Phật Giáo Việt Nam:
TRƯỚC KHÚC QUANH HAY NGĂ RẼ…
Bản
văn ghi lại cuộc phỏng vấn của
liên
hội truyền thông VĂN NGHỆ PHẬT GIÁO VIỆT NAM HẢI
NGOẠI ( Viết tắt: VNPGHN)
và
ông Trần Kiêm Đoàn
Phần
giới thiệu: Nhân dịp giáo hội
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (PGVNTN) Hải Ngoại
thuộc văn pḥng II Viện Hóa Đạo vừa nhận giáo
chỉ số 9 của Viện Tăng Thống ở Việt Nam nội địa:
Ra lệnh giải tán, kể từ ngày 25-9-2007, mọi cơ
chế của GHPGVN hải ngoại được chính thức thành
lập và hoạt động từ năm 1992, đang hoạt động
theo nội quy nhà chùa và hợp pháp với chính
quyền sở tại từ trước đến nay. Đồng thời một
ban lănh đạo mới đă được chỉ định gồm 14 vị bao
gồm tu sĩ, pháp sư và cư sĩ với nhiệm kỳ “vô
thời hạn”. Sự cải tổ đột ngột nầy đă làm chấn
động dư luận và gây xôn xao trong giới Phật tử
tại gia và xuất gia trong cũng như ngoài nước.
Để phản
ảnh khách quan một phần những quan điểm đại
chúng khác nhau, nhóm VNPGHN chúng tôi – hoàn
toàn đứng ở vị thế độc lập của người Phật tử –
sẽ lần lượt phỏng vấn các nhân vật được xem là
đă và đang đứng trong hàng ngũ tăng ni, thiện
tri thức và Phật tử hằng quan tâm đến sinh hoạt
Phật giáo Việt Nam Hải Ngoại. Trong đợt phỏng
vấn “mở màn” nầy, chúng tôi t́m đến với ông Trần
Kiêm Đoàn (TKĐ). Lần nầy, chúng tôi mời ông TKĐ
vào cuộc phỏng vấn mở đầu sau đây v́ có 3 lư
do: (1) Ông TKĐ là một Liên đoàn trưởng Gia
Đ́nh Phật Tử Việt Nam từ thời 1962 và sinh hoạt
liên tục với các tổ chức Phật giáo Việt Nam cũng
như quốc tế trong suốt 40 năm qua, (2) ông TKĐ
là một trí thức Phật tử (GSTS) độc lập, không
đứng về phía “giáo hội” hay thuộc bộ phái nào cả;
đồng thời (3) ông là một người cầm bút năng nỗ,
có nhiều tác phẩm văn thơ, nghiên cứu, nhận định
về Phật giáo có giá trị đă xuất bản.
Phóng viên
đại diện cho liên hội VNPGHN, đơn vị Hoa Kỳ, là
anh Tâm Hải Đỗ Kiến Phúc (từ đây, xin viết tắt
là TH). Cuộc phỏng vấn kéo dài gần 2 tiếng đồng
hồ. Nội dung xin tóm tắt như sau:
*****
TH: Thưa anh Trần Kiêm Đoàn, xin anh vui
ḷng cho biết vài nét giới thiệu sơ lược về anh.
TKĐ: Thưa anh
Tâm Hải, tôi tên là TKĐ, 61 tuổi. Tên và bút
hiệu giống nhau. Hai mươi lăm năm ở Mỹ, tôi
thường sinh hoạt với Phật giáo Việt Nam, Phật
giáo Tây Tạng và Nhật Bản. Tôi là một Phật tử
độc lập, nghĩa là chỉ theo đạo Phật chứ không
theo nhóm phái nào cả. V́ vậy, nên hôm nay tôi
sẽ xin trả lời các câu hỏi của anh cũng bằng cái
tâm và sự nhận định riêng của ḿnh. Dạ, chỉ có
vậy.
TH: Theo
dơi các tác phẩm của anh, tôi biết là anh muốn
tránh xa chuyện chính trị. Tuy nhiên, để xác
định một thái độ trước các vấn đề Phật giáo mà
chúng ta sắp nói ra, anh có thể cho biết quan
điểm riêng của anh về chế độ Cộng sản Việt Nam
hiện nay và mối tương quan giữa chế độ ấy với
đạo Phật như thế nào không?
TKĐ: Là
người Phật tử, tôi có đời sống tâm linh, trong
lúc người CS chủ trương vô thần. Là người cầm
bút, tôi muốn có tự do sáng tạo, trong lúc người
CS kiểm soát tự do ngôn luận. Sự khác biệt đó
là nguyên nhân khiến tôi tránh xa những chuyện
chính trị như anh vừa nhắc đến.
TH:
Vâng, tôi có thể thấy và cảm nhận được điều đó
qua nhiều bài viết đủ thể loại; qua những nhân
vật mà anh đă gửi gắm tâm sự trong tác phẩm mới
nhất và công phu nhất của anh là cuốn “Tu Bụi”.
Xin được trở lại vấn đề trọng tâm nhất cùa chúng
ta hôm nay là cuộc “khủng hoảng Phật giáo” đang
diễn ra trong nội bộ của tổ chức PGVNTN tại hải
ngoại nầy
TKĐ: Tôi
không thấy Phật giáo Việt Nam đang lâm vào một
t́nh trạng nào gọi là “khủng hoảng” như anh vừa
nói. Có lẽ v́ tôi cũng giống như đại đa số Phật
tử thầm lặng khác, chỉ muốn đến chùa học Phật,
cảm nhận mùi trầm hương, quan chiêm h́nh ảnh đầu
tṛn, áo vuông và cuộc sống tịnh hạnh của quư
Tăng Ni cho tâm ḿnh được an lạc sau những giờ
lao vào công việc xô bồ tranh sống. Chắc anh TH
đă đọc qua nhiều bài viết của tôi đă xuất bản,
trong đó, tôi xem Phật giáo như một biển lớn
thái ḥa và an lạc. Những tổ chức Phật giáo
khác nhau cũng giống như những ḍng sông hay
những suối nguồn trôi về biển mẹ. Chẳng
lẽ v́ những ḍng sông hay suối nguồn nào đó dơ
bẩn, nhiễm độc, rác rưởi hay dậy sóng, cạn khô
mà biển mẹ cũng phải nổi sóng ba đào hoặc khô
cạn theo hay sao?
TH: Thế
th́ anh nghĩ như thế nào về Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam (PGVN) thân chính quyền – c̣n gọi là
“giáo hội quốc doanh”– và Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất (PGVNTN) chống chính quyền
hiện nay?
TKĐ: Để có
một tầm nh́n xác thực hơn, tôi xin phép được nêu
lên một hoàn cảnh thực tế rằng: Nếu tạm thời
xin rước qua một bên những nhóm phái hay đạo
tràng (con số lên đến hàng chục ở Việt Nam nội
địa và không dưới một chục ở nước ngoài) để tập
trung vào khung cảnh chính của đạo Phật Việt Nam
th́ có 3 khối chính: PGVN, PGVNTN như đă tŕnh
bày ở trên và một khối, khối chính, mà tôi tạm
thời xin gọi là Đạo Phật Việt Nam (ĐPVN) để dễ
phân biệt. Có thể nói một cách khẳng định mà
không sợ sai lạc với thực tế rằng: Có hơn chín
mươi phần trăm Phật tử tại gia và xuất gia chỉ
một ḷng theo Phật, chứ không theo ai cả. Họ
đến chùa, ăn chay, niệm Phật, cúng dường, lễ bái,
bố thí, làm việc thiện… là để tu học mong t́m
đường cứu khổ, an lạc và giải thoát cho ḿnh.
Hàng cư sĩ cũng như Phật tử tại gia đến chùa,
đảnh lễ quư Tăng, Ni là mong được tiếp cận với
những chiếc cầu tâm linh đạo cao đức trọng. Hẳn
nhiên, một người Phật tử b́nh thường nhất cũng
hiểu được rằng, nếu muốn làm chính trị, hay
chống đối - ủng hộ ai đó, người Phật tử chỉ cần
ra khỏi cổng chùa một bước là đă có rất nhiều
đoàn thể, tổ chức chính trị, xă hội, kinh tế sẵn
sàng đón tiếp họ để mời vào, nếu họ muốn. Do
đó, chẳng có lư do nào khiến người Phật tử vào
chùa để theo quư Thầy, Sư Cô hướng dẫn và
“thuyết pháp” về vấn đề chính trị hay chuyện
tranh chấp đời thường cả.
TH: Tôi
đồng ư với anh đấy là một thực tế tâm lư của
người Phật tử. Tuy nhiên,
sự hiện
diện của giáo hội PGVN quốc doanh và giáo hội
PGVNTN dù đa số hay thiểu số; nắm được đại chúng
Phật tử nhiều hay ít th́ vẫn là một thực thể
đang hiện diện và tồn tại khi nói đến Phật giáo
Việt Nam. Theo anh, họ đang ở vị trí nào trong
bức tranh chung của Đạo Phật Việt Nam hiện tại?
TKĐ: Thưa
anh, quan điểm của tôi đă được tŕnh bày rạch
ṛi trong cuốn sách mới nhất của tôi vừa xuất
bản là cuốn “Tu Bụi”. Gần suốt chương 24: –
Đạo Giữa Đời (từ trang 533 đến 552. Bản in
lần thứ 2) – tôi đă tŕnh bày bản chất và
h́nh tướng của những tổ chức nhân danh Phật giáo.
Các tổ chức đó là sản phẩm của thế quyền hay đối
lập với thế quyền đều không phải là Phật giáo mà
chỉ là phương tiện của phía nầy hay phía nọ để
tiếp cận với Phật giáo theo mục đích và phương
thế riêng của họ. Trong đạo Phật, phương tiện
là chiếc bè qua sông để đến bờ bên kia. Chiếc
bè không phải là ḍng sông mà cũng chẳng phải là
bến bờ nên đừng nhầm lẫn phương tiện với mục
đích. Cũng thế, đừng đồng hóa h́nh thức “giáo
hội” với Phật giáo. Đă có biết bao nhiêu Phật
tử xuất gia và tại gia đến với giáo hội, vào
giáo hội, nhưng chẳng bao giờ đến được với Phật
giáo. Và ngược lại, cũng đă có biết bao nhiêu
Phật tử đến với Phật giáo, theo Phật giáo nhưng
chẳng bao giờ bén mảng tới giáo hội.
TH: Như
thế th́ thực chất vai tṛ của giáo hội là để làm
ǵ?
TKĐ: Thực
chất th́ mỗi “giáo hội” là một chiếc bè trong vô
số chiếc bè. Nhiều trường hợp, nhiều hoàn cảnh
khác nhau sẽ đẻ ra nhiều giáo hội khác nhau.
Phật giáo nói chung và đạo Phật Việt Nam nói
riêng cũng đang có những giáo hội Phật giáo mang
tên Cột, Kèo, Tranh, Tre… nào đó, do nhân vật
Ất, Giáp, Bính, Đinh… nào đó lập ra và tự xem
ḿnh là Đạo chính thống, là Phật giáo đích thực,
là có toàn quyền về mọi mặt sinh hoạt của Phật
giáo; có uy quyền trên tín đồ Phật giáo. Sự lạm
nhận thô bạo về vai tṛ tổ chức giáo hội đă xẩy
ra cho một số tôn giáo phương Tây thời Trung
Cổ. Thời nay, một sự lạm dụng danh nghĩa như
thế là một sự sai lầm nghiêm trọng về cả hai mặt
đạo lư và pháp lư. Đấy là sự vi phạm trắng trợn
quyền tự do tín ngưỡng, gây chướng ngại cho đời
sống tư hữu và tâm linh. Điều đáng xót xa hiện
nay là phần đông đạo hữu Phật tử chúng ta, c̣n
có người thiếu phương tiện t́m hiểu và phân biệt
nên cứ xem “quư Thầy trong giáo hội… nào đó” là
hiện thân của Phật, của Bồ Tát nên đă bị những
thế lực vô minh, phi Phật giáo lợi dụng một cách
đáng tiếc. Thấy được từ tầm xa, khả năng nguy
hại, gây rối đạo của “giáo hội”, nên thời c̣n
tại thế, Đức Phật đă bác bỏ hoàn toàn lời thỉnh
cầu của Đề Bà Đạt Đa muốn thành lập giáo hội
Phật giáo để hỗ trợ chư tăng đương thời.
Nếu với yêu
cầu thể hiện tính tổ chức cho tôn giáo thời nay,
h́nh thức “giáo hội” có thể h́nh thành với sự
chọn lựa dân chủ của tập thể đồng thuận đứng
dưới danh nghĩa giáo hội. Sự chỉ định “tầm xa,
tầm gần” thiếu sự đồng thuận của những thành
viên liên hệ chỉ tạo thêm họa bất đồng và phân
hóa. Một giáo hội phân hóa là một phương tiện
què quặt ví như một chiếc thuyền thủng đáy đang
ch́m. Thuyền không tồn tại th́ lấy đâu phương
tiện an toàn để chở thành viên đến bến, đến bờ
(tu chứng).
TH: Nói như thế th́ theo anh, có bao nhiêu
phần trăm Phật tử theo giáo hội PGVN của nhà
nước, giáo hội PGVNTN chống chính quyền
VN?
TKĐ: Anh có
thể t́m đến bất cứ chùa Việt Nam nào trong nước
hay ở hải ngoại, hỏi các Phật tử rằng: “Ông, bà,
cô bác… đang theo giáo hội nào thế?” Anh sẽ nhận
được câu trả lời chính xác nhất. Năm học vừa
qua tôi có giúp một sinh viên của tôi làm luận
án cao học xă hội ở trường CSUS về một đề tài có
liên quan đến Phật giáo Việt Nam. Trong nhóm
câu hỏi gửi ra cho quần chúng để thâu thập dữ
kiện, có một câu hỏi về khuynh hướng “theo giáo
hội nào” nêu trên, được gởi cho Phật tử đang
sinh hoạt tại các chùa ở tiểu bang California và
các tiểu bang đông người Việt khác trên đất Mỹ.
Kết quả là trong số thu về, có 432/456 (94.73%)
câu trả lời đại ư: “Tôi theo Phật, chẳng biết
giáo hội nào và chẳng theo giáo hội nào cả…”
Tôi tin rằng, đa số tuyệt đối Phật tử đến chùa
là để tu học. Có chăng chuyện hội hè đ́nh đám
th́ cũng là chuyện đời thường bên ngoài mà thôi.
TH: Như
thế theo anh th́ đâu là sức mạnh thật sự của đạo
Phật Việt Nam.
TKĐ: Câu hỏi
của anh đă đặt lại một vấn đề trọng tâm của đạo
Phật Việt Nam. Đó là câu hỏi then chốt: “Đâu là
sức mạnh thực sự để sống c̣n của đạo Phật Việt
Nam?”. Nếu hoàn cảnh khách quan và chủ quan
không hội đủ trọn vẹn truyền thống Tam Bảo Phật,
Pháp, Tăng th́ yếu tố nào là sức mạnh chủ đạo
giúp cho đạo Phật tồn tại đến ngày nay? Theo
tôi th́ có hai cách nh́n khác nhau anh ạ:
- Nếu nh́n
dưới khía cạnh tiêu cực th́ Phật giáo Việt Nam
rất có thể đă bị lọt vào quỹ đạo “chia để trị”
rất cổ điển, nhưng lại rất “được việc” cho thế
quyền trong suốt ba chục năm qua. Thế quyền VN
chẳng mất ǵ cả, nhưng đạo Phật gần như mất đi
hơn một thế hệ (mỗi thế hệ tính b́nh quân là 25
năm) tiến thối lưỡng nan trong trùng vây của
nghi kỵ, phân hóa và thậm chí huynh đệ đồng tổ,
đồng tông, đồng đạo chối bỏ, chống báng lẫn
nhau.
- Nếu nh́n
dưới khía cạnh tích cực th́ phần đông, người
Phật tử Việt Nam b́nh thường đáng được hoan hỷ
tán thán công đức v́ đă trực tiếp hay gián tiếp,
vô h́nh chung, thấm nhuần được tinh thần “phá
chấp” để thực hành nguyên tắc “tùy duyên bất
biến” cốt tủy của đạo Phật. Họ kỉnh Phật trọng
Tăng, quy y Tam Bảo nhưng không c̣n ảo tưởng
nh́n Phật qua Tăng; không nh́n Tăng qua Chùa;
không nh́n Chùa qua Tượng đài lễ lạc. Họ mang
đức tin t́m đến Đức Phật ngay chính trong tâm
ḿnh mà đảnh lễ.
TH: Như
thế có nghĩa là người Phật tử không c̣n tin
tưởng tuyệt đối vào sự d́u dắt tu học của chư
Tăng Ni hay sao, thưa anh?
TKĐ: Dạ, đúng
một nửa…
TH: C̣n
nửa kia th́ sao?
TKĐ: Nghĩa là
Phật tử hôm nay đều hiểu được rằng, bức tượng
không làm nên ông Phật; mái chùa không làm nên
Niết Bàn; chiếc áo không làm nên thầy tu. Hầu
hết Phật tử đảnh lễ quư Tăng, Ni v́ phẩm hạnh
đạo cao đức trọng mà những Phật tử tại gia đang
thiếu. Ngoài ra, tất cả những phương tiện phàm
tục khác như lợi khẩu, kiến thức, bằng cấp, điạ
vị, vật chất, thủ đoạn, mưu kế, kể cả thói hư
tật xấu… th́ hàng Phật tử đời thường có nhiều
hơn, trội hơn hàng tu sĩ là hẳn nhiên rồi.
Không ai ngây ngô đến chùa hay bái kiến quư
Thầy, quư Sư Cô để mong t́m những “phẩm vật” đời
thường như thế đâu. Bởi vậy, khi một nhà tu chỉ
cốt nói cho hay, khoe khoang cái giả ngă cho
lắm, phê phán đồng môn, đồng đạo cho nhiều… tức
là đang đi vào ngơ cụt lấy cái sở đoản làm sở
trường cho một nhà tu chân chính!
TH: Thưa
anh, tôi vẫn đang c̣n phân vân v́ chưa hiểu câu
trả lời của anh dẫn đến trọng tâm nào?
TKĐ: Như lời
Phật dạy, thời mạt pháp như thời đại chúng ta
hiện nay sẽ có hiện tượng phàm tăng nhiều hơn
thánh tăng; kiêu tăng nhiều hơn danh tăng; ác
tăng nhiều hơn minh tăng… nên mỗi khi có hiện
tượng nhóm phái tranh chấp trong giáo hội, chư
tăng bất ḥa, thiền môn bất tịnh th́ Phật tử
không c̣n đau buồn cúi lạy đợi chờ tiêu cực một
sự “hoá giải” nào đó mà chủ động lặng lẽ tránh
xa. Nhất là ở Hải ngoại nầy, người Phật tử hay
bất cứ ai đều có quyền tự do lập nên giáo hội
mới, chùa chiền tu viện mới, triệu tập đồng đạo
mới mà không phải lệ thuộc ai cả. Thực tế th́
điều nầy đă xảy ra khắp nơi. Trong xă hội thực
dụng th́ tiền bạc có tiếng nói quyết định,
“money talks”… mà anh! Và, xa hơn nữa là nếu hệ
thống đạo Phật Việt Nam không c̣n hiện hữu nữa
th́ người Phật tử có tín tâm vẫn c̣n quá nhiều
cơ hội để tiếp cận với nguồn suối tâm linh Phật
giáo. Như anh biết đó, đă có hiện tượng trí
thức Phật tử hải ngoại, thất vọng trước thực
trạng phân hóa của Phật giáo Việt Nam nên đă xa
rời chùa Việt để qua chùa Người. Hiện nay hệ
thống các chùa chiền, tự viện thờ phụng tôn
nghiêm, tăng đoàn ḥa hợp, tổ chức trang trọng
của Phật giáo Trung Hoa (Đài Loan), Tây Tạng,
Nhật Bản, Đại Hàn, Thái Lan, Miến Điện… có mặt
khắp nơi trên toàn thế giới. Có thể nói họ đă
tạo được những cơ sở vật chất và nhân sự vững
chắc, phong phú mà Phật giáo Việt Nam chúng ta
c̣n phải đứng xa để nh́n.
TH: Khi
nói đến ư nầy, anh có ư ám chỉ điều ǵ đến t́nh
trạng sắp sửa có hai giáo hội Việt Nam Thống
Nhất sau khi Giáo chỉ số 9 nhân danh Đệ Tứ Tăng
Thống mà người ta cho rằng đấy là sản phẩm của
ông Vơ Văn Ái không?
TKĐ: Theo
tôi, hoặc đă quá muộn, hoặc c̣n quá sớm để nói
đến những điều nầy. Quá muộn, nếu đă có một
nhóm người cấu kết với nhau, ám muội làm ra
những điều này sau lưng ngài quư thầy lănh đạo
GHVNTN đang c̣n bị kẹt ở quê nhà, để mưu cầu
quyền lực cho phe nhóm của ḿnh. Quá sớm, nếu
có những người đang có tấm ḷng cao quư, muốn
hóa giải xung đột, tạo tinh thần ḥa hợp chư
Tăng Ni, ít nhất là ở hải ngoại nầy, mà chưa làm
được.
Tôi tin là
với hoàn cảnh thông tin vi tính trong một xă hội
khoa học kỹ thuật hiện nay tại các nước Âu Mỹ
nầy, cái chất mê tín “khải huyền” (mythologization)
đă qua rồi. Các tôn giáo phương Tây đang t́m
cách “giải huyền” (demythologization) để đưa tín
đồ họ ra khỏi ṿng lẩn quẩn của mê tín. Phật
giáo là một tôn giáo khoa học nên tu sĩ Phật
giáo cũng cần trang bị tinh thần khoa học hiện
đại như thế. Những huyền thoại “thánh tăng”
thời Đạt Ma Tổ Sư; “Bồ Tát hoá thân” Tế Điên Ḥa
Thượng của ngh́n năm trước không có lư do tồn
tại hôm nay. Mọi chuyện cần phải rạch ṛi và
nghiêm cẩn mới giữ được nghi vệ căn bản của nhà
tu, bảo tồn phương danh của Đạo Pháp. Như trường
hợp tu sĩ có vợ con đùm đề sau khi đă xuất gia
là phạm trọng giới, nhất thiết phải cởi áo cà sa
hoàn tục, không thể có hiện tượng “tu sĩ có vợ
con hạng nhất, tu sĩ có vợ con hạng nh́…”; vẫn
trơ ĺ khoác áo chư tôn bén mảng đến chùa làm
xúc phạm chốn Thiền Môn! Cũng như trường hợp tu
sĩ đă từng bị lên quan xuống huyện về việc quan
hệ t́nh dục, ngược đăi hay lạm dụng tín đồ đă bị
quan chấp pháp kết tội, vị đó cần phải biết ẩn
tu để xét lại ḿnh, ăn năn sám hối, không có lư
do vẫn ung dung xênh xang y cụ, biến ḿnh làm
gương xấu cho thế hệ đàn em và biến nhà chùa
thành bất tịnh.
TH: H́ h́…
Đồng ư! Đồng ư!... Nhưng c̣n trường hợp những tu
sĩ đă từng xách động quần chúng xuống đường
xuống hố, biểu t́nh, băi khóa, đ́nh công, băi
thị, xúi dục tín đồ lăn vào chỗ chết làm cho xă
hội điêu linh, nhà tan cửa nát; trong lúc bản
thân ḿnh vẫn tà tà ăn trên ngồi trước, du học
ngoại quốc kiếm bằng kiếm biếu trang trí đầy
ḿnh. Khi nguy biến, sống chết mặc bây, họ
nhanh chân ra nước ngoài; rồi an thân xây dựng
sự nghiệp vinh thân ph́ gia bằng đồng tiền mồ
hôi nước mắt của người đồng đạo, đồng hương.
Nay cũng chính những vị đó, đâu bốn chục năm sau,
lại “can đởm” ra mặt kêu đ̣i đấu tranh cho hạnh
phúc của tha nhân, rêu rao yêu đạo, yêu đời th́
anh nghĩ sao?
TKĐ: (Giơ cả
hai tay lên trời) Thưa anh TH, câu khỏi của anh
không khó, nhưng nó làm tôi bức xúc quá. Vậy,
xin anh cho tôi tạm làm người câm điếc trong
tiểu mục này nhé.
TH: Anh
vẫn chưa trả lời vào trọng tâm câu hỏi là liệu
sau Giáo Chỉ số 9, giáo hội PGVNTN có bị đổ vỡ
như trường hợp Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự sau
1963 không?
TKĐ: Tôi có
đọc một số bài viết của quư thầy, quư cư sĩ và
các bậc thiện tri thức đă trực tiếp hay gián
tiếp đề cập đến hiện trạng Phật giáo đang có
khuynh hướng đi đến “nhất giang lưỡng quốc nan
phân thuyết…” như anh vừa nói. Nhưng hoàn cảnh
đă khác sau hơn 40 năm. Với những kinh nghiệm
dạn dày ch́m nổi của lịch sử Phật giáo trong hơn
nửa thế kỷ qua, với tốc độ nháy mắt của môi
trường truyền thông đại chúng, với sự tiếp cận
của người Việt với nền văn minh, văn hoá Âu Mỹ…
chúng ta đang tự ḿnh biết mở tầm mắt lớn hơn để
thấy rơ là sức mạnh của đạo Phật không chỉ nằm
gọn trong tay thế lực tu sĩ và sự quản lư của
nhà chùa như thời quá khứ. Sự phân hóa đă diễn
ra trong suốt 30 năm qua chứ có phải hôm nay hay
sắp đến. Phân hóa làm đau ḷng người Phật tử.
Nhưng Phật tử thời đại nầy có tầm nh́n sáng suốt,
chủ động biết ḿnh phải làm ǵ và ai để mà
theo.
TH: Như
thế theo anh điều ǵ mới thật sự là quan trọng
trong sinh hoạt Phật giáo ngày nay?
TKĐ: Sự tương
tác ḥa điệu giữa Phật tử, cư sĩ tại gia và chư
Tăng, Ni là điều kiện sinh tử cho một ḍng chảy
Phật giáo lành mạnh trong thời đại chúng ta
trong cũng như ngoài nước. Sau hơn 30 năm thao
thức mà tuồng như ngủ say, giờ đă đến lúc chư
Tăng, Ni và Phật tử cần tỉnh táo để định nghĩa
Phật giáo Việt Nam như thế nào và Phật tử Việt
Nam là ai giữa ḷng thế giới. Sự phân hóa và
chia phe, lập nhóm tôn giáo trong thời đại nầy
sẽ đồng nghĩa với hành động tự cô lập hóa theo
nghiệp chướng “thập nhị sứ quân” đầy vọng động.
TH: Nhận
định của anh thật đầy tâm huyết, nhưng ai sẽ là
cá nhân, là tập thể có trách nhiệm tiến lên hàng
đầu, cầm cân nẩy mực cho một h́nh thái Phật Giáo
Việt Nam lành mạnh đây?
TKĐ: Điều nầy
chỉ có thể quyết định được khi có một sự chấn
hưng Phật giáo toàn vẹn đúng nghĩa. Ngoài ra,
những tổ chức Phật giáo lớn hay nhỏ, mạnh hay
yếu, nhưng không phải là chỗ dựa đáng tin cậy
cho chín mươi phần trăm của tổng số người theo
Đạo Phật Việt Nam – kể cả Phật tử xuất gia và
tại gia – th́ rốt cuộc cũng chỉ là những khe
suối chảy quanh quẩn bên ngoài Biển Mẹ Đạo Phật
mà thôi. Tham vọng “lănh đạo Phật giáo” bất cứ
từ phía nào trong một hoàn cảnh phân hóa như
hiện nay rơ ràng không những là một ảo tưởng mà
là một sự hoang tưởng tâm linh của vô minh và
tham vọng hời hợt nhất thời.
TH: Thưa
anh, cuộc phỏng vấn đă khá dài. Nếu xin anh có
một lời tâm t́nh hay một đề nghị sau cùng trong
t́nh h́nh Phật giáo như hiện nay th́ anh sẽ nói
lên điều ǵ?
TKĐ: Cám ơn
anh đă cho tôi có một cơ hội tŕnh bày thêm điều
ḿnh muốn nói. Nếu có một lời tâm huyết th́
tôi chỉ xin đảnh lễ chư Tăng Ni để xin quư ngài
thành tâm thực hiện lời Phật dạy “Tăng già hoà
hợp, tứ chúng đồng tu” trong một thời điểm cực
kỳ nóng bỏng và nhạy cảm của Phật giáo Việt Nam
như hiện nay. “Cứu đạo tức là trực tiếp cứu
ḿnh và gián tiếp cứu đời” là trách nhiệm của
quư Thầy và quư Sư Cô trong lúc nầy. Và, xa hơn
nữa, tôi xin được cung kính đảnh lễ tiếp các tác
giả đang viết về hiện trạng Phật giáo để thưa
rằng, trên các báo chí và trang websites đă xuất
hiện quá nhiều bài viết “nóng bỏng” liên quan
đến chư Tăng, Ni. Chỉ có điều tôi xin thưa rằng,
tinh thần Phật giáo là tinh thần phá vô minh.
Bởi vậy, chúng ta không cần gieo vô minh bằng
những h́nh thức dấu tên, chụp mũ lẫn nhau. Chụp
mũ là một h́nh thức kê “ḅ triệt”, đóng cửa đối
thoại trong thuật chơi cờ Domino. Nó nói lên
một thái độ hàm hồ và một tinh thần ốm yếu lư
luận v́ đuối lư hay v́ đang mang một tri thức
đầy sợ hăi. Cửa chùa bao giờ cũng là “vô môn
quan”. Xin đến với nhau bằng cánh cửa quang
minh rộng mở ấy.
Dạ, chỉ có
thế thôi và xin cám ơn VNPGHN, qua anh Tâm Hải,
đă cho tôi một cuộc tiếp xúc chuyện tṛ rất
thích thú và đầy ư nghĩa.
TH: Tâm
Hải và VNPGHN cám ơn anh TKĐ.
Tâm Hải
Đỗ Kiến Phúc
(Ghi lại
và hiệu đính lần thứ hai: 25-10-2007)
tôn giáo - phật giáo