TRẦN KIÊM ĐOÀN

 

CÁI CHI TỪ HUẾ

 

Báo Xuân Mậu Tuất 2018 năm nay, khi mời viết bài, tôi được chủ biên cho biết là viết về chủ đề “Made in Huế”!

Câu hỏi đầu tiên hiện ra tức thời là “Cái chi từ Huế?” Những h́nh ảnh lướt qua rất nhanh khi nghĩ đến Huế là khung cảnh thiên nhiên kỳ tú, điệu sống trầm lặng và nếp sống thanh đạm của một vùng quê hương miền Trung Việt Nam khiêm tốn, len ḿnh giữa Trường Sơn và Nam Hải.

Nói đến nhân văn, có quá nhiều điều để viết về Huế. Nhưng nói đến các lănh vực khác như kinh tế, khoa học… th́ khó có những dữ liệu chính xác để tham khảo hay dựa vào để viết về Huế.

Ba mươi lăm năm sống ở quê nhà và ba mươi lăm năm sống ở quê người, tôi vẫn thường nghĩ về Huế như chiếc nôi văn hóa và t́nh cảm cho ḿnh, cho những người dân gốc Huế dầu ở phương trời nào.

Du lịch trên những thành phố lớn của thế giới có người Việt sinh sống, tôi vẫn t́m thấy Huế qua những tiệm ăn, cửa hàng với các dấu hiệu điển h́nh về Huế như: bún ḅ Huế, mè xửng Huế, nón bài thơ Huế, áo dài Huế, tranh thêu Huế và cả... màu tím Huế. Rất nhẹ nhàng Huế đă lắng sâu vào ḷng dân tộc. Những ǵ “made in Hue” th́ cũng chính là “made in Vietnam”.

Với thế hệ Chiến tranh Việt Nam – những người sinh từ năm 1930 đến 1950 – th́ hầu hết những mặt hàng công nghiệp và kĩ thuật máy móc đều đến từ bên ngoài. Vào những thập niên 30 và 40 th́ hầu hết các mặt hàng đến từ Pháp "Fabrique en France" (chế tạo tại Pháp) ! Những năm 60, 70 đến từ Nhật và Mỹ; rồi Trung Quốc.

Cho đến 1975, kể cả hai miền Nam Bắc, mặt hàng "made in in Vietnam" cũng rất hiếm hoi.

Trên bước đường tha hương, có người Việt Nam nào mà không xúc động sâu xa khi nh́n trong hàng hàng lớp lớp hàng hóa của các nước khắp nơi trên thế giới có món hàng làm tại Việt Nam - "Made in Vietnam".

Khi c̣n ở Huế, người Huế thường ít khi mang Huế qua khỏi bên kia đèo Hải Vân hay vượt ḍng sông Mỹ Chánh. Ai muốn đội nón bài thơ, ăn bún Vân Cù, ăn cơm hến Huế th́ tới Huế mà giao lưu, ăn uống. Phải chăng nhờ tinh thần... bảo thủ như thế mà hôm nay đi khắp đất nước từ Nam chí Bắc th́ hầu như chỉ c̣n một thành phố mang được dáng xưa, đó là Huế.

Ngày nay, Người dân Huế như đàn chim tung cánh bay khắp bốn phương trời. Ở đâu có được dăm ba gia đ́nh người Huế là đă có một h́nh thức biểu hiện “lai lịch Huế” như hội Huế, nhóm Nhớ Huế, hội Quốc Học, Đồng Khánh... ra đời. Có thể nói, hành trang lớn nhất mà người Huế mang theo đến xứ người thuộc về giá trị tinh thần nhiều hơn là vật chất. Đó là phong cách Huế, văn hóa Huế và tâm lư tự hào về di sản Huế kế thừa trong thân phận tha hương.

Phong cách Huế là nét tiêu biểu nhất trong văn hóa Huế. Đó là cách ứng xử chừng mực, nhẹ nhàng trước những hoàn cảnh khác nhau: Người đó có thể là một nhà tu, một thương gia, một sinh viên đại học, một thợ làm móng tay, một người làm vườn… tại Mỹ hay các nước kỹ nghệ Âu Tây, nhưng “kiểu Huế” của mỗi nhân vật đều đ̣i hỏi hay ít nhất là đối tượng tiếp xúc trông chờ là thái độ khoan ḥa và cách làm việc không vội vàng bợp chợp. Không hiếm lắm với lời trách: “Vậy là Huế dơm rồi. Huế ǵ mà nhảy choi choi, hung hăng con bọ xít thế!” Nghĩa là phong cách tiêu biểu của Huế phải từ tốn, dè dặt, hài ḥa trong tương quan xử thế tiếp vật.

Cách ăn, điệu ở kiểu Huế cũng đă thành huyền thoại: Từ thời 1802 về sau, Huế là kinh đô của vương triều nhà Nguyễn. Những món ăn, cách trang phục, nghệ thuật làm dáng của phụ nữ, cách “làm đày” của các bà trung niên, kiểu gia trưởng của các ông có địa vị xă hội (từ nhất phẩm triều đ́nh đến cửu phẩm hàng dân dă) từ bốn phương dồn tụ vào Huế đều được sàng lọc, chế biến, gia giảm hương vị, trang hoàng gọt tỉa sao cho phù hợp với điệu đà, kiểu cách của con nhà quư phái, có nề nếp gia giáo.

Món ăn th́ coi trọng phẩm hơn là lượng. Từ những món tôm chua, cua mắm phía Nam đến những món phở, hầm từ phía Bắc đều được cải biên, chế tác theo phong cách mới. Ngay cả những món ăn nhà nghèo như canh hến, cơm nguội từ bữa cơm chiều hôm trước th́ dần dà cũng phải được chế biến thành món Cơm Hến Huế độc chiêu. Cũng như món ḿ phở xứ Bắc khi vào Huế cũng thành món Bún Ḅ Huế mà tay sành ăn lừng danh quốc tế như Anthony Bourdain cũng ngồi bên gánh bún hến chợ Đông Ba ăn ngon lành và tuyên bố rằng, “đây là món xúp tuyệt chiêu hàng đầu thế giới” (the greatest soup in the world: ngày 20-10-2014). Ngoài ra, những món chả Huế, bánh bèo, bánh nậm, bánh bột lọc, bánh ít ram… Huế cũng là những món ăn tao nhă về h́nh thức và đậm đà về hương vị. Sản phẩm ẩm thực thuần Huế đang được ưa chuộng không chỉ riêng cho người Việt mà c̣n đối với nhiều sắc dân trên toàn thế giới.

Đi sâu vào sự lắng đọng của cuộc sống là tinh thần. Nếp sống tinh thần và tâm linh của Huế vừa cổ kính, vừa hiện đại giúp giữ được sự thăng bằng cho đời sống bên trong cũng như bên ngoài. Từ Thành Nội cho đến những vùng Nam Giao, Kim Long, An Ḥa, Bao Vinh, Gia Hội, Vỹ Dạ th́ hầu như nhà nào cũng có bàn thờ nghiêm cẩn bên trong và những h́nh thức am miếu bên ngoài. Đặc biệt, các chùa viện Phật giáo Huế thường mang một vẻ thuần khiết và tôn nghiêm. Khi ra nước ngoài, tinh thần Phật giáo Huế lại càng được thể hiện đậm nét tinh cần hơn trong mọi địa phương và hoàn cảnh.

Giọng Huế “trọ trẹ” theo âm bậc ngũ cung cũng là một đề tài thú vị. Thế nhưng khi xa quê, tiếng Huế không phát huy theo chiều rộng thông thường mà nhập vào chiều sâu của ngôn ngữ. Bộ Từ Điển Tiếng Huế của bác sĩ Bùi Minh Đức in lần thứ 3 năm 2009 với hai cuốn thượng và hạ quy tụ tới 2050 trang in trên khổ lớn, chữ nhỏ được tác giả chuyên tâm biên soạn trong suốt 18 năm, là một “hiện tượng ngôn ngữ” độc đáo. Chưa có một phương ngữ nào, kể cả trong và ngoài nước, ở tầm mức của một tỉnh thành, một cố đô lại có đủ bề dày để tập đại thành một tác phẩm gần với Bách khoa Từ điển như thế.

Nếu hỏi: “Cái chi từ Huế?” với một người đă xa Huế hơn nửa đời người th́ câu trả lời thật không đơn giản v́ Huế có quá nhiều giá trị thấy được nhưng đồng thời cũng có những “sản phẩm” tinh thần thông qua cảm nhận và ư thức. Đó không phải là một khái niệm nghịch lư mà là một ư tưởng hợp lư theo vị thế và hoàn cảnh của từng người như cả vũ trụ này là “không” đối với một bậc chân tu; nhưng là “có” đối với một nhà khoa học.

Cái “có, không” thường chỉ là một khái niệm triết lư; trong lúc thực tế đời sống là bức tranh biến ảo muôn màu. Là người Huế, hơn nửa đời tha hương nhưng vẫn c̣n thương Huế, tôi vẫn c̣n miên man nghĩ về Huế không khứ, không lai, không tài, không tận… một cách rất chi là “làm đày” (hờn, mát) kiểu Huế. Và như thế, tôi làm thơ:

 

 

RĂNG CỨ Đ̉I THƯƠNG HUẾ
 


 

Huế có chi mô mà đ̣i thương dữ rứa
Hạ nắng cháy ḿnh mùa đông lạnh cắt da
Dăi đất hẹp Trường Sơn ra tận biển
Cuối tháng mười băo lụt cũng không tha

Nhưng khổ quá
Tui cũng là dân Huế
Đă xa quê khi mới nửa đời

Nơi đất khách có đủ điều mơ ước
Rủng rỉnh lợi danh tưởng quên được Huế rồi

Ma quỷ bắt cứ đăm đăm về Huế
Nhớ nhịp cầu thổn thức với ḍng sông
Tô cơm hến dĩa xôi mè buổi sớm
Cháo gạo nghèo răng thương Huế rưng rưng

Tui đă tới đă đi nhiều xứ lạ
Cũng lặng nh́n bao cảnh đẹp kiêu sa
Nhưng nét Huế không đến từ đôi mẳt
Tự trong ḷng thăm thẳm Huế lan ra

Im ắng măi theo tượng đài cổ tích
Huế ngập ngừng như lời ngỏ t́nh nhân
Mắt rơm rớm cắn môi là đă nói
Không hẹn ḥ mà nhớ tới trăm năm

Không chi cả mà nghe đời rất Huế
Hạt bụi hồng thiên cổ vọng bao la
Trong giọt nước chứa linh hồn biển cả
Nên Huế gần mà Huế cũng rất xa


Chiều mùa Thu Natomas Park 11-2017
Trần Kiêm Đoàn


 


kư sự / hồi ức