă hội Việt Nam ta hay nói đến một thế giới “học sĩ” gồm những nhân vật xa cách với sách vở bao quanh đầy ḿnh.  Cũng thế, đă có một thời, Phật giáo bị nh́n một cách lệnh lạc:  Hoặc là một Phật giáo quá cao siêu với tam tạng kinh điển, với tám vạn bốn ngàn pháp môn vi diệu; với những công án mây trời ngũ sắc tận đâu đâu.  Hoặc tệ hơn, một Phật giáo đầy mê tín với bùa chú, cờ phướn đèn lồng, trống đánh kèn thổi để trừ ma yểm quỷ.  H́nh ảnh đạo Phật lệnh lạc đó không ít th́ nhiều, vẫn c̣n để lại những dấu vết trong thời hiện tại.

         Đă có nhiều tu sĩ, học giả, cư sĩ Phật giáo bằng mọi phương tiện khả thi, cố đem Phật giáo đi vào cuộc đời hiện thực.  Đây là một tiến tŕnh rất quan trọng và cần thiết trong công tác Phật sự hộ đạo và hành đạo.

         Càng ngày, người ta càng nhận ra rằng, tuy Phật giáo cao siêu “vô thượng thậm thâm vi diệu pháp”, nhưng con đường khởi thủy dẫn vào Phật giáo cũng chỉ là con đường đất chân quê mà mọi giới chúng sanh, nếu có một tấm ḷng, đều có thể bước đi trên nẻo đường đó một cách thoải mái và nhẹ nhàng.

         Người Cư sĩ Phật giáo phải là lớp người “đưa đ̣” điển h́nh để trân trọng mời những người quan tâm đến Phật giáo t́m đến Phật giáo một cách đơn giản.

         Nếu Tăng Ni hoằng hóa Phật giáo bằng kinh sách và những buổi thuyết pháp th́ người  Phật tử tại gia phổ biến Phật giáo trong người thân và quần chúng bằng chính cách sống cùng những lời thăm hỏi, chia sẻ và an ủi của ḿnh.  Trong lời kết luận về vai tṛ hộ đạo của người Cư sĩ Phật giáo, thầy Thanh Từ nhận định rằng: “Giờ rănh rỗi, Phật tử nói chuyện thân mật trong gia đ́nh, hoặc đi thăm người láng giềng đau yếu... đều là những buổi thuyết pháp linh động của cư sĩ.  Cách ăn ở trong nhà, sự đối xử hàng xóm hợp đạo lư, ấy là bài thuyết pháp sống của Phật tử tại gia.  Phật tử tại gia thực hiện được nhiệm vụ ḿnh, mới thật là người hộ đạo chân chính”.

         Hơn hai ngh́n năm trước, đức Phật mỗi khi truyền giới hay dạy một hạnh tu cho Phật tử tu tại gia đều dặn ḍ: “Người tu tại gia giữ được rất khó v́ nhiều nhân duyên ràng buộc” (Theo Kinh Ưu Bà Tắc)

         Cái khó v́ hoàn cảnh của người Cư sĩ Phật giáo đă có từ ngh́n năm trước và ngh́n năm sau vẫn c̣n khó.  Nhiều khi cái khó không phải phát xuất tự nó mà từ  những khái niệm và định kiến mà người ta mặc lên cho nó.  Bởi vậy, người Cư sĩ Phật giáo cùng lúc dấn bước trên hai con đường ngỡ như song hành nhưng lại đ̣i hỏi hai trách vụ khác biệt:  Đời và Đạo.  Hai con đường song song có cùng một điểm gặp gỡ: Chân Tâm.

Trần Kiêm Đoàn  (2003)