Trần Kiêm Đoàn 

 

THÂN ĐÂU TÂM ĐÓ



BBT PGHN Xuân - Thật không ngờ cái thói quen nó lại ngang bướng đến như thế. Khi người ta đă quen với nó rồi th́ bỗng một ngày đẹp trời nào đó, cái thói quen đứng lên kèn cựa với cuộc sống đang trôi chảy ngoài kia. Cái thói quen đầy ngă mạn, chống nạnh, nh́n cái thân im lặng đầy kham nhẫn và lớn tiếng tuyên bố “Ta là vậy đó!”. Hèn ǵ Homère từng kêu lên: “Ôi, thói quen là một thiên tính thứ hai!”. Được dịp đến chùa Diệu Nhân ở thành phố Rescue, miền Bắc California nước Mỹ, để tham dự khóa tu học ba ngày với tiêu đề “Thân đâu tâm đó”, tôi muốn ghi lại sự xung đột nội thân tâm của chính ḿnh trong khung cảnh “vô môn quan” của suy niệm và thực tế.


 

Một góc chùa Diệu Nhân - Ảnh: dieunhan.net
 

          Chúng tôi đến chùa Diệu Nhân: Chùa ở trên đồi cao, xung quanh là núi rừng trùng điệp. Những giờ tọa thiền tĩnh lặng như mất hút trong rừng thu. Sự im ắng của suối thiền, tâm định đôi khi chợt lao xao với tiếng gió qua đồi, tiếng lá xào xạc, tiếng chim gọi bầy, tiếng phong linh lắt lay ngoài hiên. Chín giờ tọa thiền, cộng lại là hơn một ngày từ sáng đến chiều ngồi trầm tư mặc tưởng! V́ đă có thói quen ngồi tĩnh lặng hàng ngày - thường là 30 phút - ở nhà, nên khi ngồi ở chùa đâu được chừng nửa giờ là sau đó tôi bắt đầu cảm thấy “không yên”. Cảm giác ngứa ngáy từ đâu hiện về trên da thịt. Những vọng tưởng nối đuôi nhau khởi lên. Cảm giác và ư nghĩ hợp lại (có thể gọi là “Tâm” chăng) tấn công khối thân thể ngồi xếp bằng theo thế bán-già. Tôi cố sức muốn đuổi cái “tâm” đi cho thân xác được ngồi yên mà… thiền định. Nhưng cái tâm đeo riết cái thân, càng muốn định tâm th́ thân tâm càng hỗn loạn. Sau buổi ngồi “thiền” một giờ đầu tiên với đại chúng ở chùa tôi cảm thấy mệt nhoài.
 

Nhưng nghĩ xa, nghĩ gần, rồi cũng phải dọn ḿnh để tiếp tục “vào thiền” theo đại chúng.
 

Nửa giờ sau của buổi ngồi thiền kế tiếp, tôi thử dùng “trí” để chọi với cái “tâm”. Mở đầu cuộc… phản công, tôi bắt cái thân ḿnh phải ngồi yên, nhắm mắt. Tôi cố duyệt lại ba chưởng lực căn bản của Thiền có dạy trong kinh Viên giác là: Chỉ (chặt đứt mọi ư tưởng, cảm nhận, cảm xúc vừa dấy lên), quán (đắm ḿnh suy tưởng về một h́nh ảnh, ư tưởng, chuyện, hay đề tài nào đó), tịnh (dọn sạch đầu óc và giữ cho thân tâm hoàn toàn rỗng lặng). Tôi cố nhớ lại 25 vị thế tương tác của chỉ <> quán <> tịnh khi tọa thiền và cảm thấy cả thân và tâm của ḿnh như hai đứa trẻ chơi tṛ cút bắt nhau. Chúng chỉ tạm ngừng lại khi đứa này bắt được đứa kia. Tâm tôi láu lỉnh chạy nhảy tung tăng trong lúc thân tôi bị buộc lại. Chân co, tay xếp, mắt nhắm, tai mắt mũi lưỡi đều ở thế “tịnh” như thế này th́ làm sao tôi có thể chụp bắt được “thằng tâm” hiếu động vừa ở trong tôi, vừa ở ngoài tôi, vừa nhảy tưng tưng quanh địa cầu, vũ trụ.

 

Tâm không điểm tựa mới là chân tâm - ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm
 

Hay bởi tôi chưa biết mặt mũi tâm tôi như thế nào nên không biết nó giống cái ǵ và diện mạo ra làm sao nên nó đứng sờ sờ bên cạnh tôi mà không cách nào tóm nó được?
 

Cũng giống như quan niệm của phần đông đại chúng, tôi thường nghĩ một cách “chỉn chu” rằng, tâm cũng là một “thực thể” dễ nắm bắt như thân; nhưng chỉ có khác là ở phạm trù tinh thần. Mỗi người đều có một cái tâm như có một trái tim ở trong người. Người Trung Quốc đồng hóa khái niệm “tâm” với trái tim. Người phương Tây cũng diễn đạt cảm xúc yêu thương với “love with all my heart - yêu thương với cả trái tim”. Nhưng khi họ dịch chữ tâm trong đạo Phật th́ lại dịch là “mind: tâm trí và mindfulness: chánh niệm”. Nói tóm lại là người ta nói đến tâm cũng như nói đến Trời và Đất. Nó trên đầu ta, trong ḷng ta, dưới chân ta mà chẳng ai với tới. Người ta cứ tưởng tâm, Trời, Đất là của ḿnh v́ lúc nào cũng có nó bên cạnh nhưng chẳng có ai nắm được trong ḷng bàn tay.
 

Sáu lần ngồi thiền c̣n lại trong khóa tu học, tôi nhất định phải dùng một nửa ba mươi phút sau của “cảm giác ngứa ngay bất an” để đè cái tâm bất an của ḿnh xuống. Tôi kiếm cái đầm tư tưởng mà nện xuống cho chặt cái tâm vượn lăng xăng của ḿnh bằng cách nhớ lại những câu hỏi đậm nét nhất trong chương tŕnh tu học.


 

Tâm là ǵ?
 

Có lẽ đây là câu hỏi lớn nhất chiếm lĩnh tâm trí mọi người nhiều mặt mà nhất là trong lĩnh vực tôn giáo và triết học. Ai cũng ngỡ là ḿnh biết rơ cái tâm của ḿnh qua những cảm xúc, cảm thọ nhất thời. Nhưng khi đặt nó trong mối tương quan “Thân đâu tâm đó” th́ t́m mặt mũi cái tâm như thế nào mà kiếm hoài không ra. Cũng chẳng có ǵ lạ. Từ thời Vệ Đà Ngữ Tuệ, mấy ngh́n năm trước khi Đức Phật ra đời, các đạo sư Ấn Độ đă cất công đi t́m cái tâm ngoài thân xác mà t́m không ra. Phái Khổ Hạnh th́ cứ tưởng diệt thân xác là tâm hiển lộ. Phái Hưởng Lạc th́ cứ nghĩ là chăm bón cho cái thân xác căng phồng lên th́ tâm sẽ hớn hở bày ra đứng trên thân xác mà ca bài hành lạc thú. Nhưng tâm vẫn cứ nằm trong góc khuất của một vùng trời bí ẩn. Trong đợt tu học này, tuy t́m tâm chưa ra, nhưng tôi quyết phải t́m tâm - ít nhất là cái tâm bé nhỏ như hạt cát, hạt bụi của ḿnh - để đóng vào khung “Thân đâu, tâm đó” cho khỏi trễ tràng chuyện công phu!

 

Tôi cũng ngồi xếp bằng, nhắm mắt quan sát hơi thở... (ảnh chỉ mang tính minh hoạ)
 

Tôi cũng ngồi xếp bằng, nhắm mắt quan sát hơi thở theo cả trăm người đang ngồi trong tiền đường nhà chùa lặng lẽ như nhau. Ba mươi phút trôi qua. Cơn ngứa ngáy bắt đầu. Tôi hé mắt nh́n qua khung cửa kính. Là mùa thu đủ màu xanh, nâu, vàng, đen, trắng đỏ... cái rụng chao ḿnh xuống đất, cái lắt lay nương ḿnh theo gió. Tôi nghĩ cái tâm của tôi đă ra ngoài khung cửa sổ, đến bên những ngọn lá và chờn vờn theo gió, tắm gội nắng vàng và say sưa bay nhảy. Rồi gió mạnh, thổi rạp những ngọn cây, cả bầu trời xanh thăm thẳm và từng dải mây hồ hải bay qua. Thiên nhiên bao la quá và tôi nghĩ đến “tam thiên đại thiên thế giới, hằng hà sa số chư Phật...”. Tôi cảm thấy như đôi mắt ḿnh đang đưa tiễn, nâng cao cái tâm của ḿnh trở thành rộng bao la như vũ trụ. Tôi bay theo tâm và rời thân xác lúc nào không hay. Bỗng có tiếng động nhè nhẹ và cái thước gỗ bảng lớn như cái quạt giấy đụng vào vai tôi, rồi có tiếng nhắc êm nhẹ của một vị sư cô hộ thiền: “Chú ngồi thẳng lên và nhích đầu về phía bên trái một chút.” Tâm tôi bay vút từ không gian mơ mộng ngoài kia và nhỏ lại thành một điểm trên vai. Tâm (hay ai, hay lực ǵ) truyền lệnh cho tôi phải vâng lời sư cô ngồi thẳng lưng và nhích đầu về bên trái. Rồi nhéo một cái như kim đâm trên má phải. Tôi x̣e tay đánh “bép” vào chỗ đau trên má. Ồ th́ ra con muỗi từ ngoài sân bay vào đốt trên má tôi. Trong một thoáng rất nhanh, tôi có cảm giác như tâm tôi co rúm lại thành một điểm trên má...
 

Cứ thế, cảm xúc, suy nghĩ và cảm giác của tôi thay đổi và biến hiện không ngừng. Thân tôi ngồi yên một chỗ; trong khi tâm tôi bay khắp mười phương và mơ tưởng tới ba ngh́n thế giới hay co lại thành một chỗ trên vai, một điểm trên má. Đó là tâm, một mảnh của tâm hay không phải là tâm. Nếu là tâm th́ tâm là ǵ; nếu không là tâm th́ tâm là ǵ?
 

Chẳng có một định nghĩa hay một khái niệm nào về tâm được xác định hay trở thành khuôn thước cả.
 

Trong im lặng, một ư tưởng dấy lên: tâm là một trạng thái của tánh Không và Duyên khởi chăng? Nghĩa là tâm không có h́nh tướng thường hằng, nhưng tâm lại xuất hiện dưới thiên h́nh vạn trạng tùy theo những điều kiện khởi lên và tác hợp gọi là “duyên” mà thành, mà hiện, mà biến chuyển không ngừng. Thân như đáy giếng sâu, như mặt hồ phẳng lặng. Tâm như một đêm trăng, một buổi chiều, một cơn băo, một chiếc đ̣ ngang dọc trên sông. Sông ngời bóng trăng, tím lịm buổi chiều, dậy sóng quay cuồng trong cơn băo, đẩy nhẹ thuyền đi. Nhưng không bị cột buộc vào nhau. Tâm là tất cả, là một và không là ǵ cả. Rồi không vẫn hoàn không. Tôi cảm thấy một niềm vui nhẹ nhàng hiện đến khi có tiếng chuông xả thiền thanh thoát gióng lên. Thân đâu tâm đó hay thân đó tâm đâu hay thân tâm đâu đó làm sao xác định được và có ǵ quan trọng đâu mà phải gán ghép, mong cầu trói buộc hay tách rời nhau.

 

Chùa Diệu Nhân vào xuân - Ảnh: dieunhan.net

 


Tâm ở đâu?


Giờ ngồi thiền kế tiếp trong khóa tu học tôi cứ mong ba mươi phút đầu trôi qua cho nhanh để được sống hạnh phúc một ḿnh trong nửa giờ c̣n lại. Cả mấy ngh́n năm tri thức của nhân loại đuổi theo cái bóng của tâm mà chưa hề có ai bắt gặp. Những sự suy tư uyên áo nhất của nhân loại cũng phải buông tay hay phỏng đoán mơ hồ qua những diễn đạt “mờ mờ nhân ảnh”. Bởi một khi có bóng th́ phải có h́nh, có gốc sinh ra, có nơi nương tựa. Nhưng tâm ở khắp nơi mà không ở đâu cả th́ làm sao có thể chụp h́nh, vẽ bóng cho tâm.
 

Chuyện Đức Phật Thích Ca thuyết thiện giả A Nan định vị tâm ở đâu tới bảy trường hợp ghi lại trong kinh Lăng nghiêm quả thật là linh động và thú vị. Đó là tâm cảnh trong ống kính vạn hoa: tâm ở trong ta, tâm ở ngoài ta, tâm ở giữa ta, tâm núp sau đuôi mắt ta... tất cả chỉ là những khái niệm khai mở mang tính giả định. Trong khi A Nan theo thói thường trần thế, quyết phải t́m cho tâm một chỗ dựa, một chốn nương thân th́ Đức Phật dùng tuệ quang minh đuổi tâm chạy quanh cho đến khi A Nan buông tay không thể t́m cho tâm một điểm tựa. Tâm không điểm tựa mới là chân tâm - ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm - v́ c̣n điểm tựa là c̣n dính mắc. Tâm là hạt bụi, là mảnh h́nh hài, là buồn vui thế sự, là tiếng sấm nổ bùng, là thiên vơng khôi khôi - lưới trời lồng lộng - bao trùm vũ trụ mà c̣n dính mắc vào đâu th́ tâm sẽ đông cứng lại thành tượng đài hay triết lư mà tan biến.
 

Mỗi thân xác, mỗi mảnh h́nh hài đóng vai một trợ duyên hay một nghiệp quả để soi bóng trong mặt hồ phẳng lặng của tâm. Tâm là ḍng nước luân lưu vô tận. Thân th́ có thể trợ duyên hay có khi đeo theo nghiệp quả để biến tâm thành tâm thiện, tâm ác, tâm tham, tâm xả, tâm tà, tâm định, tâm có, tâm không... Thân làm biến đổi tính chất của tâm thành vô cùng vô tận như một vụm nước trong có thể biến thành bát chè xanh, chén nước mắm, tô canh, hũ tương, chén thuốc độc, chén thuốc bổ... tùy theo chất dùng ḥa tan trong đó. Tâm sẽ biến chuyển theo thân mạng và nghiệp lực của sinh thể. Cái sinh thể c̣n phải đeo mang thân xác phải dựa vào tâm để có linh hồn. Nên khi tâm dính vào thân nào đó th́ tâm trở thành “thuộc tính” của thân, của nhân vật nào đó mang cái thân tứ đại và nghiệp báo trùng trùng. Tâm A Dục Vương thời chưa gặp Phật ḥa tan với nghiệp sát mà biến ông thành bạo chúa. Nhưng khi tâm vua A Dục được Phật lực khai thị rồi th́ cũng tâm đó nhưng lại được ḥa tan với suối nguồn sám hối, từ bi, trí tuệ mà biến ông thành đại hiền vương hộ pháp, độ sinh. Cùng một thân xác nhưng tùy theo trạng thái của tâm mà thay đổi. Xưa Thượng toạ bộ chia ra làm 141 loại tâm (89 tâm vương và 52 tâm sở). Đến Tuệ Trung thượng sĩ, thầy của Phật hoàng Trần Nhân Tông, th́ tâm là “bất khả thuyết - không thể nghĩ bàn”:


Phật! Phật! Phật! Bất khả kiến!
Tâm!Tâm!Tâm! Bất khả thuyết!
Nhược tâm sanh thời thị Phật sanh.
Nhược Phật diệt thời thị tâm diệt.

(Phật tâm ca - Tuệ Trung thượng sĩ)


Nghĩa là:


Phật! Phật! Phật! Làm sao thấy rơ!
Tâm! Tâm! Tâm! Rất khó nghĩ bàn!
Có tâm, có Phật rơ ràng,
Không tâm, không Phật hai đàng đều không.


Xưa, có lần tăng Huệ Giác hỏi đại sĩ Tuệ Trung:
“Các vị tôn đức ngày xưa nói: ‘Vô tâm tức là đạo’. Có phải vậy chăng?”
Tuệ Trung đọc bài kệ:


Nguyên không tâm không đạo
Có đạo chẳng vô tâm
Tâm, đạo đều vắng bóng
Biết nơi đâu truy tầm.


(Bổn vô tâm vô đạo
Hữu đạo bất vô tâm
Tâm đạo nguyên hư tịch
Hà xứ cánh truy tầm).


Tăng hỏi tiếp:
“Như vậy, kết luận là tâm ở đâu?”.


Tuệ Trung:
“Sắc chẳng phải không. Không chẳng phải sắc”.


Vị Tăng lạy tạ lui ra và tự t́m kết luận, lẩm bẩm nói với ḿnh:
“Hỏi hay trả lời trong thế giới khái niệm không dính líu ǵ tới Đạo: Đạo phải được do chính ḿnh thực chứng bằng thiền định, bằng nếp sống hành tŕ giới định tuệ”.


Lời kinh Bát-nhă Ba-la-mật-đa vang lên từ chánh điện. Chia tay. Nhưng không chia tâm v́ thân tâm là một. Một hay muôn trùng có ǵ khác nhau khi không lại trở về không.


Rescue, California tháng 10 năm 2013
Trần Kiêm Đoàn


 

tôn giáo - phật giáo

trankiemdoan.net