|
Viễn Ảnh Về
Một Giải
Nobel Văn
Chương
Cho Giới Văn
Bút Việt Nam
Trần Kiêm Đoàn
Một lần nữa, giải
Nobel Văn Chương lại vào tay nhà văn của một
quốc gia “con cháu ngoại” – Nghĩa là không xuất
thân từ giới văn bút thuộc về chiếc nôi văn hóa
truyền thống Âu Châu hay thuộc ṇi hiệp sĩ “gươm
nóng hổi” Bắc Mỹ!
Người đoạt giải Nobel Văn Chương năm nay, 2003,
là một nhà văn Nam Phi 63 tuổi, John Maxwell
Coetzee. Đây là nhà văn thứ hai của Nam Phi được
giải Nobel Văn Chương kể từ khi nhà văn Nam Phi
đầu tiên là Nadine Gordimer được trao giải
thưởng nầy vào năm 1991.
Coetzee hiện là một giáo sư tiến sĩ ngành văn
chương Anh Mỹ, xuất thân từ đại học Cape Town.
Từ năm 2002 sống tại Úc và hiện là giáo sư thỉnh
giảng tại đại học Chicago, Hoa Kỳ.
Coetzee là một trong những tác giả thành công
hàng đầu của Nam Phi với 8 tác phẩm tiểu thuyết
đă xuất bản và là tác giả sáng giá của nhiều bài
biên khảo và luận thuyết có ảnh hưởng rất sâu
rộng tại châu Phi. Coetzee được xem là mẫu người
kín đáo, xa lánh mọi h́nh thức quảng cáo, vinh
danh, phỏng vấn, hội hè đ́nh đám xưng tụng nhau...
tới mức lập dị. Ông có một lối phân tích và lư
luận cực kỳ bạo liệt (ruthless) khi đả kích sự
độc đoán và tàn bạo của chủ nghĩa phân biệt
chủng tộc ở Nam Phi và thói đạo đức h́nh thức
hời hợt của xă hội phương Tây.
Tác phẩm mới nhất đóng vai tṛ “hỏa pháo” góp
phần tích cực đưa Coetzee lên đài danh vọng là
cuốn tiểu thuyết nhan đề “Disgrace” (Bỉ Mặt),
xuất bản năm 1999 thuộc lọai “best seller” mà
chỉ ở Mỹ không thôi cũng đă bán ra 200.000 ấn
bản. Tuy nội dung tác phẩm chỉ đơn giản là câu
chuyện của David Lurie, một giáo sư dạy môn ngôn
ngữ học tại một trường đại học ở Cape Town. Đời
đă hai lần ly dị, ở lứa tuổi năm mươi, David yêu
cô học tṛ sinh viên của ḿnh. Chuyện yêu đương
chẳng đi đến đâu, bị kết tội xâm phạm t́nh dục
và bị đuổi dạy. Không một lời biện minh, David
về vùng quê heo hút sống hẩm hiu với Lucy, cô
con gái rượu duy nhất mang chứng đồng tính luyến
ái. David cam chịu một cuộc sống tẻ nhạt ở nông
trại mà Lucy cho rằng: “Cuộc sống nơi đây là thế
đó. Một cuộc sống chia phần với súc vật.” (This
is the only life there is. Which we share with
animals.) Thật ra, tác phẩm Disgrace tuy chỉ 200
trang với một nội dung đơn giản như thế, nhưng
lại mang tầm cỡ Nobel v́ tác giả không phải là
người viết lách kể chuyện đơn thuần. Koetzee đă
gởi gắm một thông điệp sâu kín mang đầy tính
phản kháng và nhân bản ẩn sau hàng chữ nghĩa.
Nhân vật David là hiện thân của con người bị áp
bức và chấp nhận số phận tủi nhục của ḿnh một
cách thản nhiên trong xă hội kỳ thị chủng tộc
Nam Phi. Sự “Bỉ Mặt” coi như tất nhiên, sự chịu
đựng câm lặng của thân phận con người quá dạn
dày đến nỗi không ai buồn đối kháng.
Bản chất của một nền văn nghệ lành mạnh mang
tính tự do và đối kháng với quyền lực áp bức bất
cứ từ đâu đến. Người cầm bút chân chính mang
tinh thần khai phóng để cổ vơ cho nhân quyền, tự
do và công bằng của xă hội. Khi không có tự do
và không có quyền lên tiếng bảo vệ quyền sống
thiêng liêng của con người là khi người làm văn
nghệ bị truất quyền sáng tạo chân chính. Khi đó,
người cầm bút được gọi là “nhà văn” chỉ c̣n là
người cầm bút xếp chữ bâng quơ và xa lạ với thực
trạng của xă hội và con người mà anh ta đang
sống.
Suốt 100 năm lịch sử, tuy cũng có lúc thăng trầm
hay vắng bóng, nhưng tinh thần giải thưởng Nobel
chưa bao giờ hạ thấp con đường lư tưởng đích
thực của văn chương.
Thử nh́n lại một chặng đường rất ngắn của văn
học trong ṿng 5 năm qua. Giải văn chương Nobel
đă chuyển ḿnh để dấn thân một cách tích cực vào
cộng đồng văn học thế giới và làm sáng danh cho
lư tưởng khai phóng của văn chương.
1999: Gunter Grass
Năm 1999, Gunter Grass, một nhà văn hiện đại nổi
tiếng của Đức được giải thưởng văn chương Nobel.
Gunter Grass được giới văn bút quốc tế hâm mộ từ
khi cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông mang tên là
Cái Trống Ếch (The Tin Drum) ra đời năm 1959.
Sau đó là những tác phẩm Những Năm Chó (Dog
Years), Mèo Chuột (Cat and Mouse). Gần nửa thế
kỷ sau, Cái Trống Ếch đó đă đưa ông lên đài danh
vọng. Tác phẩm phản ánh đậm nét cuộc đời và tư
tưởng tác giả. Đó là cuộc đời của thằng bé đánh
trống ếch Oskar Mazerath, sinh ra trong chiến
tranh và áp bức của thời Đệ Tam Đức quốc xă.
Ngày Sinh nhật lên ba nó khùynh tay, gồng ḿnh
tuyên bố với làng nước là nó sẽ không chịu lớn
thêm nữa v́ nó sợ làm người lớn. Thằng bé đánh
trống ếch Oskar có thể vẫn không “lớn” nhưng rồi
sẽ già đi như bạn, như tôi, như Guenter, như
những người thuộc về thế hệ chiến tranh Việt
Nam. Trong chinh chiến thằng bé Oskar cũng phải
rời quê hương tản cư dọc đường gió bụi. Nó nhập
vào đám nhạc sĩ “du ca”, đánh trống ếch cắc tùng
tùng. Tiếng nó xoáy lên sắc nhọn đủ sức làm bể
hàng cửa kính, tiếng trống của nó vang lên như
lời van lơn, tâm sự, đay nghiến trước những buồn
vui của cuộc sống. Rồi nó trở thành thủ lănh của
nhóm nổi loạn đ̣i tự do. Nó cũng rơi vào một
cuộc t́nh yêu đương diễm lệ. Nó cũng trở thành
nghệ sĩ được biết tên. Và sau khi chiến tranh
chấm dứt, nó bị kết tội sát nhân mặc dầu nó
chẳng dính líu ǵ tới vụ án cả. Cuối cùng nó bị
bỏ tù trong nhà thương điên chỉ v́ không chịu
thỏa hiệp với tṛ đời rởm dáng trước mắt. Nó
thành tội nhân oan uổng của thời đại v́ nó dám
nổi loạn chống lại kẻ có quyền thế đương thời,
những kẻ hưởng thụ trên sự điên cuồng của chiến
tranh, phè phỡn bằng sự độc tài và áp bức.
Nhận định về nghệ thuật văn chương trong tác
phẩm Cái Trống Ếch, Alix Wilber viết rằng nhà
văn Grass đă dùng sự cười cợt như một con dao -
nó làm cho bạn cười, nhưng cũng làm cho bạn rướm
máu. Tác phẩm chứa đầy tính chất tượng trưng để
nói lên sự bi đát sâu thẳm về thân phận con
người trong lịch sử nước Đức cũng như trên toàn
thế giới. Trong suốt 40 năm lịch sử nhà văn
Grass cũng như tác phẩm của ông đă chịu không
biết bao nhiêu búa ŕu của dư luận. Ngay trên
quê hương ông, ở Tây Đức th́ Cái Trống Ếch được
chọn làm sách giáo khoa mà Đông Đức th́ tịch thu
và cấm đoán. Thế nhưng rồi cuối cùng cuốn sách
cũng vượt qua tất cả những biên giới của con
người để đến một vùng trời vĩnh cửu: Đó thế giới
chân tâm của con người. Thông điệp gần như sau
cùng của Guenter Grass gởi cho thế hệ đàn em là:
“Người văn nghệ cũng như người đi buôn, vốn trao
đi th́ mong có lăi trở về. Lăi của con buôn là
tiền bạc, nhưng lăi của người nghệ sĩ là sự khen
chê của người đời dành cho tác phẩm của ḿnh.
Điều đáng sợ hăi nhất cho người văn nghệ là sự
im lặng của người đọc hay khán giả. Đừng vội hài
ḷng với những lời khen và buồn bă trước những
lời chê, mà hăy vui v́ bạn đă có sức lay động
được ḷng người trứơc đă.”
2000: Cao Hành Kiện
Giải Nobel văn chương năm 2000 đă được trao cho
một nhà văn Trung Hoa là Cao Hành Kiện (Gao
Xingjian).
Cao Hành Kiện (Gao Xingjian), nhà văn đầu tiên
của Trung Hoa được giải thưởng Văn Chương tương
đối sáng giá nhất của nhân loại trong suốt 100
năm qua – giải Văn Chương Nobel. Trong sự nghiệp
văn chương phong phú bao gồm nhiều thể loại, tác
phẩm tiểu thuyết tiêu biểu nhất đă đưa Cao Hành
Kiện lên hàng “Nobel văn giả” là cuốn Linh Sơn
(Soul Mountain/ La Montagne de l’Âme), một tác
phẩm dài trên 500 trang. Linh Sơn là một tác
phẩm kết cấu tổng hợp nhiều h́nh thái và thể
loại sáng tạo văn chương. Trong đó, hồi kư,
chuyện t́nh, phóng sự xă hội, thực tế, hư cấu,
triết lư, hoạt kê, hội thoại, đối thọai, độc
thoại... quyện vào nhau như trái núi mang nhiều
vẻ hiện thực và kỳ bí tùy theo thời gian và thế
ngắm.
Cao Hành Kiện sinh năm 1940 tại Cống Châu (Ganzhou),
Quảng Tây, Trung Hoa. Vốn là một nghệ sĩ đa tài
trong các lĩnh vực văn chương, hội họa, kịch
nghệ, phê b́nh, dịch thuật, Cao đă lận đận lớn
lên giữa thời đại Mao Trạch Đông. Trong thời kỳ
Cách Mạng Văn Hóa (1966-76) ông đă bị đưa vào
trại học tập cải tạo và phải âm thầm thiêu hủy
cả một va-li đầy bản thảo tác phẩm của ḿnh.
Trong bối cảnh xă hội và văn hóa đặt trọng tâm
trên đời sống tập thể, cá nhân không c̣n chỗ
đứng và có khi bị tan loăng trong cơn lũ ồ ạt
của tâm lư quần chúng, t́nh cảm tập thể, và suy
tưởng một chiều. Cao sống sót và cứu được ḿnh
trong cơn đại hồng thủy của tư tưởng. Ngọn núi
Linh Sơn là một ngọn núi ảo ảnh nhưng cái bóng
sừng sững mà vô h́nh của nó trở thành điểm tựa
của ḿnh và cho chính ḿnh v́ nó là ngọn núi của
bản ngă.
Trung Hoa từ năm 1942 và nhất là qua biến cố
“quốc hữu hóa văn chương” năm 1949 trở về sau,
sứ mạng độc tôn sáng tạo văn nghệ là để phục vụ
chính trị. Nhà văn muốn sống c̣n th́ phải tự
biến thành cái răng cưa của bánh xe trong guồng
máy chính trị tập thể. Cao Hành Kiện là một
trong những văn nghệ sĩ tiền phong của Trung Hoa
thời hậu Mao đă cổ vũ, đấu tranh cho quyền sáng
tác văn nghệ tự do và đích thực. Trong tác phẩm
“Tham luận khởi đầu về nghệ thuật của tiểu
thuyết hiện đại” (Premier essai sur les
techniques du roman moderne) năm 1981, ông đă
dấy lên cuộc bút chiến đầy sóng gió về “Quan
Điểm Mới” trong sáng tác văn nghệ. Năm 1985, tác
phẩm “Kẻ Rừng Rú” (L’Homme sauvage) là bước phản
công băo liệt nhất về guồng máy văn nghệ tập thể
đă làm lu mờ tài năng nghệ sĩ. Quan điểm văn
nghệ t́m lại con người chân thực của ông đă gây
ra những cuộc bút chiến sôi nổi trong nước và đă
lôi kéo được sự chú ư của cộng đồng văn bút thế
giới. Đến năm 1986, tác phẩm “Bờ Bến Khácï” (The
Other Shore) đă bị giới văn nghệ cầm quyền ở
Trung Hoa cấm đoán, phê phán gắt gao.
Để giữ cho ngọn núi bản ngă được ẩn ḿnh an trú
trong cơn giông băo thời thế, Cao Hành Kiện đă
làm một cuộc “hành hương” trong suốt mườùi tháng.
Ông đă bước đi trên lộ tŕnh dài 15000 cây số
qua những vùng núi non hiểm trở miền Tứ Xuyên;
từ ngọn nguồn sông Dương Tử (c̣n có tên là
Trường Giang) dọc tới biển khơi. Chất liệu chính
của tác phẩm Linh Sơn là ḍng suy tưởng, là cảnh
sông núi chập chùng, là dáng trời đất bao la, là
khuôn mặt thật của con người, là những mảnh đời
muôn vẻ; và quan trọng nhất là sự t́m về ngọn
nguồn, về bản chất của sự b́nh an sâu lắng và tự
do thực sự trong chính ḿnh. Giáo sư Lee Mabel,
người dịch tác phẩm Linh Sơn sang tiếng Anh đă
nhận định: “Linh Sơn là câu chuyện của người đi
t́m sự an b́nh và tự do bên trong.”
Trong cuộc hành tŕnh t́m về Linh Sơn, có chăng
những người cầm bút Việt Nam bên kia cũng như
bên nầy đất nước đang âm thầm nhập cuộc. Sẽ trễ
tràng cho một sự chối từ, nhưng sẽ không bao giờ
muộn màng cho một sự nhập cuộc. Nhập cuộc trên
đường về Linh Sơn cũng có nghĩa là chia tay. Có
can đảm chia tay với đám đông ồn ào, quyền thế,
phù hoa, vọng động mới có thể trở lại bến bờ của
ḍng sông Tự Ngă trong chính ḷng ḿnh. Và từ đó
t́m về Linh Sơn, ngọn núi của bản ngă hay chính
là linh hồn c̣n nguyên vẹn trong mỗi con người.
2001: V. S. Naipaul
Người đoạt giải Nobel Văn chương năm 2001 là
Vidiadhar Surajprasad Naipaul (V.S. Naipaul).
Ông là người gốc Ấn Độ, 69 tuổi, sinh tại
Trinidad, một cựu thuộc địa của Anh ở quần đảo
Carribbean, vùng biển Nam Mỹ. Năm 18 tuổi, ông
sang Anh, theo học trường Đại học Oxford. Tốt
nghiệp và tiếp tục sống đời nhà văn tại Anh quốc
cho đến hiện tại.
Đây là một nhà văn nổi tiếng từ trong suốt ba,
bốn thập niên qua. Ngoài các giải thưởng văn
chương dành cho ông như Booker Prizes (1971),
T.S. Eliot Award (1986), tiến sĩ danh dự của các
đại học St. Andrew, Cambridge, Columbia, London,
Oxford, năm 1990, V.S. Naipaul được nữ hoàng
Elizabeth tấn phong tước hiệu “Hiệp Sĩ”. Đây là
một danh dự cao quư nhất của Hoàng gia Anh quốc
dành cho những người đạt thành tích kiệt xuất
trong lĩnh vực chuyên môn của ḿnh.
Sự kiện nhà văn V.S. Naipaul được giải Nobel năm
nay trong thời điểm toàn thế giới đang lên cơn
sốt v́ nạn khủng bố của lực lượng Hồi giáo quá
khích đă làm dấy lên nhiều câu hỏi liên quan đến
“tính chính trị và thời thượng” của giải Nobel.
Sở dĩ câu hỏi này được đặt ra v́ trong số hơn 20
tác phẩm của V.S. Naipaul đă xuất bản từ năm
1957 đến nay có 2 tác phẩm liên quan đến Hồi
giáo:
- Giữa Những Tín Đồ ( Among the Believers, 1981)
và Mặt Trái Đức Tin (Beyond Belief, 1998). Đây
là kết quả sự t́m hiểu, tham khảo, ghi nhận tại
chỗ của tác giả trong các cuộc du hành tới những
nước Hồi giáo như Indonesia, Iran, Pakistan, và
Malaysia.
V.S. Naipaul đă t́m hiểu ngọn nguồn của Hồi giáo
hiện đại và ư thức hệ của sự cuồng nộ trong tôn
giáo nầy. Ông đă viết trong cuốn Giữa Những Tín
Đồ rằng: “Hồi giáo đă thần thánh hóa sự cuồng nộ:
Cuồng nộ trong đức tin và cuồng nộ về chính trị.
Và hơn một lần trong chuyến đi nầy, tôi đă gặp
những người đàn ông nhạy cảm, họ là những người
sẵn sàng mê man lao vào những cuộc biến động lớn.”
Ông cũng đă viết trong Mặt Trái Đức Tin là: “Có
lẽ không có một chủ nghĩa đế quốc nào giống như
nghĩa đế quốc của Hồi giáo và các xứ Ả Rập”.
Điều thú vị là V.S. Naipaul không bị các tín đồ
Hồi giáo lên án khắt khe như đối với Salman
Rushdie khi xuất bản tác phẩm Lời Quỷ Sứ (The
Satanic Verses) trước đây mà chỉ bị phê phán nhẹ
nhàng là: “Thiếu một viễn kiến cần thiết về Hồi
giáo.”
2002: Imre Kertesz
Nhà văn Hung Gia Lợi (Hungary) Imre Kertesz, 72
tuổi, thắng giải Nobel văn chương năm 2002. Là
một người bị vùi dập trong các trại tập trung từ
Auschwitz đến Buchenwald của Nazi, Đức Quốc Xă
trong lứa tuổi thanh niên, Kertesz đă phản ánh
kinh nghiệm sống thực bằng nước mắt và xương máu
của chính bản thân và đồng bào ḿnh trong sự
nghiệp sáng tác văn chương. Tác phẩm văn chương
đầu tay được xuất bản năm 1975, “Fateless” (Chẳng
Có Ǵ Là Số Phận) Kertesz đă kể lại kinh nghiệm
đời ḿnh qua nhân vật George, một cậu bé 14 tuổi,
bị lùa vào trại tập trung và sống sót trong hỏa
ḷ phi nhân ấy. Với George, sống sót qua địa
ngục trần gian chẳng phải là số phận an bài mà
sống được là nhờ sức mạnh nội tại của chính mỗi
con người biết vươn lên từ trong nhục nhằn và cô
đơn; từ truyền thống của ṇi giống, của văn hóa
và gia tài tâm linh miên viễn. Ngày trở về,
George đă kêu lên với những người thân rằng:
“Tại sao mọi người không thể thấy rằng, nếu cứ
đổ cho số phận th́ hoá ra con người không c̣n có
tự do nữa hay sao?” ("Why can't you see that if
there is such a thing as fate, then there is no
freedom?")
Giải Nobel Văn
Chương và giá trị tượng trưng của nó
Theo nhận định chung của cộng đồng quốc tế th́
Thụy Điển là một vương quốc trung lập, tiên tiến
với nền văn hiến lâu đời. Họ xem giải thưởng
Nobel là một sự tiêu biểu cho danh dự và niềm tự
hào quốc gia nên ảnh hưởng chính trị và tính
chất thời sự nhất thời không có tác động trực
tiếp trên sự đánh giá tuyển chọn giải thưởng.
Để có một nhận định chính xác hơn về sự khách
quan và nguyên tắc tuyển lựa chặt chẽ của Hàn
Lâm viện Thụy Điển và Hội đồng chấm giải Nobel,
tôi xin tŕnh bày sơ lược phương thức làm việc
của họ như sau:
Trên danh nghĩa, Hàn lâm viện Thụy Điển là cơ
quan tuyển chọn giải thưởng Nobel, nhưng trên
thực tế th́ quá tŕnh chọn lựa nầy là một công
tŕnh đóng góp tập thể của các học giả, chuyên
gia, tác giả, thi văn nghệ sĩ... có uy thế và uy
tín từ nhiều nơi trên thế giới. Tŕnh tự về thời
gian tuyển lựa giải Nobel văn chương được quy
định theo một nguyên tắc không thay đổi như sau:
Thời gian bắt đầu từ đầu mùa Thu năm trước, khi
Hàn lâm viện Thụy Điển mời tất cả các nhân vật
được biết đến trên toàn thế giới nộp danh sách
các ứng viên được đề cử. Mỗi nhân vật đề cử đều
phải viết “đề nghị thư” để tŕnh bày và bảo vệ
cho lư do chon lựa của ḿnh. Tự đề cử ḿnh làm
ứng viên hoàn toàn không được chấp nhận. Tất cả
danh sách các ứng viên được đề nghị đều phải nộp
cho Hội Đồng Hàn lâm viện trước ngày mồng 1
tháng 2 hàng năm. Mỗi năm, có khoảng 1000 ứng
viên được đề nghị cho giải thưởng Văn chương
Nobel, trong đó có chừng từ 100 đến 250 là nhà
văn. Số ứng viên đề nghị nầy được cộng chung với
các ứng viên do chính các thành viên trong Hội
Đồng và Hàn lâm viện tuyển lựa. Giai đoạn kế
tiếp, Hội Đồng tuyển chọn lọc lại c̣n 15 ứng
viên và danh sách nầy phải hoàn thành trong
tháng 4. Cuối tháng 5, số ứng viên được tuyển
chọn vào ṿng chung kết c̣n lại là 5 người. Có
hàng trăm nhân vật tên tuổi trong lănh vực văn
chương khắp thế giới phụ tá cung cấp tất cả các
nguồn tư liệu về tác phẩm, sáng tác và các công
tŕnh biên khảo liên quan đến 5 ứng viên nầy.
Sau khi sử dụng suốt mùa Hè để đọc, nghiên cứu
và phân tích giá trị văn chương tất cả tác phẩm
của từng ứng viên một trong tổng số 5 nhân vật
vào chung kết, Hội Đồng Giải Nobel đệ tŕnh Đề
Nghị của họ lên Hàn lâm viện Thụy Điển. Tháng
10, Hàn lâm viện tiến hành một cuộc bỏ phiếu kín
để chọn người trúng giải.
Trong lịch sử giải Nobel văn chương, có rất ít
các ứng viên lần đầu tiên được đề cử được giải
thưởng liền trong năm đó. Thường các ứng viên
không được tuyển chọn sẽ được Hội Đồng đưa ra
thẩm định, xét đi, xét lại trong những năm tiếp
theo bởi v́ Hàn lâm viện Thụy Điển căn cứ trên
toàn bộ sự nghiệp văn chương của một nhà văn,
nhà thơ... để đánh giá chứ không chỉ căn cứ trên
một tác phẩm hay một công tŕnh đơn lẻ nào đó mà
thôi. Bởi vậy, giải Nobel Văn chương là giải
thưởng của một sự nghiệp văn chương chứ không
phải là giải thưởng dành cho một tác phẩm xuất
sắc.
Giải Nobel Văn chương không hẳn là thước đo
chuẩn xác tuyệt đối để thẩm định giá trị văn
chương và tài năng đích thực của một tác giả.
Tuy nhiên, đối với thế giới văn bút toàn cầu th́
giải thưởng nầy vẫn là một giải thưởng văn
chương sáng giá và được kính trọng nhất trong
lịch sử văn học quốc tế suốt 100 năm qua. Chính
tên tuổi lẫy lừng của người trúng giải đă mang
đến sự vinh quang cho giải thưởng, hơn là chính
giải thưởng Nobel tự nó mang hào quang đến cho
người nhận giải.
Nói một cách công bằng th́ chiếc huy chương nào
cũng có mặt giới hạn của nó. Trong lịch sử văn
học thế giới, cũng đă có nhiều thi hào, văn hào
kiệt xuất nhưng vẫn bị “sẩy” giải Nobel Văn
Chương trong khi những tên tuổi đương thời khác
ít lẫy lừng hơn lại được. Có thể kể một số
trường hợp điển h́nh như: Tolstoy, Proust,
Hardy, Chekhov, Ibsen, James Joyce, Joseph
Conrad, Kafka, Bretch... là những tài năng văn
chương tuyệt vời của nhân lọai nhưng vẫn không
được trao giải thưởng Nobel Văn Chương.
Và trong một nhận định có tính cách tương đối
th́ hầu như các nhà văn, nhà thơ được gỉai Nobel
Văn Chương trong một thế kỷ qua đều có một giá
trị nhất định trong thế giới văn bút. Từ
Prudhomme, nhà thơ đầu tiên được giải văn chương
Nobel năm 1901 cho đến J.M. Coetzee năm 2003,
những tác giả đoạt giải Nobel có thể khác nhau
về nhiều mặt, nhưng tất cả đều có chung một điểm
là bên cạnh bề rộng của sự nghiệp văn chương rỡ
ràng, c̣n có bề sâu của tác phẩm. Những tác phẩm
tiểu thuyết, thi ca, triết học, biên khảo... của
họ là những cái giếng thăm thẳm của tư tưởng,
những ngọn núi sừng sững của suy tư. Sự nông cạn
và dễ dăi chỉ có thể sản xuất ra nhiều mớ bung
xung của chữ nghĩa, nhưng sẽ chẳng bao giờ có
đất đứng trong văn chương.
Biển kiến thức và con đường ư thức nhân loại
khởi đi một cách êm đềm từ những đầu óc “uyên áo”
như: Socrate, Platon, Aristote, Kant, Bergson,
Spinoza, Schopenhauer, Augustine... bỗng gặp
những ư hướng ly khai và những tâm hồn nổi loạn
của Dostoievski, Camus, Sartre, Faulkner,
Gide... đón đường tung hô và đập phá.
Dostoievski khắc khoải và trăn trở trong một bối
cảnh quê hương đang chuyển ḿnh đau nhức; Camus
kêu lên cho nỗi đau đớn của kiếp người; Sartre
gào la thống thiết cho sự tan hoang về những giá
trị vật chất và tinh thần của một thế giới gần
như tuyệt vọng; Faulkner cuồng nộ trong tiếng
gọi khẩn thiết của nhân sinh... và cả một trào
lưu văn nghệ vừa vuốt vừa đập, vừa trân trọng
vừa chối bỏ, và băo liệt hơn cả là trùng trùng
dẫm trên những lối ṃn quen nằm yên trong sương
nắng của thế kỷ 18, 19 để xua quân vào sâu, rất
sâu, tận những chân trời mới lạ và sâu thẳm của
ư thức khai phá trong văn nghệ và triết học thế
kỷ 20!
Trong khi nền văn học Tây Phương đang chuyển
ḿnh dữ dội: Từ tĩnh sang động; từ bề mặt sang
bề sâu; từ sự chấp nhận và thỏa hiệp dễ dăi sang
thái độ đương đầu, phân tích và luận lư có khi
tới mức độ bất chấp th́ ở Việt Nam, văn chương
vẫn c̣n tiến những bước êm đềm theo khung cảnh
của một xă hội nông nghiệp. Trước 1945, học giả
Phạm Quỳnh khi “Khảo Về Tiểu Thuyết” vẫn c̣n
khuyên các nhà văn theo cách kết cấu cổ điển của
Pháp: “Nếu kết cấu không thành truyện th́ dẫu
văn chương có hay đến đâu cũng không cảm được
người đọc”. Và sau 1945, ông Đặng Thai Mai trong
“Văn Học Khảo Luận” lại lên tiếng: “Một áng danh
văn bao giờ cũng hỗn hợp được hai phần tử bổ ích
và làm vui”! Bởi vậy cả một trào lưu văn học
Việt Nam trong khung cảnh thế kỷ 20 vẫn chưa
thoát khỏi t́nh trạng loay hoay biến những tác
phẩm văn chương thành những tập chuyện kể. Hoặc
có tiến xa hơn nữa th́ cũng loanh quanh trong
giới hạn “Tiểu thuyết tâm lư xă hội t́nh cảm”
lâm ly ướt át, vô thưởng vô phạt... khá phổ biến
ở miền Nam; hay khuynh hướng “Hiện thực phê phán”
sáo ṃn và đồng phục, thiếu sức bật được chỉ đạo
ở miền Bắc trong suốt thời kỳ Chiến Tranh Việt
Nam và kéo dài lê thê sang thế kỷ 21!
Trước thực trạng “Ở nhà nhất mẹ nh́ con, ra
đường lắm kẻ săn gịn hơn ta” hay “Thùng thùng
cha hát con khen, đất ta lên giọng ho hen xứ
người!” chúng ta cần có những phút lắng ḷng
chân thành nh́n lại chính ḿnh và gia tài tri
thức của tổ quốc ḿnh.
Trong lănh vực văn chương, Việt Nam ta không
thiếu nhân tài, nhưng thiếu mất một hệ thống
triết lư truyền thống làm nền móng cho nếp suy
nghĩ của dân tộc và thiếu hẳn một tinh thần
phiêu lưu, khai phá và phản kháng trong sáng tạo.
Nh́n lại nền văn học Lư Trần và Lê Nguyễn cổ
điển, chúng ta chưa thoát ra khỏi hệ tư tưởng
của Trung Hoa và Tam Giáo (Nho, Thích, Lăo).
Những tài năng ưu tú của dân tộc trong ḍng văn
học Hán Nôm đă chứng tỏ khả năng ưu việt trong
sức sáng tạo và diễn đạt ngôn từ, nhưng vẫn chưa
thoát ra khỏi cái ṿng “kim cô” nghiệt ngă của
văn chương Trung Hoa về hệ thống tư tưởng và nề
nếp suy tư. Một tài năng phiêu dật và hoa gấm
trong ngôn ngữ thi ca như Nguyễn Du vẫn không
vượt thoát được thế giới tư tưởng giới hạn của
Thanh Tâm Tài Nhân trong một tác phẩm tiêu biểu
cho niềm tự hào dân tộc như Đoạn Trường Tân
Thanh.
Trong nền văn học cận đại, chúng ta có Tự Lực
Văn Đoàn, có những nhà văn và tác phẩm đă đi vào
giáo khoa văn xuôi như Ngô Tất Tố, Vũ Trọng
Phụng, Nguyên Hồng, Nguyễn Tuân, Nam Cao, B́nh
Nguyên Lộc... và giáo khoa thi ca như các thi sĩ
tiền chiến: Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên,
Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng Chương...
Nhưng nếu tiếp cận với nền văn chương Tây Phương
của thế kỷ 19 & 20, chúng ta không khỏi băn
khoăn tự hỏi đâu là chân trời mới có tính cách
“độc sáng” của nền văn chương thuần Việt? Khi mà
những bóng ma và hào quang của Balzac, Hugo,
Dumas, Zola, Stendhal, Flaubert, Maupassant...
và những rung động véo von của Lamartine,
Verlaine, Baudelaire, Rimbeaud... trong văn
chương Pháp vẫn cứ “trêu ngươi” như những tác
gia khổng lồ chận đường sáng tạo của thế hệ văn
thi sĩ đàn anh. Dù thể hiện rơ nét hay bàng bạc
trong những hành trạng của nhân vật, trong h́nh
tượng nghệ thuật, trong phong thái diễn đạt hay
cả trong thủ pháp hư cấu và cường điệu... chúng
ta vẫn thấy cuộc chiến đấu rất “dũng cảm” nhưng
cũng đầy hệ lụy của giới văn bút đàn anh chúng
ta để phá ṿng vây ảnh hưởng thâm căn cố đế của
ḍng văn chương Tàu và Tây vẫn c̣n “mờ mờ nhân
ảnh, bất phân thắng bại”. Hay nếu cần phải nói
một cách thẳng thắn – tuy có thể hơi vô lễ nhưng
rất chân thành chăng? – rằng là, ḍng văn chương
của chúng ta giỏi bắt chước và khéo mô phỏng
nhưng chưa giỏi sáng tạo; thiếu hẳn một sự khẳng
định (để tiến tới một sự định h́nh cần thiết) về
bản sắc Việt Nam thuần túy của ḿnh trong văn
chương.
Viễn ảnh giải Nobel
Văn Chương cho giới văn bút Việt Nam
Có dịp theo dơi “Những Mùa Thu Nobel Văn Chương”,
mỗi chúng ta đều hướng mắt nh́n về khả năng
tương lai của một giải Nobel văn chương cho nhà
văn Việt Nam.
Trong năm nhà văn đọat giải Nobel Văn Chương
trong ṿng 5 năm qua vừa tŕnh bày ở phần trên
th́ tất cả 5 nhà văn nầy đều là những kẻ bị lưu
đày cả theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Gunter Grass (1999), gốc Ba Lan di dân về Đức,
sáng tác bằng tiếng Đức. Cao Hành Kiện (2000),
người Trung Hoa, qua sống ở Pháp, viết văn bằng
tiếng Tàu. V.S. Naipaul (2001), người gốc Ấn Độ,
sinh sống ở Anh, viết bằng tiếng Anh. Imre
Kertesz (2002), người gốc Do Thái, cư ngụ ở Hung
Gia Lợi, viết văn bằng tiếng Hungary. Và J.M.
Coetzee (2003), người Nam Phi, cư trú tại Úc,
dạy học tại Mỹ và viết văn bằng tiếng Anh.
Trong số gần 100 nhà văn, nhà thơ trên toàn thế
giới được giải thưởng Nobel văn chương mỗi năm
từø năm 1901 đến nay, châu Á chỉ có bốn người:
Rabindranath Tagore (Ấn Độ, 1913), Yasunari
Kawabata (Nhật Bản,1968), Kenzaburo Oe (Nhật Bản,
1994) và Cao Hành Kiện (Trung Hoa, 2000). Đất
nước và thời gian có khác, nhưng cả bốn chàng
“văn chương nết đất” phương Đông nầy đều có một
đặc tính chung là rất đa tài. Tagore là một thi
hào, nhà văn, nhà triết học, và cũng là một nhạc
sĩ đă sáng tác trên 3000 bản nhạc. Là nhà văn
nhưng Oe cũng là một nhà thơ được yêu chuộng của
Nhật. Ngoài ra Oe c̣n là một nhà viết phê b́nh,
luận thuyết đầy thuyết phục quần chúng và thu
phục nhân tâm. Kawabata cùng là một danh họa và
nhà thơ. Cao Hành Kiện, bên cạnh sự nghiệp văn
chương, là một kịch tác gia có kịch bản được lưu
diễn nhiều nơi trên thế giới. Cao cũng là một
họa sĩ đă từng triển lăm tranh ở Paris, London,
New York... Nhưng trên tất cả là tinh thần nhân
bản, ḷng trân trọng con người và lư tưởng thiết
thavới sự tự do và công bằng xă hội được thể
hiện qua đời sống và tác phẩm của bốn nhân vật
nầy. Tagore sống trong giai đọan Ấn Độ c̣n dưới
quyền thuộc địa của Anh; Kawabata lớn lên trong
khung cảnh thoái trào của chế độ quân phiệt Nhật,
Oe lớn lên với cảnh điêu tàn của nước Nhật trong
Thế chiến thứ hai; và Cao trưởng thành sau bức
màn tre của cộng sản Mao Trạch Đông. Cả bốn nhà
văn lớn đó – những cái “Nhà” rất đúng nghĩa
trong văn chương – đều đă không thỏa hiệp với sự
bất công, đày đọa và tha hoá con người của chế
độ chính trị trong thời đại của ḿnh. Ng̣i bút
của họ đă t́m đến với con người có tâm hồn, có
bản ngă và giàu nhân tính.
Thực tế nầy đă giải tỏa định kiến cho rằng, giải
Nobel là sản phẩm Tây Phương, nên kỳ thị sản
phẩm văn chương không phát xuất từ Phương Tây,
cả trong nguồn gốc xuất thân của tác giả và ngôn
ngữ sử dụng trong tác phẩm. Và cũng chính thực
tế nầy cho thấy rằng, những nhà văn phản kháng
thế lực chuyên quyền và áp bức; những nhà văn
lưu cư và bị lưu đày, bị bứng ra khỏi nguồn cội
quê hương thường đă mang cái “chủng tử” của một
nhà văn lớn. Nhưng môi trường văn hóa và xă hội
nào để cho “chủng tử nhà văn lớn” được nẩy mầm,
đơm hoa kết trái thành cây đại thụ văn chương?
Khi nói đến nền văn chương và triết học Tây
Phương, người ta có khuynh hướng nhắc đến Âu và
Mỹ. Hai nước đại biểu cho Âu và Mỹ có bối cảnh
văn chương, truyền thống văn hoá, nền móng triết
học hoàn toàn khác nhau là Pháp và Hoa Kỳ. Điểm
đáng chú ư là về “tuổi tác” của hai nước: Nước
Pháp tính từ thời bộ tộc Celts, đă ngót 3.000
tuổi thọ; trong khi Mỹ lập quốc chỉ mới 300 năm.
Pháp là chiến nôi văn chương của Châu Âu, trong
khi Mỹ là chiếc nôi kỹ nghệ của Phương Tây,
nhưng điều lư thú là tỷ số các thi tài và văn
tài đọat giải văn chương Nobel của hai nước lại
ngang nhau. Pháp chiếm 12 giải : Prudhomme
(1901), Mistral (1904), Rolland (1915), France
((1921), Bergson (1927), Gide (1947), Mauriac
(1952), Camus (1957), Perse (1960), Sartre
(1964), Bekett (1969), Simon (1985).
Mỹ cũng chiếm 12 giải văn chương Nobel ngang
hàng vớp Pháp trong suốt 100 năm qua: Lewis
(1930), O’Neil (1936), Buck (1938), Faulkner
(1949), Hemingway (1954), Steinbeck (1962),
Bellow (1976), Singer (1978), Milosz (1980),
Brodsky (1987), Walcott (1992), Morrison (1993).
Cũng trong suốt một thế kỷ văn học với giải
Nobel này th́ Anh được 7 giải, Đức được 6 giải,
Liên Bang Sô Viết được 4 giải và trong số 4 giải
này th́ riêng Nga chỉ được một giải của Ivan
Bunin năm 1933.
Như vậy, yếu tố nào đă khiến Mỹ là kẻ “ăn sau
chạy dọi” lại tạo được một ưu thế văn chương như
thế? Các nhà nghiên cứu văn học thế giới đưa ra
nhiều luận điểm khác nhau về câu hỏi này. Nhưng
tựu trung có những điểm chính sau đây:
- Về văn hóa: Mỹ là một quốc gia hợp chủng nên
văn hóa Mỹ là một văn hóa hợp chủng. Sự “thuần
nhất” của Mỹ lại chính là sư đa dạng và sự dung
hợp tất cả mọi khuynh hướng đa dạng và khác biệt
đó thành một sức sống mới mang tính thực tế,
nặng lư tính và mày vẻ cá nhân. Mỹ không có một
hệ thống triết lư dân tộc riêng, nhưng lại là
một môi trường thuận lợi để “tập đại thành” và
dung hóa những trào lưu triết học và văn học thế
giới để tạo thành một triết lư “Duy Mỹ”
(Americanism, chứ không phải Aestheticism).
- Về văn nghệ: Hoàn toàn tự do trong sáng tạo.
Người nghệ sĩ không bị khống chế bởi bất cứ
những tiêu chí, yêu cầu hay chỉ đạo nào ngoài
chính tài năng, tư duy và sự chọn lựa của riêng
ḿnh. Chỉ có người thưởng ngọan nghệ thuật, độc
giả và thời gian là sự thử thách ghê gớm nhất
đối với người nghệ sĩ; là thước đo, là sự đánh
giá chuẩn xác nhất giá trị của tác phẩm nghệ
thuật.
Từ xa, nh́n về tổ quốc, bất cứ đứa con Việt Nam
tha hương nào cũng mang nhiều ước vọng cho một
tương lai tươi sáng của quê cha đất tổ ḿnh. Có
những hiện thực mà khi c̣n ở quê nhà ḿnh mặc
nhiên chấp nhận, nhưng khi sống ở xứ người, tiếp
cận với những nhóm dân tộc khác, lại trở thành
câu hỏi. Mấy ai đang ở trên quê hương lại tẩn
mẩn băn khoăn tự hỏi: “Ta là ai giữa vùng đất
nầy?” hay “Ta là người Việt Nam, có nề nếp suy
tư, có phong cách cuộc sống khác với những người
Tàu, Tây, Nhật, Thái, Miên, Lào, Nga, Mỹ...
quanh ta như thế nào?” Văn hóa và phong tục tập
quán Việt Nam đang nhạt dần trước nhu cầu cuộc
sống đ̣i hỏi phải dấn thân, phải điều chỉnh, có
khi phải đồng hoá hay bị đồng hoá với xă hội mới
để sống c̣n. Duy nhất chỉ c̣n ngôn ngữ và văn
chương là những thành lũy Việt Nam c̣n đứng vững
được để xác lập, để định nghĩa Ta-Việt-Nam là ai
và Việt-Nam-Ta là ǵ!
Ḍng văn học học hải ngoại, do đó, không chỉ là
một h́nh thái tiêu khiển, một món ăn tinh thần
như khi c̣n ở quê nhà mà c̣n là một “căn cứ địa”
cuối cùng của bản sắc Việt Nam cho hôm nay và
cho thế hệ tương lai trong mối tương quan đa
chủng tộc và giữa ḷng thế giới.
Một cách vô h́nh trung, văn chương Việt Nam có
hai ḍng văn học: Ḍng văn học Quê Nhà và Ḍng
văn học hải ngoại. Nhận định tổng quan về yếu
tính của hai ḍng văn học, ông Hoàng Hải viết
trong báo Thế Sự (09-03) rằng: “ Thực tế và kinh
nghiệm Việt Nam qua cuộc chiến tranh trường kỳ
và gian khổ nhất trong lịch sử thế giới cận đại
là cả một gia tài tư liệu khổng lồ và cảm hứng
chất ngất cho giới văn bút Việt Nam. Thế nhưng
đă 30 năm trôi qua mà vẫn chưa có một tác phẩm
văn chương nào phản ánh hiện thực lịch sử và đất
nước, con người Việt Nam xứng đáng mang tầm cỡ
quốc tế. Ḍng văn học nội địa có vẻ như thiếu
bắp thịt để xiển dương nội lực cho sự h́nh thành
một tác phẩm văn chương gây được sự hâm mộ của
cộng đồng văn bút quốc tế. C̣n ḍng văn học hải
ngoại th́ dường như bị thiếu máu nên phần lớn
những tác phẩm văn thơ ra đời kể lể than van bao
sự cố đă thành cố sự, chưa gây được sự chú ư của
giới văn bút Âu, Mỹ... Nếu đem so với những nhà
văn, nhà thơ thế giới đă chiếm được hay được đề
bạt giải Nobel th́ giới văn bút Việt Nam ta lại
vừa gần vừa xa: Gần v́ cũng có tài năng văn
chương như ai; nhưng xa v́ phần lớn viết theo
kinh nghiệm ‘khôn vặt’ dễ dăi hơn là sự từng
trăi đi xa hiểu rộng kết hợp với nỗ lực t́m ṭi,
nghiên cứu khách quan và có hệ thống giáo khoa
cơ bản.”
Theo dơi sinh hoạt văn học nghệ thuật trong nước
và ngoài nước, bên cạnh giới văn nghệ đàn anh
phần đông đă mỏi mệt, hoặc đang sống bằng ảo ảnh
một thời vang bóng, sáng tác cầm chừng theo
trung b́nh chủ nghĩa, th́ giới văn bút trẻ thuộc
thế hệ đàn em sau chiến tranh Việt Nam đang vươn
lên. “Lực lượng sáng tác” thật sự có tài năng là
điều quan trọng cốt lơi đă đành, nhưng khung
cảnh và hoàn cảnh sáng tác cũng đóng một vai tṛ
thiết yếu để cho những tác phẩm văn chương lớn
ra đời. Trong nước, ai chịu trách nhiệm về khung
cảnh và hoàn cảnh sáng tác hiện tại? Ngoài nước,
khung cảnh sáng tác mang tính tự phát nên mỗi
con người văn nghệ chịu trách nhiệm với chính
ḿnh trong sáng tạo.
Các tác giả thắng giải Nobel văn chương trong 5
năm qua, như đă tŕnh bày ở trên, đều có chung
một hoàn cảnh sáng tác hơi na ná giống nhau: Đấy
là tâm thức bị lưu đày nơi quê người hay chính
trên quê hương của ḿnh và ư thức phản kháng kết
hợp với khuynh hướng hướng thiện và lư tưởng cải
tạo xă hội làm động cơ thôi thúc sáng tạo.
Và đấy cũng chính là ước vọng cháy bỏng của kẻ
di dân thời hậu chiến, v́ hoàn cảnh phải sống
tha hương nhưng luôn luôn quay quắt đi t́m lại
gốc gác của ḿnh. Họ đă trộn lẫn chất liệu từ
một quê hương xa cũ trên vùng đất của tổ tiên,
kết hợp với tri thức và kinh nghiệm của những ǵ
đang sống để sáng tạo. Những nhà văn, nhà thơ
Việt Nam hiện đại ở quê nhà và răi rác trên khắp
năm châu đă và đang trải qua nhiều hoàn cảnh và
kinh nghiệm sống thực khác nhau. Nhưng trong
sáng tạo, một nghệ sĩ chân chính dù đang ở trên
quê hương hay trở thành công dân nước khác vẫn
có sự gắn kết thiết thân với quê hương nguồn cội
của ḿnh như trường hợp Joseph Brodsky (Nobel
1987) từ Nga qua Mỹ, Elias Canetti (Nobel 1981)
từ Bungary qua Anh, Czeslaw Milosz (Nobel 1980)
từ Ba Lan qua Mỹ, Cao Hành Kiện (Nobel 2000) từ
Tàu sang Pháp, V.S Naipaul (Nobel 2001) từ Ấn
qua Anh...
Văn chương khác với kinh tế và kỹ thuật v́ không
có hiện tượng phồn vinh đột biến. Không thể có
người tháng trước làm thơ con cóc, bỗng tháng
sau thi tài phát tiết như Nguyễn Du trong văn
chương. Sáng tạo văn chương là một quá tŕnh
tiệm tiến. Những nhà văn lớn đều lấy thời gian
cả cuộc đời ḿnh để vun đắp cho bề dày, bề cao
và bề rộng của sự nghiệp văn chương.
Bởi vậy khi nói đến một viễn ảnh về giải văn
chương Nobel cho giới văn bút Việt Nam khó mà
khẳng định thời điểm và con người. Trong 30 năm
qua của thời hậu chiến Việt Nam, chúng ta chưa
có một nhà thơ hay nhà văn nào là đương kim
“siêu sao văn chương” cho thế giới người Việt,
nói chi đến viễn ảnh xa xôi của thế giới con
người.
Người Việt vẫn thường tự hào ḿnh là một dân tộc
thi ca. Mong rằng, “Viễn Ảnh” tuy mơ hồ, nhưng
là niềm hy vọng chứ không phải là ảo tưởng.
Trần Kiêm Đoàn
văn học nghệ thuật
bút luận
trang chính
|