VỌNG TÂM THÀNH HÝ LUẬN

Nan-in, một thiền sư Nhật thời Minh Trị (1868-1912), ngày kia tiếp một trí giả nổi tiếng học rộng. Nan-in pha trà, ông rót trà đầy chén của khách rồi mà vẫn thản nhiên tiếp tục rót. Vị trí giả nhìn nước trà cứ liên tục chảy tràn ra ngoài, lên tiếng: "Chén đầy rồi!" Nan-in trả lời: "Cái biết thông thường ở đời cũng như chén trà kia. Trí ngài đầy cả những ý tưởng, những suy luận thuần lý riêng tư. Làm thế nào tôi có thể chỉ Thiền cho ngài, trừ phi ngài đã đổ sạch trà đã đầy tràn lâu năm trong cốc riêng sâu kín của ngài ra!"
            Thiên hạ đua nhau nói chính tà.  Khổ thay, tiêu chuẩn chính tà trong văn chương và triết học không rõ ràng như những công thức hay dữ kiện khoa học.  Xin mượn nhan đề một bài giảng của thiền sư Nan-in để gọi tên cho bài viết khiêm tốn nầy: Vọng Tâm Thành Hý Luận.
             Vọng tâm và hý luận là một cặp phạm trù nhân quả: Nghĩ quấy thì viết quấy và ngược lại. Nan-in cho rằng, cái tâm là chủ đạo.  Chân tâm hay tà tâm; chính tâm hay vọng tâm của chính mình là điểm phát khởi đầu tiên mà mỗi người làm chủ hành động tự biết lấy.  Trong đạo Phật thì kiến tánh - thấy được chân tâm của mình - là thành Phật, hay ít nhất là tiếp cận được với tánh Phật đã có sẵn trong mỗi con người.
Cách đây không lâu, có một tác giả ký tên là Lưu Tịnh viết loạt bài nhan đề: "Cái Biển Lửa Khác Giữa Lòng Hoa Sen" đăng trên báo Tiếng Vang, phát hành tại thành phố Sacramento, tiểu bang California, Hoa Kỳ.  Mục đích của bài báo là để phản biện những bài báo của tôi vể Phật giáo, đặc biệt là về thầy Nhất Hạnh. Dù chưa biết Lưu Tịnh là ai, nam nhi hay nữ lưu, nhưng để tỏ lòng tương kính, tôi xin được tạm gọi là "ông".  Nếu có sai về giới tính thì cũng mong tác giả miễn chấp nhất cho, vì trong sinh hoạt mang tính tri thức, nhân tính mới là quan trọng; chứ giới tính chỉ mới là hình thức "ngoại bì phu" chẳng có gì đáng kể.
            Qua bài viết nầy, tôi chỉ muốn được làm công việc của một độc giả góp ý với tác giả về sự ngay thẳng và sở học cần thiết khi suy diễn và phiên dịch ngoại ngữ, hơn là nhắm mục đích thảo luận hay tranh luận một đề tài gì quan trọng vì hai lý do:
            Thứ nhất, về mặt phê bình và lý luận:  Những dẫn giải và suy diễn làm căn bản cho nội hàm luận điểm của ông Lưu Tịnh, chung quanh vấn đề khen hay chê, ủng hộ hay chống đối, nhìn từ phía nầy hay phía khác... đối với bản thân và chuyến về thăm Việt Nam của thầy Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai được trình bày trong các bài viết, hầu hết không có gì mới lạ. Các báo chí Việt Ngữ tại hải ngoại và các trang Website đã viết quá nhiều về đề tài nầy lâu nay.  Hơn thế nữa, ý kiến cá nhân là quyền phát biểu của mỗi người; còn đúng hay sai còn có lương tâm, đạo lý và công luận phán xét. Người ủng hộ thì cho đấy là một cuộc hành huơng gây được ảnh hưởng rất tích cực và sâu xa về đời sống tâm linh.  Kẻ không ủng hộ thì viện dẫn trăm nghìn lý do theo suy diễn chủ quan của mình để phản bác. Và, riêng về phần tôi cũng chẳng có nhu cầu nào đi xa hơn để trình bày thêm về sinh hoạt của thầy Nhất Hạnh và Làng Mai cả.  Tôi đã bày tỏ cái nhìn riêng của mình qua một số bài viết đã được phổ biến trên báo chí và môi trường truyền thông gần đây.  Tựu trung, tôi chỉ muốn làm công việc góp ý qua tư thế của một người đang sinh hoạt trong lĩnh vực khoa học xã hội tại xứ Mỹ nầy.
            Kết luận thuận hay nghịch (pros or cons) về một vấn đề, một nhân vật là quyền của người nghe, cũng như người đọc. Đấy cũng là sinh họat bình thường và lành mạnh của nếp sống tự do trong sinh hoạt nhân văn. Phần sau đây, người viết chỉ làm công việc trình bày sự thực một cách khách quan; trưng dẫn những tài liệu mà bất cứ ai quan tâm, chả cần mất thì giờ cầm bút, cầm nghiên thêm phiền phức, cũng có thể tự mình tìm hiểu trực tiếp được qua mạng lưới truyền thông đại chúng.
            Thứ hai, về phương tiện ngôn ngữ:  Phương pháp luận, thông tin cơ bản, khía cạnh triết học của vấn đề, cũng như về ngôn ngữ đại chúng, ngôn từ Phật học và tiếng Anh là những nét tiêu biểu mà người viết sẽ lần lượt xin bàn đến.  Ông Lưu Tịnh, hoặc đã vì thiếu cẩn trọng hay vì quá nhiệt tình, nóng lòng muốn tiến đến ngay một kết luận đã có sẵn trong định kiến, nên ông đã sử dụng một "phương pháp luận" khá phổ biến ngày nay mà ngày xưa văn học dân gian thường ẩn dụ qua hình tượng và tâm lý người mất búa. Khi định kiến của người mất búa đã cho rằng, người hàng xóm chính là kẻ ăn cắp búa của mình thì từ đấy, mọi hành vi, cử chỉ của người bị nghi ngờ đều rặt mùi... ăn cắp (!).   Hình tượng hoài nghi đó chỉ thay đổi khi người mất búa tìm ra cái búa bị mất.  Nghĩa là khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo.  Tiếc thay, trong cuộc đời thường này, ít người tìm ra búa trong quãng đời ngắn ngủi còn lại của mình, nên thường không có người ăn cắp búa thực hữu mà chỉ có cái tâm vọng động bị định kiến ăn cắp búa ngự trị suy nghĩ và hành động mà thôi. Bởi vậy, La Fontaine đã ngụ ý, "Tầm  mắt của bạn bao giờ cũng bị giới hạn trong vòng của cái bạn đang là..."  Cái bạn "đang là" chính là cái nghiệp của bạn mà đức Phật đã nói trong kinh Hoa Nghiêm, "Mỗi người đều cưu mang trong con người của mình cái Nghiệp.  Chính vì cái nghiệp cá nhân đó mà mỗi con người có một cái nhìn khác nhau."
            Nhìn nhận sự khác nhau như một tất yếu của đời sống để bạn và tôi đều tránh được cải ảo tưởng dễ dãi rằng, mình sẽ "tóm" được chân lý trong cuộc tranh thắng hơn thua hay sẽ lý luận thuyết phục được ai qua dăm bài viết đơn thuần như bạn đã làm và tôi đang làm.
            Trong tiểu mục "Xin Nhìn Thần Tượng Lần Cuối" của bài viết cuối cùng trong loạt bài viết về Phật giáo, các nhân vật Phật giáo kéo dài trên báo Tiếng Vang gần 3 tháng, ông Lưu Tịnh đã hoàn toàn dựa trên bài viết của Janelle Combelic nhan đề: "Thich Nhat Hanh's Triumphant Return to Vietnam" ( Chuyến trở về Việt Nam đầy thắng lợi của Thích Nhất Hạnh).  Bài nầy đăng trong bản tin Tam Cá Nguyệt  (Quarterly) số mùa Hè, 2005 của Đạo Tràng Tâm An (Peaceful Heart Sangha) tại Fort Collins, tiểu bang Colorado, Hoa Kỳ.  Muốn liên lạc với Đạo Tràng Tâm An , xin liên lạc số điện thoại: (970) 482-2506.
            Về thể loại, đây không phải là một bản tin mà là một bài viết dưới dạng ký sự.  Janelle Combelic cũng không phải là một phóng viên hay một nhà văn chuyên nghiệp mà là một Phật tử người Mỹ cùng đi trong phái đoàn Làng Mai của thầy Nhất Hạnh về Việt Nam.  Bà Combelic đã viết lại bản tin nầy qua lời dịch lại của thông ngôn.  Để hiểu nguyên nhân vì sao J. Combelic đã không thuật lại được một cách trung thực nội dung lời nói của thầy Nhất Hạnh, xin bạn trực tiếp liên lạc với tác giả tại số điện thọai (970) 222-5590 hay bằng Email: Jecombelic@yahoo.com.
            Điều đáng ngạc nhiên đầu tiên là ông Lưu Tịnh trích dẫn một đoạn nói chừng một phút trong bài pháp thoại nói bằng tiếng Việt suốt 3 giờ của thầy Nhất Hạnh mà không chịu theo dõi lắng nghe hay tham khảo trực tiếp nguyên bản bằng tiếng Việt.  Trong một bối cảnh thuần Việt: Viết báo tiếng Việt cho độc giả người Việt; nhận định về lời nói của một tu sĩ Việt nói chuyện bằng tiếng Việt trước cử tọa người Việt; nhưng ông Lưu Tịnh lại căn cứ hoàn toàn trên một bản văn tiếng Mỹ (!).  Trong khi đọan văn tiếng Anh của Janelle Combelic viết theo lối phỏng thuật tự do (Freelance Writing) qua sự diễn dịch của một người khác. Đã thế, ông Lưu Tịnh lại không dụng công tham khảo ngoại ngữ cẩn thận nên đã tạo ra sai sót thật đáng tiếc. Trong bản tiếng Anh, nguyên văn: "Not mincing words, he told them... " Ông Lưu Tịnh lại đọc nhầm thành ra: "Not missing words, he told them..." .  (Mince: Tỉa xén, thanh lọc.  Miss: Thiếu, mất). Như thế, thay vì dịch đúng”Không gọt dũa văn vẻ, thầy nói với họ…”, ông Lưu Tịnh đã dịch sai, thành ra “Không thiếu chữ nào, thầy nói với họ...” làm cho câu mở đầu trở thành vô nghĩa hay bị hiểu thành một nghĩa vớ vẩn trong toàn mạch văn.
            Để độc giả và các bậc thức giả có cơ hội tự mình kiểm chứng một cách độc lập và khách quan đâu là sự trung thực và đâu là sự sai lạc, thông dịch, suy diễn tùy tiện giữa lời phát biểu của thầy Nhất Hạnh, lời tường thuật của Janelle Combelic và lời nhận định của ông Lưu Tịnh, người viết bài nầy xin mở lại "hồ sơ" như sau:
            Trước hết, để nghe lại nguyên ngôn lời phát biểu của thầy Nhất Hạnh:  Quý vị có thể tìm qua một trong 3 nguồn tài liệu:
            1- DVD thu hình trực tiếp buổi thuyết giảng của thầy Nhất Hạnh trước Ủy Ban về Người Việt ở Nước Ngoài, Hà Nội ngày 22 tháng 3 năm 2005.
            2- Trên internet, địa chỉ: http://www.locuyen.org/quansach.html
3-  Địa chỉ trực tiếp của Web Làng Mai: http://langmai.org/ChuyenDiVietNam2005/PhapThoai.htm
            Mở địa chỉ trang web, tìm phần thuyết giảng ngày 22-03-2005 là quý vị có thể theo dõi từng chi tiết nhỏ đoạn ông Lưu Tịnh trích thuật.  Cũng trong địa chỉ nầy, quý vị có thể theo dõi tất cả các buổi thuyết giảng của thầy Nhất Hạnh trong suốt thời gian ba tháng tại Việt Nam..
            Ông Lưu Tịnh đã trích một đọan 3 dòng từ một bài viết 33 dòng, khoảng 600 chữ của Janelle Combelic, nguyên văn đoạn trích ngắn bằng tiếng Anh như sau:
            At the end of the pilgrimage, Thầy spoke to several hundred government officials and members of Communist Party in Hanoi. Not mincing words, he told them, "We are true communists."  We have possessions and we take care of one another.  Paradise is not in the future; it is right here and now.
            Xin tạm dịch:
            Cuối chuyến hành hương, Thầy đã nói chuyện với hàng trăm viên chức chính quyền và và đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam tại Hà Nội. Không cần gọt dũa chữ nghĩa, thầy đã nói với họ rằng, "Chúng tôi là những người cộng sản nguyên thủy."  Chúng tôi có sở hữu và chúng tôi chăm sóc lẫn nhau.  Thiên đàng không ở đâu xa; nó ở ngay đây và trong hiện tại."
            Bài phỏng thuật của Janelle Comberlic căn cứ trên cuộc thuyết giảng của thầy Nhất Hạnh, nhan đề là: “Văn Hóa và Đạo Đức Trong Đời Sống Tâm Linh".  Đọan văn 3 dòng tiếng Anh của Combelic mà ông Lưu Tịnh đã trích dẫn để làm xương sống chọ sự suy diễn, phân tích và kết luận chủ quan của riêng ông sau nầy là một sự sơ hở đáng ngạc nhiên. Sự tóm tắt một cách sai lạc và cụt mình cụt mẩy; hụt đầu hụt đuôi của Janelle Comberlic về lời phát biểu của thầy Nhất Hạnh rất dễ gây ra một sự hiểu lầm chẳng những không đúng với nguyên văn mà còn phản lại nội dung thực sự và chủ ý của người nói. 
            Trong thư gửi cho tôi ngày 09-11-2005, tác giả Janelle Combelic (địa chỉ email và số điện thoại đã ghi ở trên) đã lấy làm tiếc về bản tin mà bà ấy đã viết về buổi nói chuyện của thầy Nhất Hạnh, xin trích nguyên văn một đoạn thư có liên quan đến vấn đề nầy:

Not being Vietnamese, unfortunately I understand very little of the perceptions of the Vietnamese Community, and I apologize if my short quotation from a dharma talk caused confusion among some readers. Certainly it is not my intention to create misunderstanding, but I can see how taken out of context it might be misinterpreted.
Long excerpts from two dharma talks by Thay given in Hanoi to government and party officials are contained in the Summer 2005 issue of the Mindfulness Bell (issue 39). I encourage you to contact David Percival at dperciva@unm.edu <http://us.f819.mail.yahoo.com/ym/Compose?To=dperciva@unm.edu> and order that issue of the magazine. (for more info go to www.mindfulnessbell.org <http://www.mindfulnessbell.org>)

Xin tạm dịch:

Không phải là người Việt Nam, đáng tiếc thay, tôi hiểu rất ít về những nhận thức của cộng đồng người Việt, và tôi xin lỗi nếu phần trích dẫn ngắn của tôi từ cuộc thuyết pháp đã tạo ra sự bối rối cho một số độc giả. Chắc chắn đấy không phải là tôi cố ý tạo ra sự hiểu lầm, nhưng tôi có thể thấy được là khi đem lời trích dẫn của tôi ra khỏi khung cảnh của nó thì có thể bị diễn dịch sai lạc như thế nào.
Những phần trích đầy đủ từ hai cuộc thuyết pháp của Thầy ở Hà Nội với các viên chức chính quyền được đăng trong Bản Tin Mùa Hè 2005 báo Mindfullness Bell (số 39). Tôi khuyến khích ông nên tiếp xúc với David Percival ở địa chỉ: deperciva@unm.edu để hỏi mua tạp chí có đăng bài tường thuật. (Muốn biết thêm chi tiết xin vào trang web có địa chỉ là: www. Mindfullnessbel.org)
            Để quý độc giả có dịp so sánh giữa nguyên văn và lời dịch, xin hãy nghe lại thật kỹ lời phát biểu của thầy Nhất Hạnh - hoàn toàn bằng tiếng Việt Nam phổ thông - nguyên lời đoạn nầy như sau:
            "Đạo tràng Làng Mai chúng tôi là một cộng đồng gồm có 250 người xuất gia và một số người tại gia.  Trong chúng tôi có những người tốt nghiệp đại học, đã đi làm có lương lớn.  Tuy nhiên chúng tôi đã tiếp xúc được với giáo lý đạo Phật và chúng tôi trở thành anh em trong một nhà.  Chúng tôi không có ai có xe hơi riêng; không có ai có trương mục ngân hàng riêng; không có ai có điện thọai di động riêng.  Tất cả chúng tôi đều sử dụng những tiện nghi đó của tu viện mà thôi.  Không có ai có gì riêng hết. Ấy vậy mà chúng tôi sống rất hạnh phúc tại vì chúng tôi mỗi ngày một nuôi dưỡng tình huynh đệ, tình thầy trò.  Chúng tôi mới là những người cộng sản thứ thiệt vì chúng tôi có gì riêng cho chúng tôi đâu.  Nhờ có tình huynh đệ, tình thầy trò mà chúng tôi giúp được nhiều người và mang hạnh phúc cho những người đến với chúng tôi.  Chúng tôi có rất nhiều hạnh phúc.  Chúng tôi không đi tìm hạnh phúc ở trong uy quyền, ở trong sắc dục, ở trong dạnh vọng, ở trong tồn tại.  Và đối với chúng tôi thì cõi tịnh độ, cõi niết bàn đâu cần đi tìm đâu xa mà có ngay trong giây phút hiện tại..."
            Với nội dung đượm mầu "tứ chúng đồng tu, tăng già hoà hợp" của tăng đoàn thời nguyên thủy, sát hợp với tinh thần Lục Hòa của đạo Phật trên đây, thật đáng xót xa cho sự suy diễn mơ hồ -  nói theo ngôn từ của Phật giáo là xuất phát từ chấp trước, ngã mạn và vô minh - khi tác giả Lưu Tịnh níu ngay từ "Paradise" tiếng Anh dịch một cách vớ vẩn của Combelic để diễn dịch và bàn theo khái niệm "Thiên đàng cộng sản".  Rồi bám vào chiếc bè tự dịch và tự hiểu của chính ông để bàn về "Niết bàn", về Nirvana trong tiếng Phạn, theo cái hiểu "tiên nghiệm" của mình rồi phủi tay kết luận, rằng là:
            "Vấn đề từ ngữ được giải quyết xong (?!), ta thử nhìn lại xem tựu trung thầy Nhất Hạnh muốn cổ xúy những quan niệm nào.  Tôi thấy rõ ràng thầy muốn đề cao hai quan niệm sau đây.  Thứ nhất là quyền làm chủ tập thể các phương tiện sản xuất và quan niệm thiên đàng ở ngay trên địa cầu nầy chứ không ở đâu xa lạ cả.  Cả hai quan niệm trên đây đều là quan niệm Mác Xít chứ không phải là quan niệm Phật giáo.
            Về mặt tư tưởng, thầy Nhất Hạnh là một nhà đấu tranh Mác Xít hơn là một nhà sư Phật giáo."
            Sau khi đã theo dõi và kiểm chứng, xin dành quyền phê phán cho độc giả và các bậc thức giả vì tôi không muốn làm một người "hướng dẫn dư luận" theo mô thức "gửi thư dán tem" của thế kỷ trước nữa. Giữa thời đại thông tin toàn cầu hóa nhanh như tốc độ ánh sáng nầy, người ta có thể tự mình tìm những tin tức, số liệu và dữ kiện - mà những năm về trước phải ngồi mòn đủng quần tìm kiếm ở thư viện - chỉ trong nháy mắt. Bởi vậy, bất cứ người cầm bút nào, dẫu cho có muốn tác động vào dư luận vì mục đích riêng bằng lối suy diễn chủ quan và bằng kiến thức "đóng khung" của mình cũng không được nữa. Dữ kiện thực tế đã tự nó nói lên, không cần người nói thế.  Người cầm bút có tìm cách nói lên quan điểm của mình mà sai về thông tin và dữ kiện thì cũng là một cách vô tình tự đánh mất mình.  Đánh mất sự kính trọng cần thiết của độc giả và vô hình chung, tự phủ nhận lấy chiều sâu tri thức và chiều cao nhân cách của chính mình.
           
                                                           
***
           
Bên lề bài viết, tưởng cũng nên nhìn lại vài khái niệm triết học, tôn giáo và lịch sử đã bị hiểu lầm hay suy diễn thiếu cơ sở luận lý.
            Trong phần viết về các tu sĩ Phật giáo nói chung cũng như trong tiểu mục nhận xét về một vài cá nhân tu sĩ Phật giáo như thầy Trí Quang, thầy Nhất Hạnh..., ông Lưu Tịnh đã trỏ ra không công bằng và thiếu khách quan khi cố tình quy chụp những nhãn hiệu chính trị đao to búa lớn nhưng lại mang ý nghĩa vu vơ một cách quá dễ dãi và hời hợt.  Riêng Phật giáo thì biện chứng pháp (dialectic) đã được sử dụng từ thời Phật giáo Nguyên thủy.  Biện chứng pháp Trung Quán đã quy hợp những khái niệm đối nghịch trong thế giới nhị nguyên để dẫn về Trung đạo. Trong lịch sử triết học phương Tây thì phương pháp lý luận biện chứng đã có từ thời Heraclite và trải qua trên hai nghìn năm lịch sử của sự vận dụng biện chứng pháp với Socrate, Platon, Kant, Hegel... rồi đến Marx.  Phật giáo, mà đặc biệt là Phật giáo đại thừa, thường được ví như một con chim bay bằng đôi cánh đại bàng vượt qua biển khổ:  Cánh phải là Tánh Không, cánh trái là Duy Thức. Danh từ “cộng sản” không phải là một từ ngữ mới xuất hiện do Marx sáng chế mà đây là một hình ảnh quần thể cổ sơ thường được thi vị hóa như một “Vườn Điạ Đàng” hạ giới..  Từ hàng trăm nghìn năm trước, giống người cổ sơ sống không có giai cấp kinh tế.  Con người sống không có chính quyền, luật pháp hay tư hữu, cộng đồng nhân loại nguyên thủy đó được gọi là cộng sản nguyên thủy (primitive communism) hay là cộng sản thực sự (true communism).  Platon, sinh năm 427 trước Tây Lịch, trong tác phẩm Cộng Hoà (Republic) đã nói đến hình thái cộng sản quý tộc gọi là "aristocratic communism".  Khái niệm về "người cộng sản nguyên thủy" đó đã được Karl Marx và Frederick Engels tập đại thành và sử dụng trong hệ thống triết học Mác-xít và trong Tuyên Ngôn Cộng Sản (The Communist Manifesto) viết vào năm 1848.  Marx chia lịch sử xã hội loài người ra làm 5 thời kỳ: Cộng sản Nguyên thủy, Nô Lệ, Phong Kiến, Tư Bản, Cộng sản "văn minh" hay về sau nầy có người đi xa hơn cho rằng xã hội Mỹ là một xã hội "siêu cộng sản" (Supercommunism).  Các bản tiếng Anh vẫn dịch người Cộng sản Nguyên thủy là: "Primitive communists hay true communists".
Trở về với bài thuyết giảng của thầy Nhất Hạnh đã đề cập ở phần trên.  Nếu nghe một cách nghiêm túc bài thuyết pháp nầy trong chính khung cảnh và ý nghĩa đích thực của nó thì rõ ràng thầy Nhất Hạnh nhấn mạnh về nếp sống bình đẳng, hòa đồng, an lạc, không tư hữu của tăng đoàn Làng Mai giống như người cộng sản nguyên thủy.  Đấy là một sự ví von rất hợp lý khi nói về sinh hoạt của Làng Mai.  Mỗi chữ, mỗi câu, mỗi đoạn văn, mỗi bài viết đều nằm trong một ngữ cảnh (contextual) riêng biệt.  Kéo một từ ra khỏi ngữ cảnh của nó cũng giống như kéo một nốt nhạc riêng lẻ ra khỏi dòng nhạc, đôi khi trở thành phản nghĩa hay vô nghĩa.  Chính Janelle Combelic, tác giả bài viết tiếng Anh đã khẳng định sự tách chữ, tách câu ra khỏi ngữ cảnh sẽ đưa tới sự bối rối, hiểu lầm nên càng diễn dịch càng sai lạc. 
            Thế giới tôn giáo là thế giới ước mơ trong đời sống tâm linh. Vùng đất hứa của mọi tôn giáo là nơi an nghĩ vĩnh hằng sau khi chết.  Đấy là một thế giới toàn bích của an lạc và hạnh phúc tuyệt đối đời đời. Cõi hứa hẹn đó xuất hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau như Thiên đàng, Cõi trời, Niết bàn, Cực lạc... Đối với Phật giáo thì cõi Niết bàn có thể rất xa xôi, nhưng cũng có thể rất gần và ở ngay chính trong ta.  Chẳng có một vị thần linh tối thượng nào dắt con người vào cõi niết bàn mà chính mỗi chúng sanh tự giác để tìm về niết bàn bằng nhiều phương cách tùy theo căn cơ, duyên nghiệp của mỗi con người.  Một người đến hỏi hòa thượng Gosananda “Niết bàn ở đâu?" thì được trả lời: "Niết bàn ở tại đây, ngay trong lúc nầy. Niết bàn ở khắp mọi nơi.  Nó không lư u trú tại một nơi chốn đặc biệt nào cả.  Nó ở trong tâm thức.  Nó chỉ được tìm thấy trong giờ phút hiện tại... " Khi ở trong trạng thái thanh tịnh, an vui, hạnh phúc tròn đầy trong hiện tại là khi đạt đến cảnh giới Niết bàn. 
            Cái nhìn về thế giới và nhân sinh mang đậm dấu ấn của góc nhìn khởi phát. Tinh thần cốt lõi của Phật giáo là không khen chê mà giải thích mọi sự việc và mọi hiện tượng trong mối tương tác của Nghiệp và Duyên. Suối nguồn triết học Mác-xít như một dòng sông cuồn cuộn chảy trong quá trình đấu tranh giai cấp.  Trong khi suối nguồn triết học Phật giáo là một dòng sông lặng lờ và an lạc.  Mọi dòng sông có thăng trầm dậy sóng đến mức độ nào rồi cuối cùng cũng trôi về biển cả.  Không có phương tiện tôn giáo nằm ngoài cuộc đời và xác thân tục lụy, tạm bợ nầy.  Sự thờ phụng là do ai thờ phụng chứ không có một sự thờ phụng nào tự thân hiện hữu cả.  Hay nói một cách “duy lý”(hay duy vật?) hơn rằng, tôn giáo là một sản phẩm đặc biệt của con người.
            Đến với Phật giáo hay bàn về Phật giáo, trước hết, cần lấy cái Tâm làm điểm tựa.  Tôn Ngộ Không có phép thần thông nhưng lại thiếu cái tâm từ bi nên đã kiêu mạn nhảy qua Ngũ Hành Sơn và cứ tưởng rằng mình đã bay xa nghìn dặm nhưng thực ra vẫn còn loanh quanh trong bàn tay của Phật tổ.  Phật tổ, thật ra cũng chỉ là biểu tượng của suối nguồn tâm linh trong chính mỗi con người.  Nếu cứ bị trói buộc mãi trong giới hạn những phạm trù của định kiến và chấp ngã thì những chữ nghĩa, lý luận, tranh chấp rồi cũng sẽ không đến đâu cả.  Về đâu? Về một phương trời cao rộng của tri thức hay về một ngõ cụt “vọng tâm sinh hý luận của một sự suy thoái tinh thần?!”

                                                                                            Trần Kiêm Đoàn