DÁNG PHƯỢNG HỒNG ĐỒNG KHÁNH CỦA TUI ƠI*

Trần Kiêm Đoàn

Trích từ bài nói chuyện trong dịp

họp mặt Tân Niên Quốc Học- Đồng Khánh

Bắc California tại San Jose, ngày 11 tháng 3 năm 2007

TKĐ

            Quốc Học 110 tuổi; Đồng Khánh 90 tuổi:  Cộng lại là một lịch sử 200 năm.  Thời gian vừa đủ để cho một cặp t́nh nhân lư tưởng nhất của phương Đông uống cạn chén t́nh ngọt ngào hứa hẹn một đời chung thủy:  Bách Niên Giai Lăo!

            Ngôi trường mang tên Đồng Khánh đă làm cho bao thế hệ trăn trở.  Ngày xưa, thế hệ trẻ trăn trở v́ vẻ đẹp "siêu thực"của thế giới nữ sinh Đồng Khánh (có lẽ tại sông Hương nhiều khói sóng và Huế nhiều sương khói quá?)  Ngày nay, lớp trẻ ngày đó đang thành thế hệ già, vẫn c̣n tiếp tục trăn trở v́ Đồng Khánh đă xa mù.  Người Đồng Khánh một thời sợ trường mất tên sẽ không c̣n chốn cũ.  Một liên tưởng bâng khuâng như sẽ không c̣n một Lầu Hoàng Hạc, một Chùa Hàn Sơn, một Tử Cấm Thành, một Mái Trường Đồng Khánh đầy ắp kỷ niệm hiện thực và lắm huyền thoại viễn mơ.  Học tṛ cũ xa trường cũng mang tâm trạng người viễn xứ nhớ cội nguồn.  Đó là nỗi ước mơ sau nửa đời luân lạc, c̣n có chốn cũ mà quay về.

            Dẫu cái tên chỉ là giả danh hay giả tướng như Lăo và Phật thường chẳng quan tâm chi, thế nhưng khi nó mất đi th́ lại quay ra tiếc nuối.  Người đời ưa hái phù dung chăng?

            Chín mươi năm, Đồng Khánh mất tên hai lần:  Lần thứ nhất là mất tên gốc, và lần thứ hai mất tên đặt.

            Phải cần cả trăm năm mới đủ để những tên khai sinh như Sorbonne, Havard, Stanford, Đồng Khánh -- những ngôi trường nổi tiếng nhất của mọi thời -- làm người đời chỉ c̣n nhớ tên "mượn" mà quên mất tên thật.  Đồng Khánh!  Mấy ai c̣n nhớ đấy là tên của một ông vua hiền lành gần như vô danh trong số 13 ông Vua triều Nguyễn.

            Nhưng từ khi tên vua được đem đặt tên trường th́ danh xưng Đồng Khánh đă trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp trinh tuyền và nhân dáng nên thơ rất Huế với áo trắng, nón bài thơ, tóc thề, và "t́nh em mây trắng giăng... Thừa Phủ";  bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên kỳ tú với núi non, biển trời sông nước hữu t́nh của Huế.

            Huế đẹp.  Một vẻ đẹp "rưng rưng" v́ vương mang nét buồn "tự tại" mà kẻ viết những ḍng nầy chỉ có thể diễn đạt bằng... thơ (thẩn)!

            Đồng Khánh ơi, Huyền Trân xưa đó**

            Lắm tang thương vùi dập Huế vô chừng

            Sông, nước, biển, trời... nơi mô cũng có

            Nhưng năo nùng làm Huế đẹp rưng rưng

            Cái đẹp rưng rưng của Huế là một thực tế ảo xuất phát từ nét buồn "tự tại" rất thơ.  Rất thơ v́ bản chất của thơ là buồn.  Vị buồn của thơ là hướng siêu thoát của một ḍng đời đầy khổ lụy như khái niệm truyền thống của thơ là lời kinh khuya từ trong ngôi chùa cổ. Ba thi sĩ tài danh có ba bài thơ vừa được b́nh chọn trong số 100 bài thơ Việt Nam hay nhất của thế kỷ 20 lại là ba bài thơ về Huế:  Hàn Mạc Tử với Đây Thôn Vỹ Dạ, Thanh Tịnh với Nhớ Huế Quê Tôi và Thu Bồn với Tạm Biệt Huế.  Hàn Mạc Tử cảm nhận được sự rỗng lặng, hư ảo và tự tại từ trong Tâm Huế, nhưng lại chưa mở được cánh cửa t́nh của Huế.  Yêu Huế mới chỉ là vế đầu "ắt có".  Chinh phục Huế mới là vế kết của "điều kiện đủ".  Bởi vậy mà chàng thi sĩ tài hoa kia vẫn măi măi đứng ngoài Huế mà lưỡng lự, mà băn khoăn:

            Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

            Có chở trăng về kịp tối nay.

            Đă đậu "Bến Sông Trăng" rồi mà vẫn bâng khuâng sợ lỡ bến đ̣ trăng là chưa thấy trăng.  Trăng đầy thuyền mà vẫn lo chở trăng về không kịp tối.  Hàn Mạc Tử canh cánh lo.  Nỗi lo không chở kịp trăng vàng từ trong sâu thẳm của tâm thức nên làm sao t́m ra được chiếc ch́a khóa tự tại để mở được cánh cửa khép hờ của nàng Đồng Khánh Hoàng Thị Kim Cúc?!  Tài hoa đến thế, nhưng thấy Huế bằng mắt rồi mà không chịu ngắm Huế bằng tâm nên vẫn nh́n không ra Huế v́ "áo em trắng quá" hay bởi "lá trúc che ngang mặt chữ điền"?

            Cái "thiên thu t́nh lụy" (chữ... bán dùi của Bùi Giáng) của ṇi nghệ sĩ bỗng rùng ḿnh sởn gáy "Tạm Biệt Huế" ra đi khi khám phá ra chiều sâu hun hút của sông chảy vào ḷng nên sông tuy có chảy mà không tới được nơi mô.  Thu Bồn ra đi khi ngỡ như được Huế mà sao vẫn c̣n xa Huế đến ngh́n trùng:

            Chiếc cầu cong và con đường thẳng

            Một đời anh đi măi chẳng về đâu

            Con sông dùng dằng con sông không chảy

            Sông chảy vào ḷng nên Huế rất sâu

            Huế làm đày!  Huế là rứa đó!

            Có phải v́ Huế là vùng trăng nước chứa điệu ca Hời của những nàng Chiêm Nữ váy tím, tóc cài hoa lau lách, hát măi những điệu buồn từ thời Huế c̣n là Ô Châu Lạc Địa?  Hay v́ Huế là mảnh giang sơn duy nhất mang nặng nghiệp t́nh:  Trái tim Chế Mân, khối t́nh Khắc Chung, nỗi ḷng Huyền Trân vẫn c̣n rướm máu?  Huế buồn!  Nhưng nếu chỉ là nỗi buồn bi lụy như Chiêm Cung; nỗi buồn bi phẫn như Chế Triều; nỗi buồn bi tráng như Chế Bồng Nga th́ rồi cũng sẽ làm cho nước non ngh́n dặm đắm ch́m và hào kiệt anh hùng cũng thành tan tác.

            Huế muốn tồn tại, đứng vững như cả ngh́n năm nay và ngh́n ngh́n năm sau nữa th́ Huế cần phải biết sống với triết lư "sầu thoát".  Nghĩa là biết buồn và biết giải thoát nỗi buồn.  Sẵn sàng đón nhận nỗi buồn nhưng cũng sẽ giải thoát ra khỏi cơn buồn chứ không để nỗi buồn gặm nhấm ḷng ḿnh.  Nếu đă biết "Hương Giang nhất phiến nguyệt, kim cổ hứa đa sầu -- Mảnh trăng soi giữa sông Hương,  xưa nay dằng dặc nỗi buồn triền miên" th́ Huế cũng biết hóa giải bằng "Huế thơ, Huế mộng, Huế tộng bộng hai đầu".   Chỉ có "tộng bộng hai đầu" Huế mới không chấp trước, chấp sau, chấp đau, chấp khổ... để sống c̣n với bao cơn tai trời, ách nước.  Năm 1306, sự khổ đau của Huế khởi từ nỗi quặn ḿnh của công chúa Huyền Trân lấy ḿnh đổi đất.  Huế 1884, với cả giang sơn mất vào tay giặc Pháp. Huế 1885, thất thủ Kinh Đô với hàng ngh́n người chết.  Huế 1904, với băo năm Th́n  biến Huế thành băi đất tang thương. Huế 1945, Nhật đảo chánh, vương triều thành biển loạn. Huế 1968, Tết Mậu Thân với bao nhiêu đổ vỡ và ly tan.  Sự tang thương, mất mác đă biến Huế thành mong manh.  Sự mong manh đến nỗi được ví von như "dáng liễu treo trên sợi nắng vàng!"  Nét đẹp của Huế đầy ẩn dấu làm cho chính người Huế hay khách thương Huế chân đứng giữa Huế mà tâm vẫn đi t́m dáng Huế -- Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên!  

            "Sầu thoát" là một h́nh thái triết lư mâu thuẫn mới nhất trong khuynh hướng tâm trị liệu của phương Tây vào những năm đầu thế kỷ 21. Nội dung của khái niệm nầy là "Biết cầm nắm nỗi buồn phiền bất hạnh khi nó đến nhưng không bị dính mắc với nó".  Người Huế đă áp dụng "triết lư mâu thuẫn" nầy từ ngày có Huế.  Cặp mâu thuẫn Huế có tụ điểm cao nhất từ ngày có trường Đồng Khánh ra đời.   Đó là "...nghèo mà sang, đoan trang mà lăng mạn, cay đắng trong nụ cười, xa xôi mà gần gũi," như ư thơ của Túy Hạnh, một nàng thơ xứ Huế bên tê bờ châu Mỹ.  Và Túy Hạnh c̣n... "tàn nhẫn" hơn khi giải thích:

            Guốc mộc, em gầy, nón lá vành tre

            Tóc cứ xơa mạ nghèo không uốn nổi

            Áo đơn chiếc trắng ngập đườngLê Lợi

            Dáng phượng hồng Đồng Khánh của tui ơi!

            Tôi xa  Huế gần 30 năm.  Sáng nay, có cô Hiền Thọ từ Huế "doái" viết bài cho đặc san kỷ niệm 90 năm Đồng Khánh. Tôi lười biếng, bèn làm thơ --  để tự thuyết phục ḿnh rằng, tất cả nữ sinh Đồng Khánh trong suốt 90 năm qua đều đẹp và tất cả những ai làm thơ về Huế đều lười biếng -- v́ Huế là thơ nên không cần ghép chữ gieo vần thơ cũng đă đua nhau phất phới trên đường như áo trắng tan trường Đồng Khánh.  Đọc đoạn cuối của... thơ ḿnh làm tôi xúc động:

            Khi ở Huế thấy Huế buồn chi lạ

            Xa Huế rồi thấy Huế quá mênh mông

            Trong nỗi nhớ, một cũng là tất cả

            Khi yêu thương tất cả sẽ vô cùng...

            Tấm ḷng xa quê như thế đó, Huế ơi!

Trần Kiêm Đoàn

California, Đầu Xuân 2007


 

* Thơ Túy Hạnh: "Cho Huế Mai Sau"

** Thơ TKĐ "Đồng Khánh Huyền Trân Xưa"

 

kư sự / hồi ức

 

 

1