|
Tranh luận văn học:
Một cái nh́n từ xa về vấn đề
văn học
Việt Nam hiện tại
Trần
Kiêm Đoàn
LTS: Trong Tạp Chí Ngày Nay ra ngày 15-3-2004 tại Hà
Nội, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp viết: “Nh́n vào danh sách
hơn 1000 hội viên Hội Nhà văn Việt Nam người ta thấy đa
số đều chỉ là những người già nua không có khả năng,
sáng tạo và hầu hết đều ‘vô học’, tự phát mà thành danh.”
Ba bài viết của NHT đă gây nên một cuộc bút chiến sôi
nổi chưa từng có ở Việt Nam dưới chính thể cộng sản. Bài
phản pháo mở màn của nhà văn Trần Mạnh Hảo đă châm ng̣i
cho cuộc tranh luận vẫn c̣n đang tiếp diễn. Độc giả
ngoài nước có thể đọc các bài viết nầy và theo dơi cuộc
tranh luận trên các trang Web: Talawas, BBC Vietnamese.
Một ư kiến khác từ ngoài nướcvừa gửi đến Cali Today để
tham gia cuộc tranh luận là của anh Trần Kiêm Đoàn tại
Sacramento, Cali, Mỹ. Hẳn nhiên, đây là bài viết theo
quan điểm riêng của anh Trần Kiêm Đoàn và chúng tôi cũng
sẵn ḷng đăng những bài viết khác của quư vị để cuộc
tranh luận thêm phần hào hứng. Trân trọng. Cali Today
Tâm lư xa quê và tiếng Việt
Khi sự cố đă thành cố sự, chuyện xẩy ra đă qua đi nhưng
vẫn c̣n dấu vết, người ta vẫn có thói quen xếp nó vào
một trong hai ngăn: Ngăn kinh nghiệm hay ngăn kỷ niệm.
Tuy nhiên, vẫn có trường hợp xếp vào ngăn nào cũng không
vừa. Không vừa chẳng phải v́ nó quá lớn hay quá nhỏ mà
chỉ v́ nó không đủ tác động dằn vặt, chua xót, cay đắng,
vinh quang, sung sướng hay tủi nhục để thành kinh nghiệm.
Nhưng cũng chẳng đủ êm đềm, cảm khái, xúc động hay đam
mê để trở thành kỷ niệm. Xếp vào đâu? Xếp vào ngăn hoài
niệm: Đó cái ngăn t́nh cảm không có khóa nên thường dễ
nhớ khi tưởng như đă quên và lại quên khi tưởng rằng
đang nhớ. Với cuộc sống nóng bỏng ở Mỹ, th́ chỉ có những
suy tư và “sự cố văn chương” là có vẻ vừa vặn để xếp vào
ngăn hoài niệm đó, v́ trên xứ sở quá thực dụng nầy, văn
chương không phải là một nhu cầu mà chỉ là một thú tiêu
khiển.
Hơn hai chục năm sống xa quê hương trên đất Mỹ, hàng
ngày nói tiếng Việt để thương và nói tiếng Anh để sống,
tôi cứ ngỡ cái ngăn hoài niệm văn chương đó chỉ c̣n là
quá khứ! Nhưng thực tế lại khác hơn điều suy nghĩ v́
càng ngày, trong những năm về sau, tôi lại càng mở
thường xuyên hơn cái ngăn hoài niệm đó.
Những năm đầu chân ướt chân ráo đến Mỹ, cũng giống như
bao người cùng trang lứa và đồng cảnh ngộ, tôi “tập quên”
tiếng Việt để căng mắt, rướn người, uốn lưỡi, kiếm đà...
nhảy cho qua bức tường lửa của ngôn ngữ. Cái ngăn hoài
niệm bị thực tế và nhu cầu cuộc sống trước mắt phong tỏa.
Năm năm đầu tôi không dám mở ra. Tôi “sợ” tiếng Việt
cũng như sợ phim chưởng Hồng Kông. Quên đi th́ chớ, chứ
mở ra th́ mê. Đêm mê đọc tiếng Việt hay đêm mê thức
trắng để xem phim bộ Hồng Kông, ngày mai dật dờ trong
môi trường tiếng Mỹ, cầm chắc trong tay bị đuổi việc làm
th́ lấy ǵ để sống. Tôi có thể uống nước lạnh nằm nhà
vài hôm... ngâm thơ, nhưng các cháu mà uống nước lạnh
th́ chỉ c̣n “ngậm thở”!
Khi “bức tường lửa” của ngôn ngữ càng lụi dần th́ ngăn
hoài niệm từ từ mở ra như một sự kêu gọi vô h́nh mănh
liệt mà bố già phân tâm học nổi tiếng thế giới, Eric
Erikson, gọi là một sự “quân b́nh về bản lai2”
(equilibrium of identity).
Trong văn học, người ta có thể dấu một đại lục dưới đáy
biển, nhưng lại khó ḷng mà dấu cái “bản lai Việt Nam”
giữa những suy tư và trong từng con chữ. Cũng thế, có
những tác giả đă thành danh, văn họ viết ra dù kư dưới
bất cứ bút hiệu nào th́ người đọc vẫn cảm thấy sự quen
thuộc và gần gũi rất “cố tri”!
Nh́n về cuộc tranh luận văn chương
Từ phía bên nầy, tôi vừa được đọc 3 bài nhận định về
t́nh h́nh nhà văn Việt Nam đương đại của nhà văn Nguyễn
Huy Thiệp, nhan đề: “Tṛ chuyện với hoa thủy tiên và
những nhầm lẫn của nhà văn”. Tuy đă quen với văn phong
và văn tứ của anh trong những chuyện ngắn thời danh như
Tướng Về Hưu, Con Gái Thủy Thần, Như Những Ngọn Gió...
tôi vẫn cảm nhận được chất lửa hừng hực của Nguyễn Huy
Thiệp toát ra từ cả ba bài viết. Phản ứng tâm lư tức
thời của một người có chút ít duyên nợ c̣m với văn
chương, sống xa quê hương như tôi là thật sự xúc động.
Xúc động không phải v́ khả năng có thể đồng ư hay không
với cách nh́n và nội dung của bài viết, nhưng là v́ tác
giả đă bất chấp búa ŕu dư luận của giới nhà văn sẽ phản
ứng mạnh khi bị động chạm, để viết ra một cách thẳng
thừng những suy nghĩ của ḿnh. Auraleo Perez, một nhà
văn trẻ và cũng là một bác sĩ y khoa thuộc phái cách tân
Nam Mỹ nói về ngôn ngữ văn chương: “Nội dung như nồi xúp,
văn phong như ngọn lửa. Đun lửa quá nhiều xúp sẽ bị cháy,
khó nuốt và mất ngon; bật lửa ít biết xúp nấu bao giờ
cho chín!” Như thế, có vẻ như người cầm bút cũng giống
như người điều khiển vặn nút ḷ ga. Sự chọn lựa nào cũng
ít nhiều kéo theo những hệ lụy tất yếu của nó. Tôi nghĩ
là nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đă canh nút ḷ ga của anh để
nấu món xúp văn chương theo tốc độ mà anh cần.
Sau đó không lâu, tôi lại được đọc bài: “Có thật đa số
các nhà văn Việt Nam đều vô học, các nhà thơ đều lưu
manh hay là ‘hội chứng chửi có thưởng’ thời nay?” của
nhà thơ/nhà văn Trần Mạnh Hảo. Tôi đọc bài nầy cùng một
đêm với những trang cuối của tác phẩm phê b́nh văn học
“Văn Học - Phê b́nh, Nhận diện” của anh do Văn Học xuất
bản năm 1999. Nhắc đến Trần Mạnh Hảo tôi thường nhớ đến
những câu thơ tài hoa của anh nhiều hơn là các bài viết
văn xuôi của anh. Có lẽ tại v́ tôi cứ lẩn thẩn nghĩ rằng
anh có “căn cơ” của một thiền sư “Đổi kinh lấy rượu tâm
hư uống tràn” khi đọc Giao Thừa Nhớ Rét với hai câu thơ
đẹp như mây khói thảo am của anh:
Rét quánh lại thành rêu trời xanh ngái
Nhớ thịt đông mây trắng ngủ trong nồi
Nguyễn Huy Thiệp và Trần Mạnh Hảo, cả hai đều là những
khuôn mặt nổi tiếng trong văn giới nước nhà và hải ngoại
hiện nay.
Cũng giống như nhiều người Việt sống ở nước ngoài, nhưng
vẫn c̣n quan tâm đến sinh hoạt văn học nghệ thuật ở quê
nhà, chúng tôi vẫn cố giữ cho ngọn đèn tiếng Việt tiếp
tục cháy trong ḷng ḿnh và trong ḷng thế hệ trẻ Việt
Nam giữa một xă hội đa chủng tộc và lấy tiếng Anh làm
ngôn ngữ chính như Mỹ. Tuy ít có cơ hội tiếp cận thường
xuyên với tác phẩm và sinh hoạt văn học nghệ thuật tại
quê nhà, nhưng chúng tôi vẫn cố gắng bằng mọi phương
tiện có được để không biến ḿnh thành người “ngoại quốc”
của văn học nghệ thuật Việt truyền thống và đương đại.
Bởi vậy, chúng tôi không ngây thơ để cả tin vội vàng vào
một nhận định bất cứ từ phía nào tới. Văn học nghệ thuật
là một phần gia tài tinh thần quan trọng của văn hóa.
Cho nên sự xây dựng, phê phán nghiêm khắc và nếu cần phá
đổ... đều là một quá tŕnh tổng hợp lâu dài. Quá tŕnh
đó là một chuỗi diễn biến và tác động qua lại nhiều
hướng và nhiều chiều của sự kiện (facts) chứ không phải
của ư kiến hay quan niệm cá nhân (opinions) đơn thuần.
Khi xưa nhà thơ Cao Bá Quát có bịt mũi, nhăn mặt kêu lên:
“Ngán thay cái mũi vô duyên. Câu thơ Thi Xă con thuyền
Nghệ An” th́ khách yêu thơ có thể thích thú vỗ tay reo
cười, nhưng Mặc Vân Thi Xă không v́ thế mà thịnh đạt hay
suy đồi v́ hội thơ đó là một thực thể sinh động của thi
ca chứ không phải chỉ là nhăn hiệu phù phiếm của khẩu
hiệu và thần chú để người đời bái phục hay trêu chọc.
Cũng thế, hội Nhà Văn Việt Nam như thế nào th́ đă có
những tác phẩm của các thành viên trong hội tự nó nói
lên tư chất của họ. Từ một góc độ tích cực nhất, tôi
nghĩ rằng, một tổ chức văn học và gia tài tác phẩm văn
học của tổ chức đó… nếu ngày nào vẫn được c̣n chú ư, vẫn
được khen ngợi nhiệt t́nh hay bị chê trách gay gắt th́
ngày đó vẫn c̣n xác định được thế đứng và tác dụng của
ḿnh trong ḷng người đọc. Điều đáng sợ nhất cho một nhà
văn hay một tác phẩm văn chương là hiện tượng ra đời và
biến mất trong im lặng. Paul Eszlinger nói lên điều nầy
một cách thấm thía trong tác phẩm Phê B́nh Thời Thượng
(Contemporary Criticism), rằng: “Nhà văn và tác phẩm
được coi như đă chết khi không c̣n ai biết hay nhớ để
khen chê.” Và, ông cũng nói tiếp: “Tất cả mọi sự khen và
chê dù chủ quan hay khách quan; dù nhẹ nhàng hay thô bạo
đều là tiếng kèn sống động thôi thúc nhà văn nên tự biết
ḿnh để tiếp tục cầm bút vươn lên hay ném nó đi và chọn
một nghề khác thích hợp hơn.”
Cũng có khi những khuynh hướng luận bàn văn học Việt Nam
không phát xuất từ phía người Việt mà lại phát xuất từ
phía người Mỹ. Đấy là trường hợp nhà thơ Mỹ John Balaban
dịch thơ Hồ Xuân Hương và ca dao Việt Nam ra tiếng Anh
quá sai lạc với nguyên bản tiếng Việt hay Nôm cũng đă
gây ra nhiều tranh luận giữa chúng tôi và Art Times
Journal về đề tài “To Translate is to Betray?” (Dịch là
Phản?)
Nói gọn lại th́ các cuộc tranh luận văn chương, từ căn
bản, mang bản tính chất lành mạnh của một thực thể văn
chương chưa bị lụi tàn và quên lăng.
Không lâu trước ngày ba bài viết của nhà văn Nguyễn Huy
Thiệp nhận định về giới văn bút Việt Nam đăng trên báo
Ngày Nay, tôi cũng đă có dịp nêu những ư kiến khiêm tốn
của ḿnh trong bài nhận định: “Viễn ảnh một giải Nobel
văn chương cho giới văn bút Việt Nam” đăng trên các báo
Xuân Việt ngữ tại Mỹ, Canada và Úc. Bài nầy cũng được e-Văn
của VNExpress và TALAWAS trong nước đăng lại. Qua bài
nầy, sau khi điểm qua tác giả và tác phẩm tiêu biểu của
giải Nobel thời cận đại, tôi đă nêu lên câu hỏi là tại
sao đă ba mươi năm sau cuộc chiến Việt Nam, một cuộc
chiến trường kỳ và có tác động rất lớn trên cả toàn thế
giới như vậy, đến nay chúng ta vẫn chưa có những tác
phẩm văn học xứng đáng với lịch sử và thời đại, mang tầm
cỡ quốc tế? Tôi không phủ nhận tài năng của đa số nhà
văn Việt Nam. Nhưng sự thắc mắc vẫn chưa giải tỏa được
khi nh́n lại khoảng cách quá xa giữa nhà văn và tác phẩm,
giữa văn tài và văn phẩm, giữa đội ngũ khá hùng hậu của
nhà văn Việt Nam và sự vắng bóng của những tác phẩm văn
chương có tầm cỡ lớn lẽ ra đă có.
Đến khi đọc phần nhận diện và phân tích các nhà văn, nhà
thơ của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tôi hơi bị chững lại.
Vốn đă quen với thủ pháp diễn đạt tài hoa nhưng cũng cực
kỳ bạo liệt trong một số chuyện ngắn đă xuất bản của anh,
tôi vẫn cảm thấy quá nhiều chất lửa khi anh nói về nhà
văn, nhà thơ Việt Nam bằng ngôn ngữ gay gắt, không khoan
nhượng. Rất có thể v́ quá say sưa trong lư luận và phân
tích về tư chất và phẩm cách của giới nhà văn Việt Nam
đương đại, nên anh chưa có những dẫn chứng cụ thể mang
tính thuyết phục cần thiết để làm căn bản cho nhận định
của anh, và đồng thời cũng làm giảm bớt sự phê b́nh phản
bác gay gắt, nếu có. Theo nhà văn Nguyễn Huy Thiệp th́
đương đại hầu như đồng nghĩa với “suy đồi” (?). Tác giả
viết: “Các nghệ sĩ sống trong thời hiện tại không thể
tránh được sự dung tục, nhảm nhí, không thể tránh được
bọn tiểu nhân, bọn phàm phu tục tử, lưu manh,
philillistanh, ngụy quân tử v.v...” Như thế có nghĩa là
hoàn cảnh sáng tác suy đồi hay chính bản thân lớp nhà
văn Việt Nam hiện đại suy đồi? Và, nếu sự suy đồi nầy có
thật, dù ở phía bên nào, th́ đấy là một khái niệm mang
tính triết lư, tâm lư, xă hội hay là một hiện thực có
thể kiểm nghiệm được trong sự đối thoại với gị hoa thủy
tiên của anh?
Phản ứng trực tiếp và nhanh chóng đối với bài viết của
nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là bài nhận định của nhà
thơ/nhà văn Trần Mạnh Hảo. Là một nhà thơ, nhà văn, nhà
biên khảo có nhiều tác phẩm thi ca và công tŕnh biên
khảo đă xuất bản, lần nầy, bài nhận định của nhà phê
b́nh văn học Trần Mạnh Hảo xuất hiện có vẻ như không
cùng một tần số với bài viết của nhà văn Nguyễn Huy
Thiệp. Thay v́ cùng nhồi bóng trên sân chơi với cầu thủ
Nguyễn Huy Thiệp để tranh tài cao thấp, làm bàn tung
lưới đẹp mắt, th́ trọng tài Trần Mạnh Hảo nghiêm khắc
thổi c̣i phạt cầu thủ vượt quá lằn ranh giới hạn. Việc
đánh giá sự tỉnh táo và suy diễn mục đích của nhà văn
Nguyễn Huy Thiệp khi viết bài nhận định nêu trên không
quan trọng bằng sự phân tích và nhận định chân dung giới
nhà văn Việt Nam hiện nay “như thế nào”. Nhất là khi
Trần Mạnh Hảo muốn xác lập một hướng nh́n hầu như ngược
lại với Nguyễn Huy Thiệp. Tinh hoa của nhà văn, nhà thơ
là tác phẩm sáng tạo của chính họ chứ không phải những
phụ dung quanh con người và lối sống của họ. Giai điệu
của Requiem có làm nhân loại đời sau xúc động hay không
chứ có ai thắc mắc Mozart sáng tác khi c̣n thanh xuân
hay trong cơn chết của ông; hoặc băn khoăn v́ sao mà ông
viết một điệu ca bi ai đến thế đâu.
Sự phân tích và lư luận của nhà văn Trần Mạnh Hảo về bài
viết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp tăng cường độ đến mức
cao điểm quanh vấn đề “học” khi anh trích lại lời của
NHT nói rằng, những nhà văn Việt Nam trong hội nhà văn
là “vô học”.
Tôi không có ư diễn dịch xa hơn và vẫn chưa hiểu cụm từ
“vô học” đặt trong nháy nháy của nhà văn Nguyễn Huy
Thiệp có cùng một khái niệm như từ “vô học” của nhà văn
Trần Mạnh Hảo trích ra từ Đại Từ Điển Tiếng Việt hay
không. Đối với một nhà văn, cái phẩm chất “học” thật
khác xa với cái học quy ước của trường ốc. Không ai có
thể phủ nhận được rằng kiến thức và kinh nghiệm là vũ
khí cần thiết của nhà văn. Vốn tri thức là phương tiện
tĩnh mà học vấn là phương tiện động của nhà văn. Chất
liệu sáng tác của những nhà văn điển h́nh là đọc, đi và
sống. Cuốn sách nhỏ trong trường học và thư viện cần
phải có cuốn sách lớn ngoài đời làm bảo chứng. Nhà văn
chỉ đọc mà không sống thực là làm “văn nói suông”; ngược
lại, chỉ sống lăn lộn ngoài đời để t́m chất liệu sáng
tác mà không chịu đọc và tham khảo sách vở là viết “văn
nói đại”. Văn nói suông và văn nói đại là mớ chữ nghĩa
qua ngày chứ không phải văn chương đích thực.
Rơ ràng là “cái học” của nhà văn không có cùng một khái
niệm, một quy ước với sự học vấn thông thường trong hệ
thống trường học chính quy. Mục tiêu của trường học là
cung cấp kiến thức mà sự biểu hiện hữu h́nh và cụ thể là
bằng cấp, học vị. Nhưng mục tiêu của nghệ thuật là nắm
bắt sự rung động và diễn đạt sự rung động đó bằng phương
tiện nghệ thuật mà sự biểu hiện cụ thể là tác phẩm. Một
nhà văn không có tác phẩm xứng đáng cũng giống như chú
học tṛ, người sinh viên không có văn bằng tốt nghiệp
tương xứng với cấp học của ḿnh. Học là một quá tŕnh
thu thập và vận dụng. Như thế “cái học” của nhà văn là
ǵ? Theo tôi th́ cái học của nhà văn là một sự tham dự
trực tiếp vào hiện thực cuộc sống. Tham dự với trí óc và
tâm hồn mở rộng để tiếp thu thế giới đối tượng vào trong
tâm hồn và sự suy tư độc lập của chính ḿnh. Từ đó sử
dụng một cách năng động trong âm thầm và cô đơn qua trực
giác, cảm nhận, kiến thức, kinh nghiệm và bản lĩnh nội
tại của chính ḿnh để tái tạo cho ḿnh một thế giới
“không giống ai”. Đấy chính là sự độc sáng (uniqueness,
personal creation) của nghệ thuật. Và, đấy cũng chính là
cái mới của nghệ thuật. Sáng tạo là một tiến tŕnh t́m
ra cái mới từ trong cái cũ. Văn, thơ, nhạc, họa… cũng
phải sử dụng phương tiện đă cũ, đă có sẵn hàng bao thế
kỷ như ngôn ngữ, kư hiệu (chữ viết), âm thanh, màu sắc…
để sáng tạo ra tác phẩm. Bởi vậy, “cái học” của nhà văn
là cái học dấn thân (integration) và khám phá
(discovery) để sáng tạo, chứ hoàn toàn không phải là cái
học thu nhận thụ động, nhớ nằm ḷng và tích lũy chờ cho
đến ngày trả bài để được giám khảo đánh giá đậu hay
hỏng, được hay thua. Những mảnh văn bằng cử nhân, thạc
sĩ hay tiến sĩ chẳng phải là “điều kiện ắt có” để tạo ra
văn chương và ngược lại.
Cái “học” của những nhà văn lớn là sự dấn thân vào môi
trường mà họ muốn viết. Họ học bằng cách sống thật, bằng
sự quan sát, phân tích và suy tư đến tận cùng sâu thẳm
thế giới riêng tư, trần trụi, cũ mèm và mới tinh nguyên
trong chính họ, xung quanh họ, thiết thân đối với họï.
Thế giới nội tâm đó bao la và vĩ đại quá đối với một nhà
văn, nhưng dường như “chẳng có ǵ đáng nói” đối với cuộc
đời thường. John Steinbeck trong tác phẩm Chùm Nho Uất
Hận (The Grapes of Wrath) đă chọn cuộc sống của gia đ́nh
Joad, một gia đ́nh di dân xuất thân lang thang làm thuê
ở nông trại. Những “biến cố” trong toàn bộ câu chuyện
đều là những sự việc b́nh thường trong cuộc đời thường.
Ernest Hemingway trong Ngư Ông và Biển Cả (The Old Man
and the Sea) cũng chỉ quanh quẩn với ông già Santiago và
con cá mập để độc thọai với biển khơi. Toni Morrison
trong Bài Ca Solomon (Song of Solomon) cũng giới hạn
trong thế giới của Milkman Dead một người đàn ông trung
lưu, b́nh thường đi t́m lại gốc gác của ḿnh. Cao Hành
Kiện với Linh Sơn (Soul Mountain), chẳng cần những củ
sâm 1000 năm của tiểu thuyết Kim Dung mới xây dựng được
thế giới diệu kỳ cho tác phẩm. Thế nhưng họ đă xây dựng
được những tác phẩm lẫy lừng trên văn đàn thế giới bằng
những chất liệu “b́nh thường” như thế. Nếu t́m hiểu sâu
hơn lịch sử đời tư của họ, chúng ta sẽ thấy được những
nhà văn lớn đó đă dấn thân và “học” như thế nào.
Phải chăng đấy là cái “học” cần thiết cho người cầm bút
mà nhà văn Nguyễn Huy Thiệp muốn nói đến?
Nếu có một “hội nghị văn học” nào đó cho những người cầm
bút Việt Nam, tại quê nhà cũng như ở nước ngoài, có lẽ
những ưu tiên cần nói với nhau trong lúc nầy là sự định
h́nh lại giá trị đích thực của nội dung và sinh hoạt văn
chương. Điều ǵ nhà văn cần nói với nhau trước nhất? Đâu
là tiêu chí của sự định h́nh đó? Có thể là (1) sự dấn
thân của nhà văn, (2) bản lĩnh và phẩm cách của nhà văn,
(3) cái mới trong văn chương, và (4) cái “học” của nhà
văn... chăng?
Hội văn chương xưa nay là giàn phóng của nhà văn chứ
không thể là pháo đài núp bóng của nhà văn. Hội nhà văn
bất cứ ở đâu là chiếc thuyền ra khơi của nhà văn chứ
không phải là phương tiện để trở về bến đậu của nhà văn.
Đa phần các Hội Nhà Văn ở Âu châu và Mỹ châu là một môi
trường thi thố và thử thách tài năng chứ không phải là
những câu lạc bộ để trải chiếu hoa cạp điều mời nhau
nhập cuộc mà đấu đá, ca nhau hay cùng nhau “dấn thân”...
vào ngơ cụt! Sau một thời gian nhập hội, những nhà văn
nào cảm thấy ḿnh không c̣n sáng tác được nữa th́ tự
động xin ra khỏi hội để giữ danh tiếng cho hội và khí
tiết của nhà văn chứ không thể ngồi lỳ dưới bóng râm của
hội để tính chuyện lăo làng. Những hội nhà văn như
L’Association Professionelle des Écrivains de France,
Academie des Écrivains Publics de France (Pháp) hay
National Writers Association, National Association of
Women Writers, Southeastern Writers Association (Mỹ)...
định nghĩa giá trị hội viên của họ bằng tác phẩm tŕnh
làng cụ thể và rất chật chỗ lẫn hà tiện cho sự phát
triển khuynh hướng “sống lâu ra lăo làng”.
Theo tôi nghĩ th́ cuộc bút luận về nhà văn trong nước
hiện nay mới chỉ là sự cựa ḿnh của con rồng nghệ thuật
Việt Nam. Con rồng đó cần phải có sự chuyển ḿnh mạnh mẽ
để bay cao trên một bầu trời tự do với tiếng gào mây
nước mênh mang không c̣n giới hạn trói buộc. Con rồng
chỉ xứng đáng là con rồng khi trong cuộc hành tŕnh vào
tương lai, đuổi kịp những bước đi đầy khai phóng của thế
kỷ mới.
Thay lời kết luận
Tôi viết những ḍng nầy từ một nơi mà thời gian đến sau
Quê Mẹ của tôi đến 15 giờ. Sau một ngày làm việc, tôi
mang cái máy vi tính xách tay vào trong quán cà phê
Starbucks1, kêu một ly cà phê và mở máy ngồi gơ lóc cóc
một ḿnh. Thế giới xung quanh là một thế giới Mỹ. Có
chăng một chút Việt Nam c̣n lại là những ḍng chữ La
Tinh có dấu nầy và một tấm ḷng thương nhớ quê hương.
Tôi viết những ḍng nầy như những cảm nghĩ xuôi ḍng
nhưng cũng đầy xúc cảm. Xúc cảm khi nghĩ về những khuôn
mặt thân thương của những người anh em trong trường văn
trận bút mới đâu đó quanh đây và hiu hắt ở quê nhà. Tôi
rất chủ quan để nghĩ rằng, từ trong sâu thẳm của tâm
thức, tất cả chúng ta đều ước mong những điều tốt đẹp
nhất đến với quê hương ḿnh. Riêng trong lĩnh vực văn
chương, chúng ta đă và đang có cơ hội từng bước góp mặt
với những trào lưu văn nghệ thế giới mà cụ thể là sự ra
đời và góp mặt của những tác phẩm văn chương mang tầm cỡ
quốc tế trong những năm sắp tới. Vốn đă hơi quen với
cuộc sống đầy cạnh tranh gay gắt ở Mỹ và cách đặt vấn đề
đầy tính chất đương đầu và sáng tạo, tôi không nghĩ sự
trưởng thành và bản lĩnh của giới văn bút thuộc thế hệ
chiến tranh Việt Nam là đang bằng ḷng và bảo thủ với
những ǵ ḿnh đang có. Nghề viết văn là một nghề “nghiệp
chướng”. Một phút nhà văn không suy nghĩ đến những điều
ḿnh phải viết và sắp viết là một phút phi sáng tạo. Cần
phải có sự truy t́m sâu và xa hơn trong sáng tạo. Những
mũi nhọn chích vào bức tường cũ để hé ra những tia sáng
mới trong văn chương bao giờ cũng nhức nhối và đầy trăn
trở. Khi một chân trời đă hiện ra th́ hẳn nhiên những
mũi nhọn đó sẽ thành những song cửa ngắm trăng. Nếu nh́n
theo một khía cạnh tích cực như thế th́ những mũi nhọn
Nguyễn Huy Thiệp không phải là một sự tấn công mà là một
sự đánh thức. Mong sao trong những cuộc luận đàm văn
chương, chúng ta ghi nhận h́nh ảnh mộc mạc “Nồi xúp và
ngọn lửa” của Perez mà tôi đă tŕnh bày ở phần trước.
Chắc sẽ không ai mong chỉ có “lửa non” để sưởi ấm nằm
ngủ quên hay bồi “lửa già” cho nóng mặt, bỏng tay rồi
quên đi món xúp văn chương mà các nhà văn đang đặt nấu ở
trên ḷ. Tôi chỉ xin chân thành phát biểu những suy nghĩ
rất chân t́nh phát khởi tự đáy ḷng ḿnh. Nếu không có
ai nghe th́ cầm bằng như chiều nay tôi đang say mê nói
tiếng Việt mẹ đẻ trong quán cà phê Starbucks toàn Mỹ là
Mỹ nầy. Bên ly cà phê nhạt thếch kiểu Mỹ ở phía sau mặt
trời đang đứng bóng ở quê hương, lẽ nào tôi đang say sưa
độc thoại với cái bóng của chính ḿnh?!
Trần Kiêm Đoàn
California, Mùa Xuân 2004
văn học nghệ thuật
bút luận
trang chính
|