TRẦN KIÊM ĐOÀN

           

Chiều mưa Đà Lạt uống rượu Hà Sỹ Phu

Đêm Ca Li nghe thơ Bùi Minh Quốc

 

Ghé thăm Đà Lạt chỉ có bốn bữa mà đă có ba chiều mưa. Người ta vẫn nghĩ về một Đà Lạt mù sương, một thành phố cao nguyên với những đồi thông qua nhiều thế hệ. H́nh ảnh những cây thông con cháu chen chúc với cây thông ông bà thường gây ra một sự liên tưởng và so sánh trong tôi về ư niệm thời gian; về bước đi không chậm, không nhanh, không có ǵ cản lại nổi của tiến tŕnh thành, trụ, hoại, không. Tôi thường nghĩ về Đà Lạt khi đi trên những con đường của Lake Tahoe gần nơi tôi đang ở; và khi mới trở lại Đà Lạt lần nầy tôi lại nghĩ về Lake Tahoe. Người có hai quê hương – mẹ ruột và mẹ nuôi – như những người Việt xa quê thường vẫn bị đặt vào trong trạng thái “tâm lư phân thân”: Ra đi xa xứ ngậm ngùi; miếng ngọt nhớ mẹ, miếng bùi nhớ cha. Ăn một miếng bánh Hamburger trên góc phố New York, cũng nhớ đến ổ ḿ xíu trong đêm khuya ở con đường hẽm Sài G̣n. Có lẽ tại v́ Mỹ giàu hơn nên mồm mép cũng có “gang thép” hơn để đưa Lake Tahoe vào trong danh sách “100 nơi cần phải đến trước khi chết”! Trong lúc Đà Lạt xứng đáng là “một trong 7 nơi (thất t́nh) cần phải biết trước khi bắt đầu hay chấm dứt một cuộc t́nh”.  Tôi đoan quyết như thế v́ những chiều mưa Đà Lạt làm cho người ta dễ thấy cô đơn với chính ḿnh hơn bao giờ hết. Mưa chiều Đà Lạt tầm tă, sướt mướt, dữ dội như muốn trói người ta vứt xuống đáy hồ. Nhưng khi cơn mưa qua rồi th́ những con đường, hàng thông và dốc núi đều có vẻ như mềm mại, tươi mát và mời gọi những bước chân đi mà không biết đi về đâu. Hồ Than Thở, thung lũng T́nh Yêu chăng?

Những ngày “du lịch tùy duyên” của tôi ngắn lại với những chiều mưa Đà Lạt như chiều nay; có lẽ ngắn lại với thời gian mà dài ra về những thú vị bất ngờ. Tiêu Dao Bảo Cự và tôi dừng xe Honda  trước cửa chợ Đà Lạt, chờ Bạch Yến và Lê đang mua sắm không biết khi nào mới ra. Mưa chiều nhẹ dần nhưng vẫn chưa cởi ra được chiếc áo mưa kiểu con bươm bướm rộng thùng th́nh. Bất ngờ, Bảo Cự đề nghị:

- Tụi ḿnh ghé nhà anh Hà Sỹ Phu chơi hỉ!

Ư kiến của Bảo Cự làm lóe lên trong tôi một điều mong mỏi đầy thích thú. Ừ, phải rồi, đây là đất cắm dùi của nhóm “tứ nhân bang” Đà Lạt đối lập với chính quyền Việt Nam đă tụ hội từ hơn 10 năm trước: Hà Sỹ Phu, Bùi Minh Quốc, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự. Cho đến tuổi về hưu như hôm nay, tôi có 28 năm sống ở Miền Nam trước 1975, bảy năm ở Huế sau 1975 và 30 năm ở Mỹ. Trong cả ba chặng đường đời, ở thời nào tôi cũng nghe vọng âm bầu không khí lư tưởng của con người: Tự Do, Dân Chủ. Tùy theo cá tính và hoàn cảnh không ai giống ai của mỗi người mà nếm trải hương vị “mặn, nhạt, chua, cay lẫn ngọt, bùi” của chiếc bánh muôn năm đầy vẻ gọi mời mà khó nuốt. Chiếc bánh “Tự Do, Dân Chủ” mang đủ màu sắc thương hiệu từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim. Chiến tranh và quyền lực chính trị thường là những đối thủ đáng gờm nhất của Tự do Dân chủ. Phong kiến, thực dân, quân phiệt, độc tài đều nhân danh Tự do, Dân chủ để bót nghẹt tự do và tù đày dân chủ.

Rát mặt, muối mặt, chai mặt hay tươi mặt, mát mặt... đối diện với Tự do Dân chủ là một kinh nghiệm quá rơ ràng, hằn sâu trong kư ức và máu thịt của những người Việt đă từng sống qua ba cảnh đời đen trắng phân minh như thế hệ Chiến Tranh Việt Nam chúng tôi. Là một người cầm bút (và gơ bàn chữ) không chuyên nghiệp, tôi có những sách in và bài tiếng Việt đă được đưa lên môi trường truyền thông đại chúng cả “bên ni” và “bên tê”, nên cũng có dịp hiểu rơ bằng chính mồ hôi và nước mắt của ḿnh thế nào là sức sống và tinh thần phản kháng của người cầm bút đối mặt với cường quyền và công luận. Trong một chế độ “toàn trị” (chữ của nhóm Đà Lạt thường dùng) lương tri của người cầm bút luôn luôn bị thử thách như nhân vật quyết đấu trước hùm beo, sư tử và ác thú. Có khi đối thủ hung hăn nhất lại chính là hai kẻ kẻ cùng mang chung thân phận nô lệ với nhau. Nó gian nguy, đảm lược và liều lĩnh đến mức độ nào trong hoàn cảnh của Spartacus trên đấu trường La Mă: Giết hay bị giết; cúi đầu để tồn tại hay vươn lên để bị hành h́nh trên giá ác. Sự chọn lựa nào cũng có nỗi đau riêng của nó; nhưng sự dấn thân bao giờ cũng khó khăn và mất mát nhiều hơn là nỗi đau chịu đựng của niềm tủi nhục âm thầm.

Mùa Hè năm 2006, cũng buổi chiều Hà Nội trời mưa giữa mùa Hè như mưa Đà Lạt hôm nay, tôi được Văn Thanh đưa đến thăm nhà thơ Lê Đạt. Vào chợ Đồng Xuân mua mấy cân trái vú sữa làm quà và nghĩ đến Lê Đạt của những ngày Nhân Văn Giai Phẩm tôi cảm thấy ḿnh khiêm tốn và nhỏ bé quá. Những nhà thơ, nhà văn phản kháng trong hoàn cảnh ngày ấy không phải chỉ có cảm nhận mơ hồ mà đă đọc rơ tên ḿnh gắn trên giá hành h́nh khi sáng tạo. Khi nắm bàn tay mềm và ấm của nhà thơ Lê Đạt, tôi muốn trân trọng nói lời cám ơn của thế hệ đàn em đối với những nghệ sĩ đàn anh đă dám sống cho liêm sĩ của người cầm bút. Năm sau, c̣n nhớ lời hẹn rủ nhau đi ăn tô phở Bát Đàn; nhưng ngày tôi về lại và ghé Hà Nội, Lê Đạt không c̣n nữa. Lời nhắn lại hôm chia tay với anh vẫn “có mặt trên từng cây số”, rằng: Hăy “chơi với người tử tế”. Người tử tế là ai trong ḍng sống một trăm người tục, một chục người thanh nầy?!

Chiều nay, trước khi ghé nhà thăm anh Hà Sỹ Phu tôi nhờ Bảo Cự đưa tới tiệm rượu Vang Đà Lạt. Khi chọn ṃn quà nhỏ tặng Hà Sỹ Phu, tôi cũng có cùng cảm nhận như buổi chiều Hà Nội năm năm về trước ghé nhà thăm anh Lê Đạt.

Một người dáng gọn gàng với mái tóc bạc bềnh bồng và nụ cười nồng đượm thân t́nh không dấu diếm dang tay đón khách là h́nh ảnh đầu tiên khi tôi bước vào căn nhà quá khiêm tốn mà ấm cúng trên góc phố nhỏ Đà Lạt của anh Hà Sỹ Phu.

H́nh như chúng tôi không cần chén rượu vang để hâm nóng t́nh thân hữu v́ đă gặp nhau thường xuyên trên các trang mạng. Hỏi han chưa hết lời th́ bất ngờ có bác sĩ Phạm Hồng Sơn mới từ Hà Nội vào thăm. Anh vừa măn tù và thời hạn bị quản chế v́ can tội đặt trái tim và cái đầu... đúng chỗ. Được biết Phạm Hồng Sơn qua báo chí, không ngờ anh c̣n trẻ đến thế, mới “tứ thập nhi bất hoặc”. Sơn gọi tôi “chú”, xưng “cháu” tự nhiên như những người bạn cũ.

Chúng tôi quây quần quanh chiếc bàn tṛn trong gian nhà nhỏ của anh Hà Sỹ Phu.

 

Từ trái sang phải: Phạm Hồng Sơn, Hà Sỹ Phu, Trần Kiêm Đoàn, Tiêu Dao Bảo Cự.

 

Trong lúc chị Hà Sỹ Phu lo pha trà th́ anh Hà Sỹ Phu đă rót rượu ra bốn ly nhỏ. Anh đưa tay mời khách và giải thích rằng, đây là một loại rượu trắng do anh tự pha chế. Nh́n rượu trắng trong vắt, tôi liên tưởng tới rượu Làng Chuồn ở Huế, rượu Cuốc Lũ ở Bắc, rượu gạo đồng bằng Nam Bộ, rượu Sakê của Nhật và rượu Vodka của Nga mà tôi từng có dịp nếm qua. Cầm ly rượu nhỏ trên tay, tôi hỏi rượu nầy tên là rượu ǵ. Anh Hà Sỹ Phu cho biết, ngày trước anh tự tay làm ra rượu từ A đến Z, nhưng bây giờ chỉ giới hạn trong ṿng pha chế. Tôi nhấp một chút, quả t́nh là rượu quá ngon. Ngon là một sự định vị rất chủ quan. Có khi ngon v́... lạ. Có khi ngon v́ tiếng đồn. Có khi ngon v́ thâm cung bí sử của một cảm xúc ân t́nh nào đó. Tôi cảm nhận được độ mạnh của rượu – xin tạm gọi là “rượu Hà Sỹ Phu” để phân biệt với rượu Thiên Tường, rượu Đồng Tháp... – cũng nồng nồng tới “80 proof” nước đầu của loại rượu nếp nấu theo cách thủ công dân gian ở xứ ḿnh.

Biết anh xuất thân là một tiến sĩ sinh học với tài làm rượu độc đáo đến như thế, tôi hỏi là tại sao anh không đưa vào kinh tế sản xuất đại trà, Hà Sỹ Phu chỉ cười mà không nói ǵ, Tiêu Dao Bảo Cự góp ư:

- Nếu có rượu Hà Sỹ Phu trên thị trường th́ đă không có “Ngón tay chỉ đường...” của Hà Sỹ Phu trên đấu trường chống ṇi toàn trị.

Sau khi mỗi người nâng cốc thứ hai cho “ấm ḷng chiến sĩ”, Hà Sỹ Phu và anh em vào chuyện:

Thật ra, người ta pha rượu bằng những vật liệu thiên nhiên và nhân tạo có sẵn cũng như Karl Marx sử dụng những tư tưởng luận lư và các phép biện chứng Đông Tây – kể cả ḍng chính thống và ngụy biện – để chế ra chủ nghĩa Mác Xít.  Nhân loại đi theo một con đường phát triển về thiên nhiên, xă hội, tư tưởng và tâm lư tự nhiên. Các phương thức làm ra của cải vật chất và cách quản lư, phân phối tùy theo từng thời kỳ và t́nh trạng xă hội mà theo. Làm ǵ có đất hứa cho những công thức và khẩu hiệu đóng khung đầy ảo tưởng gọi là “chủ nghĩa Tư Bản” hay “chủ nghĩa Xă Hội” để tạo ra những thế đối nghịch thiếu tính nhân bản cổ xúy con người ươm mầm và nuôi lớn t́nh trạng nghi kỵ, hận thù, phủ nhận và giết nhau. Tội ác của nhân loại khởi nguồn từ sự ngụy tín “nhất trí” mà những tay trùm quyền lực đă nắn ra. Theo lẽ tự nhiên, có bao nhiêu con người th́ có bấy nhiêu ư khác nhau. Không tôn trọng sự khác biệt mà cứ bá vơ cột buộc những chân trời tự do vào một bó rồi dán lên đó nhăn hiệu “đồng tâm nhất chí tất cả như một” là vô minh. Trong Mười Hai Nhân Duyên – cơ sở lư luận căn bản của đạo Phật về mầm mống và sự phát triển xă hội – th́ vô minh là nguồn gốc khởi đầu cho mọi đau khổ và tội lỗi dây chuyền. Như thế, dẫu có một loại rượu do Hà Sỹ Phu chế ra; dẫu có một loại xă hội do Marx chế ra; dẫu có một hệ thống xă hội do đức tin mà vị giáo chủ nào đó chế ra... th́ cũng chỉ để “nhấm nháp”, quan sát, suy niệm hay tham khảo. Ai muốn uống th́ cứ uống, ai muốn theo th́ cứ theo. Bắt mọi người cùng theo là vô minh, là khởi đầu cho mọi đau khổ và tội ác. Nhóm Đà Lạt quan niệm vũ khí căn cốt để giải phóng con người là vận dụng tinh thần, đường lối và cơ chế chính trị, xă hội là phân quyền, phân nhiệm “theo ngón tay chỉ đường” của những con người trung thực biết sống và dám chết cho khát vọng dân chủ và tự do đích thực.

Cuộc chiến đấu của nhóm Đà Lạt ngỡ như đơn giản mà “chết người trên cạn” như chơi. Đơn giản như thằng bé trong truyện “Chiếc áo Đại triều” của Anderson. Tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên và trong sáng, thấy vua trần truồng th́ nó nói: “Lêu lêu, vua ở trần ở truồng như con bê đực!” Mặc kệ những người tai to mặt lớn chung quanh đua nhau dối ḿnh, dối người, hết lời ca ngợi chiếc áo đại triều lộng lẫy mà thực chất chẳng có ǵ cả, ngoài một sự lừa dối... vĩ đại. Ai cũng nhân danh “sự thật” dối trá; trong khi chỉ có một sự thật là nhà vua đang không có một mảnh vải che thân v́ bị lũ gian “vĩ đại” hơn đánh ngă bằng đ̣n tâm lư. Một xă hội quay cuồng chung quanh nhà vua đang mê man trong cơn say quyền uy và danh vọng th́ phải cần đến “xích tử chi tâm – ḷng trẻ thơ trong sáng” và năo trạng không bị khống chế, ràng buộc.  Phải tháo gỡ sự dối trá. Chỉ biết nói thật mà không quan ngại ǵ gươm giáo chung quanh.

  Chiều mưa Đà Lạt tạnh đă lâu mà tâm t́nh th́ khó dứt. Mong tái ngộ với “những người tử tế”! Đường đi khó... Nhóm Đà Lạt và đặc biệt Hà Sỹ Phu nhắn gởi với thế hệ đàn em như Lê Đạt năm nào: “Núi cao chẳng phải v́ núi cao không với tới mà bởi tâm lư tự thấy ḿnh thấp hèn nên núi trở thành cao...”

Hôm sau, chúng tôi từ giă Đà Lạt, đi xe buưt Thành Bưởi từ Đà Lạt về Sài G̣n mất gần hết một ngày. Và mấy bữa sau, khi từ Sài G̣n tới San Francisco, ngồi trong bụng máy bay vận tải Boeing mất 16 giờ, có lúc tôi lan man cười cợt với chính ḿnh khi nhớ “hầm tối lại là nơi sáng nhất”!

Chiều Cali, gặp Bùi Minh Quốc tại Thung lũng Hoa vàng San Jose. Với ba lô du lịch “bách xách” (back pack) trên vai, một gă ở độ trung niên tóc muối nhiều hơn tiêu, mặt mày hồng hào với nét nh́n phong trần và miệng cười lăng tử bước vào nhà bạn Nguyễn Thị Giới cùng với hai người khách lạ. Tôi cũng vừa mới từ Sacramento về đây đón bạn Vĩnh Trung đă 42 năm rồi chưa gặp. Một cuộc hội ngộ không hẹn trước – tuỳ duyên ? – và đây là lần đầu tôi được gặp Dương Hương Ly (bút hiệu của Bùi Minh Quốc), tác giả của bài thơ Đất Quê Ta Mênh Mông mà tôi thường nghĩ là bài thơ có hồn,  có phách nhất được trích dạy trong sách giáo khoa văn học Việt Nam sau 1975. Tôi vẫn thường đặt con người văn chương trên con người chính trị v́ chính trị là nhất thời mà văn chương đích thực là miên viễn.

Gặp nhà thơ Bùi Minh Quốc trên đất Mỹ nhưng tôi vẫn có cảm tưởng như đang gặp anh đâu đó ở quê nhà, bởi v́ hầu hết anh chị em có chút duyên nợ cầm bút mà tôi vừa gặp tháng trước ở Hà Nội, Huế, Sài G̣n... đều có những suy nghĩ và trăn trở rất giống nhau. Có lẽ không phải v́ vô cớ mà Mao Trạch Đông miệt thị giới “trí thức tiểu tư sản” thậm tệ đến như thế. Tinh thần “gà cồ ăn quẩn cối xay” xuất phát từ tâm lư muốn yên thân và sợ hăi đă chiếm ngự cả một thế hệ đang về vườn hưu trí. Tâm lư “gà công nghiệp đông lạnh” đó đă mất hết hồn xưa, tạo ra một lối nh́n mà không thấy; một lối viết cho đầy chữ đầy trang mà chẳng nói được điều tha thiết muốn nói đang trào dâng tự đáy ḷng ḿnh.

 

 

Bùi Minh Quốc - Trần Kiêm Đoàn (6-2012)

 Bùi Minh Quốc, nhà thơ vẫn tự hào “mỗi ḍng thơ là một giọt máu trổ bông” v́ anh làm thơ là để làm người chứ không phải để làm dáng, làm quan hay làm bồi bút.

Trong đêm hội ngộ, những người bạn được nghe chính một tác giả đă thành danh trong chiến tranh Việt Nam đọc thơ ḿnh. Mọi người nhắc lại bài thơ Đất Quê Ta Mênh Mông với những câu thơ quặn ḿnh khi cảm hứng người nghệ sĩ, hoàn cảnh chung quanh và ngôn từ diễn đạt ḥa quyện lấy nhau. Trong cường điệu ngút mắt vẫn có những cảm xúc đời thường rất thật: 

Đất quê ta mênh mông

Quân thù không xăm hết được

Ḷng mẹ rộng vô cùng

Đủ giấu cả sư đoàn dưới đất

 

Nơi hầm tối là nơi sáng nhất

Nơi con nh́n ra sức mạnh Việt Nam...

              (BMQ. Đất quê ta mênh mông, 1966)

           

Rồi 44 năm sau. Cũng là Đất Quê Ta Mênh Mông nhưng anh đă ra khỏi hầm tối một thời. Đứng trên đỉnh cổ thành nh́n ra Bắc không c̣n hang Pắc Bó; nh́n vô Nam không có Thành Đồng, Bùi Minh Quốc kêu lên:

Đất quê ta mênh mông

Biển quê ta mênh mông

Ḷng mẹ đắng khôn cùng

           

Đất quê ta mênh mông

Biển quê ta mênh mông

Uất hận chất khôn cùng...

              (BMQ. Đất quê ta mênh mông, 2011)

           

Thời sáu mươi Mẹ là tương lai. Nhưng hôm nay Mẹ là quá khứ. Thuở ấy, từ một hiện tại, mẹ trừng mắt nh́n về tương lai: chao ơi là rỡ ràng, sáng ngời niềm tin và hy vọng. Hôm nay, từ một hiện thực, mắt mẹ đă mờ hấp háy nh́n về quá khứ chỉ thấy ngậm ngùi và mây trắng bay... !

Muốn gặp lại Bùi Minh Quốc trước khi chia tay về lại quê nhà, tôi hẹn anh tại Sacramento. Nhưng có lẽ “duyên” chưa thuận nên việc dẫu nhỏ trong ḷng bàn tay cũng vuột qua kẻ tay lúc nào không hay. Ngày anh lên Sacramento chơi với bằng hữu ở thành phố nầy th́ tôi đang trên đường tới Bắc Kinh theo chuyến đi đă định từ năm trước. Trên chuyến bay đêm từ San Francisco qua Bắc Kinh, cố ngủ gà ngủ vịt một chút trên ghế máy bay mà không tài nào chợp mắt được, tôi lấy laptop ra ghi những ḍng nầy với tâm trạng mông lung liên tưởng ḿnh với đàn chim viễn xứ. Đó là tâm trạng từ xa nh́n về quê hương. Tung cánh bay măi, h́nh ảnh tổ ấm trên quê hương nhạt dần. Nhưng ước mơ bầy chim thế hệ đàn em sẽ hạnh phúc hơn thế hệ đàn anh th́ mỗi ngày một đậm.

Bên khung cửa sổ, trời chiều phương Đông phản chiếu qua những cụm mây. Giọng Trung Hoa nói tiếng Anh lơ lớ báo tin máy bay sắp hạ cánh xuống phi trường Bắc Kinh. Bắc Kinh bây giờ là buổi chiều, những người Tàu xa lạ chuẩn bị ra về. Nắng cũng sắp tắt nhắc bữa cơm chiều với anh chị em và bạn bè tôi trên quê hương Việt Nam. Bên kia Cali, những người thân của tôi đang say ngủ. Thế giới người Việt ngày nay như một bầy chim có mặt khắp mọi miền trên thế giới. Những điều phải trái, nếu không nói được nơi nầy th́ cũng nói được nơi kia. Tiếng nói lương tâm là tiếng nói vô tướng v́ nó có sẵn trong tôi, trong anh và trong tất cả mỗi người. Nhưng không phải ai cũng dám nói và lúc nào cũng nói được để cho ḿnh luôn luôn thấy được chính ḿnh. Gặp nhóm Đà Lạt và những người yên lặng nhưng chẳng yên tâm, tôi nhớ câu nói của nhà văn Đỗ Hữu Chí khi nói đến những người đă từng lên tiếng công khai phản kháng áp bức bất công xă hội một thời và bây giờ th́ im lặng: “Có một thời các anh dám nói những điều cần phải nói. Và tôi khâm phục. Thời hiện tại, các anh không nói được những điều đáng nói. Tôi thông cảm…”

Vâng, có thể khuynh hướng “yên thân” là một thái độ chọn lựa thức thời. Nhưng nó chỉ thích hợp với điệu sống của kẻ “cầm hơi” chứ không phải là của người cầm bút. Ngày xưa, kẻ sĩ là sĩ phu. Ngày nay, người cầm bút – anh là ai? – tự xác định ḿnh không phải qua bằng khen, qua giấy chứng nhận hội viên văn bút mà bằng tác phẩm, bằng chính những điều ḿnh đă viết ra cho ḿnh và người đọc.

 

                                                     Cali - Bắc Kinh, ngày lễ Độc lập Mỹ 2012

                                                                        Trần Kiêm Đoàn

 

 

 

           

kư sự / hồi ức