BẾN MẸ

Trần Kiêm Đoàn

tranh Bé Kư

 

- Đừng ra xa nữa, coi chừng... hỏng cẳng chết trôi con ơi!

Nhớ ngày xưa, mẹ tôi vẫn thường nhắc tôi như thế mỗi buổi chiều ra tắm sông Bồ.  Hai phần đời người đi qua.  Mẹ tôi không c̣n nữa.  Bến Dấu Hàn trên khúc sông Bồ viền quanh phía Đông làng Liễu Hạ năm xưa nay đă “cũ”.  Tôi về thăm lại, chỉ c̣n thấy cỏ lùng, cỏ lát mọc um tùm.  Thế nhưng tiếng vọng của Mẹ – bất cứ bà Mẹ nào trên trái đất – cũng đều là lời kinh ghi nhớ suốt đời cho những đứa con.  Gă Đất Lành (Gable Goodearth), nhà tâm lư giáo dục Ireland, đă làm một cuộc thăm ḍ suốt 12 năm với gần 1026 tử tù trên khắp thế giới đă t́m thấy rằng, có hơn 810 người tù kêu tiếng cuối cùng là “Mẹ”, “Mẹ ơi!”, “Con thương Mẹ”, “Mẹ tha thứ cho con”! trước giây phút bị hành quyết.

Tử tù!  Những tâm hồn bạo tàn, oan khiên, chai đá nhất cũng chỉ c̣n Mẹ là ḍng tinh huyết cuối đời trước khi nhắm mắt buông tay.

Viễn khách, kẻ tha hương thường liên tưởng quê hương với Mẹ.  Ngày c̣n Mẹ, mỗi lần về thăm quê có nghĩa là về thăm làng.  Ngày vắng Mẹ, đứa con phương xa về thăm đất nước; đâu cũng là tổ quốc, làng cũ vẫn như xưa nhưng tôi vẫn cảm thấy h́nh như thiếu một chút chất men nồng đượm của quê nhà.  Có lẽ v́ quê hương là quê mẹ.  Ngày vắng mẹ rồi, ḷng mẹ trăi dài khắp mọi miền đất nước nên đâu cũng là…, mà cũng không là, trọn vẹn một quê hương!

Tiếng vọng lời dặn ḍ của Mẹ “coi chừng hỏng cẳng” cứ măi theo tôi mà lớn, mà già, mà phấn đấu với đời, mà hiện h́nh với ngày tháng. 

“Hỏng cẳng” với mẹ tôi là gặp vùng nước sâu trên sông, chân không đứng được trên đất sẽ bị uống nước, chết trôi.  Hỏng cẳng giữa đời là chơi vơi không có chỗ đứng cho ḿnh, cuộc sống sẽ bị chao đảo, mất chỗ dựa.  Nhưng hỏng cẳng trong chính ḿnh mới quả thật là bi kịch của đời sống.

Thời mới lớn, ngay cả khi biết bơi khá giỏi, đủ sức bơi ngang bơi dọc trên sông Bồ, sông Hương tôi vẫn c̣n lo… hỏng cẳng.  Trong ḍng nước tuy đă quen, nhưng khi bơi trên những tầng rong rêu xanh lè vờn qua, vờn lại dưới đáy sông, tôi vẫn cảm thấy rờn rợn khi tưởng tượng đến thế giới bí ẩn bên dưới.  Có chăng những âm binh, ma rà, quái vật sẵn sàng kéo tôi về một thế giới khác.  Ḷng sông cũng như ḷng người.  Khi thấy được th́ chẳng phải là điều đang thấy; khi dẫm chân lên hay sờ mó được th́ nó biến tướng vô h́nh hay thiên h́nh vạn trạng.

Vào đời, tôi muốn cầu toàn nên lại càng thường xuyên bị… hỏng cẳng.  Trễ là hỏng chân: Trễ giờ, trễ hẹn.  Thiếu là hỏng cẳng: Thiếu thông tin, thiếu chính xác, thiếu của, thiếu người, thiếu tin tưởng.  Mất là hỏng sạch: Mất công, mất th́ giờ, mất việc, mất bạc, mất vui, mất sướng… đều là những khoảng trống làm hỏng chân, hỏng cẳng bất cứ khi nào.

Thằng Bờm c̣n có cái quạt mo để đổi.  Thằng Cuội c̣n có gốc cây đa để ngồi.  Người trần gian lên tới vua, quan, công, hầu, khanh, tướng… sau một đời đi qua, rồi cũng tan loăng như mây trên đỉnh núi.  Bơ vơ. Bèo bọt. Không một chỗ nương thân. Tại sao tôi không có cái bến nào để tới, để dựa, để khỏi hỏng chân?  Có dừng lại một chút với cơm áo, gia đ́nh, cuộc sống th́ liền theo sau là cả một chuỗi hỏng chân như kéo dài bất tận.

Mọi vật và mọi việc đổi thay như chong chóng mà tôi th́ không t́m thấy một bến bờ nào để dựa hay ít nhất cũng có thể trú chân cho khỏi hỏng cẳng.  Có chăng một nơi vượt ra ngoài mọi lư luận, định kiến và hoài nghi.  Chỗ dựa cuối cùng không bao giờ đổi thay với cảnh, với t́nh, với người, với vật… làm ta hỏng cẳng là Ḷng Mẹ.  Nhưng chiều nay về làng cũ sau 25 năm sống lang bạt nơi quê người, Ḷng Mẹ nơi xóm nghèo một thuở bỗng đi đâu.  Gió Nồm cho Mẹ “dên” lúa vẫn về.  Tiếng cu cườm gáy buồn và xa vẫn vọng tới.  Nắng vàng tươi trẻ sớm mai vẫn già đi với màu chiều sẫm lại.  Nơi quê Mẹ, đi đâu cũng có t́nh Mẹ mang theo.  Tôi không cởi áo quần, nhông nhông nhảy xuống  hụp lặn dưới sông Bồ hồn nhiên như xưa nhưng cái cảm giác “hỏng cẳng” chợt ùa đến.  Tôi nh́n ḍng sông quê hương vẫn c̣n rong rêu chờn vờn bên dưới. Tầm nh́n xa xôi bị ngắt quảng v́ nhà cửa lác đác mọc lên bên ruộng lúa một thời xa tít tắp.  Dư âm tiếng Mẹ thuở nào không c̣n đồng vọng.  Đời có tươi th́ có phai; t́nh có ấm lên th́ có nguội.  Vẫn biết thế nhưng t́nh cảm tự nhiên con nhớ Mẹ, thương Mẹ vượt ra ngoài biên giới chật hẹp của sự hợp lư và vô lư thường t́nh.  Tôi muốn được gối ngủ trên phản gỗ hay giường tre có bàn tay phe phẩy cái quạt mo cau già của Mẹ.  Tôi muốn ra bến Dấu Hàn để tắm nhưng có ai tắm được hai lần trên cùng một ḍng sông.  Sông Bồ c̣n đó, nhưng Mẹ không c̣n và bến xưa đă lấp.

Trái tim của Mẹ dẫu là uyên nguyên, là kim cương, là vĩnh cữu vẹn toàn, nhưng cũng phải đổi thay.  Ngày Mẹ không c̣n nữa, dẫu ḷng Mẹ có bao la trời biển th́ cũng chỉ c̣n là một ư niệm đẹp.  Dẫu có về Bến Mẹ th́ vẫn bị lạc hướng v́ không biết bến ấy nơi đâu.

Bến Mẹ, bờ xa t́m đâu cho thấy…

                                               

***

 

Có lần được xem một tṛ chơi cổ của xóm Ấn Độ, tôi nghe chùm âm thanh reo lên từng đợt từ miệng của đám trẻ: “Pa-ra-mi-ta!  Ba la mật đa?!”

Khái niệm gốc của tiếng reo “Paramita” có nghĩa là “được rồi” hay “tới bến”.  Cái “tới bến” đó đôi khi chẳng có ǵ to lớn hay kỳ vĩ mà đơn giản như hơi thở.  Chỉ cần một hơi thở ra và thở vào lại được cũng là đă “tới bến” rồi.  Bởi v́ mỗi giây phút đi qua trên quả đất nầy đều có hàng trăm đứa trẻ sinh ra mà không thở vào được và có hàng ngh́n con bệnh thở hắt ra rồi xuôi tay nín luôn, không c̣n được một hơi thở vào khi sự sống đă mất.  V́ thế, một đứa trẻ kiểng chân, nín thở để ném được viên bi của nó vào mục tiêu trong cuộc chơi thi đua cũng kể là… tới bến rồi.  Có những bến bờ không thấy được v́ sự xung động nhẹ như sương ném xuống hồ. Hồ vẫn vắng lặng với t́nh cảm và tâm linh.  Cái bến vô h́nh đầu tiên ấy là “Bến Mẹ”.

Bến Mẹ là bến yêu thương tṛn đầy nhất giữa cuộc sống êm đềm và gai góc nầy.  Nhưng rồi, Mẹ già, Mẹ cũng phải rủ áo ra đi.  Bến Mẹ chỉ c̣n trong tâm tưởng của con!  Mẹ về với những người muôn năm cũ.

Mùa Vu Lan, khi thu về, là mùa của Mẹ Việt Nam.  Bóng dáng bà mẹ phương Đông không là mùa Xuân hoa phấn, mùa Hè rực rỡ như bà mẹ Mỹ châu hay mùa Đông cằn cỗi úa tàn như bà mẹ Phi châu.  Mẹ Việt Nam là mùa Thu: Nắng thời xuân xanh của Mẹ đă nhạt màu v́ gieo neo nuôi con.  Thu quyến rũ v́ Thu mong manh.  Trời thu cao rộng và sâu thẳm.  Mẹ mong manh v́ nhân dáng Mẹ đă vàng phai; nhưng ḷng mẹ càng xanh mướt mênh mông và sâu lắng vô cùng.

Vu Lan về khi cả thế giới đang vào Thu.  Đi từ phương Đông về phương Tây mười lăm năm trước, ḷng tôi đă từng ấm hoài khi c̣n Mẹ; nhưng năm nay, tôi cũng bay theo hướng mặt trời mà chỉ thấy màu nắng cũ buồn thiu khi Mẹ không c̣n.

Đâu đó, từ trong tâm thức, tôi nghe tiếng vọng “Bát nhă ba la mật đa – Prajna Paramita…”, một tuyên ngôn của đại trí tuệ chinh phục chính ḿnh.  Làm sao chinh phục được những xao động ngay chính trong ḷng tôi; bắt thời gian của ngày xưa c̣n mẹ và hôm nay mẹ không c̣n dừng lại thành một điểm.  Và nếu thời gian chỉ c̣n một điểm không có ngày xưa và bây giờ th́ Mẹ nơi đâu? Vui, buồn; thương, ghét… không thể diễn ra cùng lúc mà phải có tŕnh tự trước sau.  Cho dẫu hít vào và thở ra hay viên bi rời tay đứa trẻ lăn vào lỗ th́ cũng cần động tĩnh của thời gian và không gian.  

Tuyên Ngôn Chinh Phục Chính Ḿnh có giải quyết được ǵ trong ḍng biến hiện không ngừng?  Khi Bồ tát Quán Tự Tại – là Avalokitesvara, là Như Lai, là Tánh Phật, là Người Thật trong mỗi chúng ta – chinh phục được chính ḿnh và về lại hoàn toàn tuyệt đối trọn vẹn với chân tính của ḿnh th́ chẳng cần ǵ cả.  Cần ǵ mắt mới thấy; cần ǵ tai mới nghe; cần ǵ mũi để ngửi; cần ǵ lưỡi để nếm; cần ǵ thân để cho hay nhận; cần ǵ ư để suy nghĩ về ta… một khi ta đă là ta.  Cái Ta chân nhân, trong suốt, rỗng lặng không c̣n cưu mang hai bờ đối nghịch.  Không sinh th́ có ǵ để mà diệt; không dơ th́ đâu cần sạch; không tăng th́ c̣n ǵ để mà giảm… nên mọi giá trị nh́n ngắm, cân đo, lớn nhỏ, đẹp xấu, thương giận cũng không c̣n. 

Chiều Vu Lan, bao người thổn thức buồn thương v́ mất Mẹ.  Người ta bỗng hóa buồn vui v́ tưởng tượng và khách thể hóa bóng mẹ, hồn mẹ với đóa hoa hồng.  Cảm xúc thuần túy như rượu ngon, chẳng phá được nỗi buồn v́ nỗi buồn như bóng đêm âm u.  Chỉ có trí tuệ tuyệt vời mới t́m về được Mẹ.  Trí tuệ bát nhă giúp người con đại hiếu Mục Kiền Liên t́m ra được mẹ Mục Liên Thanh Đề đang chịu đựng khổ đau dưới chín tầng địa ngục.  Tuy gặp được mẹ rồi nhưng vẫn c̣n một vọng niệm ta và mẹ nên cơm hóa thành than.   Chỉ khi nào Mẹ có trong ta, ta có trong Mẹ; ta không t́m Mẹ, Mẹ không t́m ta mới gặp được Mẹ.  Chỉ khi nào Mục Kiền Liên đứng trước cửa địa ngục A Tỳ mà thấy hết những linh hồn đau khổ bằng cái tâm của Phật - Bồ Tát mười phương; không phân biệt ta, người khắp cả chín tầng địa ngục th́ lửa từ bi trí tuệ mới dập tắt được lửa tham ái vô minh.  Dẫu có đệ nhất thần thông nhưng c̣n chấp ngă – chỉ biết khóc cho mẹ ḿnh – th́ thần thông ấy cũng sẽ trở thành vô dụng.  Bài học Mục Kiền Liên là bài học nhân sinh, rằng, dẫu có tu đến bậc “thánh tăng” trước đôi mắt trần nhỏ bé của người đời mà vẫn c̣n cố chấp, ngă mạn, tham ái lợi quyền th́ vẫn phải c̣n quay cuồng trong ṿng ngũ thú:  Tài ba cho lắm cũng đành bó tay khi cơm đến gần mẹ, cháy đỏ thành than v́ lửa mông muội, vô minh phát ra từ chính tâm hồn ḿnh.  Khi nỗi suy tư về Mẹ gặp nỗi suy tư về ta dấy lên, ḥa quyện vào nhau, phá tan thành quách th́ hai bến bờ đối đăi cũng không c̣n.  Tiếng chuông,  Bến Mẹ, chỉ c̣n rỗng lặng hư không.  Lửa cháy ngất trời hay mây trắng phiêu du trôi đi và chuyển hóa ngay trong ḷng ta chỉ bằng một niệm…

Ta gặp Mẹ.

Khi cả tỷ - tỷ người nói lao xao mà cũng chẳng có ai nói với ai lời nào hết v́ mỗi người đang tự nói với chính ḿnh.  Mỗi người tự chinh phục ḿnh, dắt ḿnh về Bến Mẹ.  Gate, gate, paragate, parasamgate… Bồ đề tát bà ha! Đi, đi, đi cho tới bờ tới bến. Không huơ tay, kiểng chân; chẳng phải bước đi đâu cả mà giữ cho tâm hoàn toàn rỗng lặng, nuốt hết lời, hóa thân thành “tuyên ngôn chinh phục chính ḿnh” với tâm không thành trí tuệ nên mới gọi là Tâm Kinh.  Bát Nhă Tâm Kinh.  Bến Mẹ đây rồi.  Hạnh ngộ Mẹ ơi!

 

Trần Kiêm Đoàn

Trên đường Đài Bắc - San Francisco;

mùa Vu Lan 2007

 

kư sự / hồi ức

 

 

1