|


CHỮ NGHĨA MUỘN MÀNG
Hương Cần quan đạo liễu thanh
thanh
Giang bắc, giang nam vô hạn
t́nh…
Nguyễn Du (1799)
(Hương Cần dặm liễu xanh xanh
Bờ nam, bờ bắc để t́nh chứa
chan…)
Người Thầy học đầu tiên của
tôi là một cô giáo: Mẹ tôi. Bà mẹ quê quen với nắng gió
ruộng đồng, quen với hàng trăm ngày nắng mưa, tốt xấu quanh
năm nhưng vẫn không quen thuộc với vài chục chữ cái của vần
mẫu tự La tinh “abc” mà người đời đă dùng để ghép thành
thiên kinh vạn quyển.
“Cô giáo” của tôi thật khó
tính nhưng cũng dễ dăi như những hàng tre có gai nhiều mà
vẫn trĩu ngọn để rũ bóng cho những con đường. Tre khó như
hầm chông mà cũng dễ như những tấm phên che bầu bạn với bụi
chuối sau hè. Mỗi buổi sáng mẹ tôi ḍ bài. Mẹ cầm cuốn sách
hay tập vở và bắt tôi đọc. Tôi chỉ cần đọc cho trơn tru là
được. Cứ mỗi lần vấp là phải lănh một cái phết nên thân vào
đít. Rất nhiều lần tôi liếc mắt và bắt gặp mẹ tôi “ḍ bài
ngược”, nghĩa là những cái mũ chữ “ô”, cái râu chữ “ơ” bị
trồng cây chuối ngược chiều từ phía dưới mọc lên. Tôi vẫn
nghĩ là Mẹ có cách riêng của Mẹ. Thế nhưng tôi vẫn ngờ ngợ
v́ đôi khi bí quá tôi biến chữ đọc ẩu để khỏi bị vấp mà mẹ
tôi vẫn hoan hỷ cho qua, miễn sao đọc cho trôi là được.
H́nh như nhờ tinh thần “sáng tạo” đó mà sau này tôi bị nhiễm
vào cái nghiệp ưa viết lách lai rai.
Cô giáo – mẹ tôi – vẫn bắt
tôi trả bài đều đặn mỗi buổi sáng trước khi đi học. Cho đến
một hôm, bác Đội Nghi, một kẻ sĩ ở làng, bất thần hỏi tôi:
- Nghe nói con học giỏi nhất
trường. Rứa con tự học hay có ai bày vẽ ở nhà mà hay rứa tề?!
Tôi không hiểu hết bác Nghi
có ư đặt câu hỏi cho tôi hay đó chỉ là lời b́nh luận khen
tặng, nhưng đă vội láu táu nói ngay:
- Mạ con dạy con đó Bác ơi!
Bác Nghi phá lên cười làm tôi
cụt hứng. Bác vừa ho húng hắng, vừa cười khàn khàn, vừa ồ ề
lên tiếng:
- Mạ con mù chữ mà dạy với dỗ
chi đă chớ!
Ức quá, về nhà tôi hỏi mẹ.
Mẹ buồn buồn trả lời:
- Thời của mạ ở
làng không ai cho con gái đi học hết. Mạ học b́nh dân học
vụ được mấy chữ, chừ trả lại cho thầy hết rồi. Con gắng học
cho thông, mạ thương.
Dường như để bù lại, mẹ có
cách ghi dấu những điều đáng nhớ theo lối truyền đời rất cổ
sơ: Thuộc ḷng và truyền miệng. Người Thầy học đầu tiên đó
đă chuẩn bị cho tôi vào đời với những bài học đầu truyền
miệng. Nuôi lớn t́nh cảm và thế giới tưởng tượng đầy hoa
mộng trẻ thơ của tôi trong cảnh quê nghèo đồng chua nước mặn
nhưng rợp bóng ḥ, vè, ca dao, tục ngữ, dân ca và chuyện kể.
Măi cho đến khi đến trường tôi mới hiểu ra những câu ḥ mẹ
tôi ru con ngủ, những chuyện thần tiên đẹp mơ hồ như áo Hằng
Nga là hoa lá cành mọc lên từ mảnh đất hiền ḥa của kho tàng
văn chương truyền khẩu Việt Nam.
Tuổi thơ, tôi chỉ
mơ một cuộc đời đơn sơ, nhân hậu, có bóng dáng thần tiên lẫn
lộn với người phàm như trong thế giới của cô Tấm. Tài năng
có siêu quần bạt tụy th́ cũng như Thạch Sanh. T́nh cảm có
diễm ảo, lai láng cho nhiều th́ cũng chỉ tới “Trèo lên cây
bưởi hái hoa, bước xuống vườn cà hái nụ tầm Xuân...” Thế
giới của ca dao và dân ca là một góc vườn của bà Tiên để mơ
ước, chứ không phải là một xă hội hiện thực để ngày ngày làm
bạn đi chơi. Tuổi thơ của tôi đă bị chuyển hóa thường xuyên
giữa hai thái cực: Giữa thiên đường mật ngọt của ca dao và
giữa địa ngục trần gian của cuộc chiến tranh Việt Nam đầy
máu lệ.
H́nh như thế hệ
tuổi thơ Việt Nam của tôi có nét hao hao giống nhau là thân
phận những trẻ thơ mồ côi cha rất sớm, nhưng may mắn c̣n có
Mẹ. Những bà Mẹ hy sinh cả tuổi thanh xuân để lặn lội tảo
tần, gieo neo nuôi con. Những đứa con của Mẹ măi măi là chú
gà con lông tơ v́ nước mắt Mẹ bao giờ cũng chảy xuống. Những
chú gà con đó dù có bạc đầu, dù có làm nên công hầu khanh
tướng, dù ra đi ngái vời nơi đất khách th́ vẫn là những đứa
trẻ thơ c̣n ở trong ṿng tay thương yêu trọn đời của Mẹ.
Sống hai mươi năm trên đất
khách, được gần mẹ chưa tới mười ngày, nhưng tôi vẫn tin như
tin vào một mặt trời không đổi hướng rằng, tất cả mọi suối
nguồn t́nh cảm đều sẽ già đi và phai cũ với thời gian, duy
chỉ có t́nh Mẹ là mỗi ngày một sâu, ḷng mẹ càng un đúc qua
thời gian càng chín mọng ngọt thơm mà không bao giờ rơi rụng.
T́nh Mẹ xa mà gần như nắng ấm trên đầu và đất lành dưới chân.
Càng gần với tuổi già, càng cần hơi ấm nồng nàn của nắng quê
mẹ và càng cảm thấy gần gũi với đất mẹ như một quê hương
đích thực để quay về
Khi Mẹ mất rồi mới cảm nhận
hết nỗi bơ vơ của những ngày không có mẹ. Người ta có thể
lớn khôn hay già đi qua từng chặng đời khi bỗng, khi trầm
nhưng sẽ không bao giờ biết lớn khôn trong ṿng tay thiên
thần của mẹ. Trong những tiếng kêu tha thiết – hạnh phúc
cũng như trầm thống – nhất của đời người, chỉ có một tiếng
kêu không bao giờ phai cũ hay lạc điệu, lỗi thời, đó là
tiếng con kêu mẹ: “Mẹ ơi!”
Năm đó tôi bảy tuổi, sống hồn
nhiên với mẹ sau lũy tre làng Liễu Hạ và chưa bao giờ được
đi học. Cũng có vài ba ngôi trường xă, trường làng mở ra
được một thời gian ngắn rồi cũng phải đóng cửa v́ bom ném
lộn, đạn bắn lầm. Có khi thầy bị chết hay bị bắt, tṛ bị
thương, tản cư và bao nhiêu chuyện bất trắc không lường
trước được. Trẻ con trong làng ở vào lứa tuổi của tôi rất
ít đứa nghĩ đến chuyện đi học. Và chính tôi cũng không biết
đi học để làm ǵ mà mẹ tôi cứ quay quắt đêm ngày xuôi ngược
lo kiếm trường cho hai anh em tôi đi học. Cho đến một lần
tôi đau nặng, nóng sốt li b́ tới mấy ngày. Mẹ tôi lo đủ thứ.
Nào là rịt lá giáp cá giă nhuyển lên trán tôi, nào là giác
bầu, chích lễ. Nào là mời thầy cúng chuyên trị tà ma, uống
đủ thứ thuốc Bắc, tàn nhang, nước thải mà bệnh vẫn càng trầm
trọng hơn. Cuối cùng có ông y tá thuốc Tây tới thăm bệnh,
phán rằng: “Thằng nhỏ bị thương hàn nhập lư. Phải cơng hắn
lên Dinh t́m đốc-tờ Tây khám gấp, kẻo trễ th́ vong mạng”
Nghe hai tiếng “vong mạng” mẹ
tôi sợ quá khóc bập bệu. Mẹ nhất định cơng tôi lên Huế t́m
đốc-tờ ngay trong đêm nhưng ai cũng can nên mẹ tôi đành ngồi
đối bóng với cây đền dầu hỏa lù mù để canh giấc ngủ cho tôi
và chờ sáng. Gà vừa gáy lại, mẹ tôi và d́ Quảng đă cơng tôi
đi. Làng tôi cách Huế 12 cây số nếu đi theo đường quan lộ.
Nhưng mẹ tôi đă cố đi tắt để thu ngắn thời gian. Tôi đeo sau
lưng mẹ, nghe tiếng thở mệt nhoài của mẹ ḥa với tiếng chân
mẹ lội b́ bơm qua những thửa ruộng làng c̣n ch́m trong nước
sau mùa lụt. Mồ hôi lưng áo mẹ thấm ướt qua hai lần áo ấm
phía trước ḿnh tôi. Đêm tối, b́nh minh, mặt trời mọc, nắng
lên. Mẹ và D́ Quảng vẫn thay nhau cơng tôi đi miệt mài
không nghỉ. Tới gần trưa mới tới chỗ đốc tờ. Tôi cảm thấy
đầu nhẹ nhơm và tĩnh táo hơn nhiều, có lẽ v́ trên đường đi
mồ hôi mẹ và mồ hôi của tôi cũng đổ theo đà lắc lư của mẹ
nhiều quá. Mẹ mang tôi đến một nơi gọi là “Ông Đốc Quyến”.
Nhiều người đang chờ sẵn ở đó. Nổi bật là một người đàn ông
có dáng mập mạp, ăn bận tươm tất, vẻ mặt nghiêm trang đi
quanh pḥng đợi hỏi hết người nầy qua người khác bằng cái
giọng ra lệnh làm mọi người nể sợ ngồi im thin thít. Chờ
lâu quá không thấy ông ấy tạt qua, mẹ tôi mạnh dạn cơng tôi
đến trước mặt ông ta, cung kính thưa:
- Dạ bẩm quan đốc, con tui
đau nặng sắp chết, xin quan trên làm ơn làm phúc chữa cho
cháu trước.
Ông ta quắc mắt, nạt:
- Thời chừ không có cái tiếng
“bẩm”, nghe chưa! Cứ chờ đó, tới phiên kêu. Ai tới đây
cũng toàn làm náo, kêu van đau nặng sắp chết cả. Rút cuộc,
ai cũng sống nhăn răng, chẳng có thằng Tây mô chết hết.
Mẹ tôi “Dạ, dạ” và kiên nhẫn
đặt tôi nằm xuống nền nhà xi măng, đầu gối lên chân mẹ, chờ
tới phiên. Tôi không c̣n nhớ bao lâu nhưng h́nh như lâu lắm.
Mẹ con tôi được kêu vào pḥng đốc tờ. Ông đốc Quyến “thiệt”
nầy có vẻ dễ chịu hơn ông đốc tờ “giả” ngoài kia. Ông ta
bắt tôi nằm, vén bụng vén lưng và đưa cái miếng tṛn, trông
giống cái giác sừng trâu của mấy bà chích lễ ở làng, nằm
cuối cặp giây thun như cái ná bắn chim dài ḷng tḥng đeo
trên cổ, rồi xỏ hai cái nút vào lỗ tai. Ông cầm “cái giác”
chụp lia lịa lên bụng, lên ngực, lên lưng tôi chừng năm bảy
miếng. Ông ta tài thật. Chỉ có thế mà ông biết hết, tươi
cười nói với mẹ tôi:
- Không can chi. Cháu bị cảm
cúm và viêm phế quản, để bác sĩ cho toa mua thuốc uống vài
ngày là lành.
Trong khi ông đốc tờ viết
ngoằn ngoèo trên miếng giấy th́ mẹ tôi đă chắp tay vái dài
cảm tạ:
- Dạ, bẩm quan đốc, mạ con
tui xin đội đội ơn quan!
Mơ màng nghe tiếng “bẩm quan”
tôi hơi run v́ sợ mẹ tôi bị nạt như hồi năy, nhưng may quá,
ông đốc Quyến nầy coi bộ tử tế hơn ông “đốc giả” ngoài pḥng
đợi, nên đă xua tay cười khanh khách:
- Ui chà! Quan quyền chi thím
ơi. Đừng kêu rứa tội chết!
Ra khỏi pḥng khám, chưa uống
thuốc mà tôi đă cảm thấy tỉnh như sáo và kêu đói bụng đ̣i ăn.
Mẹ tôi hớn hở nói với d́ Quảng, người đang thay phiên mẹ
cơng tôi trên lưng:
- D́ hí, hèn chi thiên hạ đồn
ông đốc Quyến ni “thơm tay” là phải lắm. Chưa chi ông mới
rờ lên thằng nhỏ đă lành!
Mẹ cầm tay tôi, nói nựng như
một lời mơ ước hoang đường:
- Mai sau, con gắng học lên
làm ông đốc cho mạ nhờ con hỉ!
Tôi hỏi giọng yếu ớt:
- Làm chi mới được thành ông
đốc mạ hè?
Mẹ tôi dường như hứng chí:
- Học, mà phải học cho thiệt
giỏi mới lên ông đốc con ơi! Lớn lên con gắng làm ông đốc
tờ nghe con!
Tôi “dạ” một cách mạnh dạn
vừa khi mẹ tôi cơng đi ngang qua Phu Văn Lâu. H́nh như lời
hứa của tôi có cột cờ làm chứng. Một đời sau này, những khi
mỏi năn với đèn sách, tôi thường nhớ lời hứa với mẹ có chứng
cớ cột cờ mà lặng lẽ vươn lên.
Vỡ ḷng
Trường "Đạo"! Ngôi trường
làng hiền hậu nấp dưới hàng mù u, bên cạnh giáo đường làng
Dương Sơn, cách cái cầu Tứ Phương phân ranh giữa làng tôi và
làng Cổ Lăo đi bộ chỉ tàn vài điếu thuốc mà nghe xa xôi hơn
cả Tử Cấm Thành. Tin tôi đi học trường "Đạo" lan xa như
tiếng tù và làm tỉnh ngủ bọn nhóc t́ trong cả mấy xóm Kên,
xóm Giữa, xóm Cụt, xóm Côi làng Liễu Hạ. Làng Dương Sơn là
làng thuần Thiên Chúa giáo với tháp chuông nhà thờ cao vút,
có chiếc thánh giá nổi lên trên nền trời lộng gió giữa biển
tre xanh và ruộng lúa mấp mô nhiều đợt của xă Hương Cần.
Cả một thời thơ ấu,
tôi chỉ nghe gọi người làng Dương Sơn là "đạo" để phân biệt
với người dân xung quanh là "ngoại" hay “lương”!. Chiều
chiều, nghe vọng âm của tiếng chuông nhà thờ đổ hồi khi
thanh, khi lặng theo từng cơn gió nồm mùa hạ, hay gió bấc
mùa đông làm cho trí tưởng tượng về một thế giới "đạo" huyền
bí trong tôi bay bổng miên man. Những ngày “Tây lùng" bất
chợt, người dân vùng "ngoại" lũ lượt kéo nhau lên lánh nạn ở
Dương Sơn. Cũng lạ là Tây đến vùng ngoại th́ đốt nhà, hành
hạ không nương tay; nhưng cũng cùng đoàn Tây đó đến làng đạo
th́ lại thân mật với dân thường, cho quà và cười đùa với trẻ
em đầy vẻ t́nh người. Bởi vậy, ngôi trường tiểu học mang
cái tên là lạ, “Phan Thiện”, trở thành nơi tốt nhất để cha
mẹ trong vùng xin cho con đến học. Học tṛ đến từ nhiều
vùng khác nhau: từ Văn Xá, Hương Cần, đến Phước Yên, Liễu Hạ…
Buổi học đầu tiên,
mẹ tôi cười rạng rỡ, dắt hai anh em tôi đến ra mắt vị Cha xứ.
Vị linh mục có khuôn mặt thanh tú sau cặp kính cận gọng vàng,
trong chiếc áo ḍng đen viền cổ trắng dang tay đón lấy tôi
bằng một cử chỉ nhân ái mà suốt tuổi thơ ở làng tôi chưa bao
giờ có được. Mẹ tôi giục:
- Nói lạy cha đi
con!
Tôi mồ côi cha rất
sớm, nên tiếng "cha" chưa quen gọi trên môi từ khi tôi biết
nói. Tôi ngượng nghịu khi phải gọi một người lạ bằng "cha",
nhưng đôi mắt tỏa chiết ánh thân t́nh, mát dịu và tinh anh
của người đối diện cho tôi chút can đảm nói lên:
- Dạ... dạ, lạy
cha!
Nh́n những bức
tranh, bức tượng thánh đủ màu; nghe những tiếng xưng hô "em",
"con" nơi đây, thay cho tiếng "tui" (tôi), tau, cộc lốc ở
làng, tôi cảm thấy rơ ràng là ḿnh đang lạc vào một thế giới
khác. Sau đó, tôi được đưa vào lớp chị Hường. Chị đẹp như
một thiên thần trong lớp mũ áo nhà tu trắng toát trinh tuyền.
So với mấy chị, mấy o, mấy thím làng tôi với tóc bối răng
đen, quần xăn lên quá gối quanh năm th́ chị Hường là hiện
thân của những nàng tiên trong cổ tích. Đến lúc chị Hường
cười chúm chím, hỏi tôi mấy câu, giọng chị ngọt mềm như bánh
sữa làm tôi cảm thấy tôn nghiêm và ớn lạnh với nỗi sợ đang
lạc quá xa vào thế giới hoang đường.
Hàng ngày, sau giờ
ngủ trưa là lễ cầu nguyện. Tôi vốn đă quen với h́nh ảnh của
cây bồ đề có rễ phụ mọc từng chùm nhiều hơn lá và ngôi tượng
Phật có tai dài ngang cằm của ngôi chùa cổ ở làng. Tôi đă
thuộc làu từng nhịp nhặt khoan của hồi chuông trống bát nhă,
quen với lời mở đầu câu kinh “Đệ tử kính lạy, đức phật Thích
Ca, phật A Di Đà…”. Nay được thấy tượng Chúa trên bệ cao
nh́n xuống, có khuôn mặt “giống ông Tây mà hiền như ông Bụt
ở chùa làng”, như thằng Quảng làng Phước Yên có lần nhận xét.
Tôi th́ thích đôi tay của tượng chúa, đôi tay rộng mở, dang
ra như muốn đón ngày trở về của những đứa con bụi đời, những
kẻ vô t́nh quay lưng trở lại.
Học được mấy tháng th́ chị
Ngôn thay chị Hường. Chị Ngôn lớn tuổi, cao và rất nghiêm.
Chị bắt đọc a,b,c… thành ra á, bơ, cơ… cho “khỏi giống Việt
Minh”. Mỗi thứ sáu chị Ngôn đều nhắc học tṛ của chị phải
ăn “chay”. Thời đó, lũ học tṛ vùng “ngoại” của chúng tôi
hiểu ăn chay là ăn khoai sắn và trái cây, nên mỗi thứ Sáu,
cả lớp lại có dịp căi cọ ồn lên về cây trái thổ sản quanh
vùng.
Làm sao tôi quên được những
cuộc “chiến đấu” anh dũng tung nước bọt của ba thằng nhỏ quê
ở Hương Cần về đại sự: “quưt Hương Cần thứ thiệt!”.
Thằng Tin ở phe Kiền, thằng
Vện phe Đông, thằng Hạ phe Chùa. Cả ba phe đều thuộc về
làng Hương Cần. Như vậy là cả ba đứa đều là dân Hương Cần
thứ thiệt, toàn ṛn, thế mà thằng nào cũng chê quưt của hai
thằng kia là quưt… giả. Tôi cũng là con nhà vườn, lại là
con đẻ của chiến tranh nên cũng khôn “nẻ vỏ”, chưa học hết
lớp i-tờ đă biết chơi tṛ ngư ông thủ lợi. Cả ba thằng nhóc
Hương Cần liên tù t́ bắt tôi nếm thử. Mấy ngày đầu, tôi
chẳng dại ǵ, mà thiệt t́nhø cũng chẳng phân biệt được ǵ để
phán là quưt của đứa nào là quưt Hương Cần chánh hiệu cả.
Qua mấy ngày sau, nếm quưt nhiều quá thành “lạnh bụng” phải
ôm cái bụng đau lâm râm rời đấu trường hơi bất thường, tôi
đâm ra dè dặt. Đến các hiệp sau th́ tôi ăn hết nổi quưt của
hai gă phe Đông và phe Chùa, nhưng vẫn c̣n cảm thấy thinh
thích quưt của thằng Tin phe Kiền v́ mùi thơm và vị ngọt của
nó. Hai đấu thủ phe Chùa và phe Đông cảm nhận được ṃi bất
ổn của gă trọng tài gà mờ như tôi, nên đă lẳng lặng rời trận
đấu trước hồi chung kết!
Lớp học i-tờ của tôi thường
bị cắt ngang v́ “Tây lùng”, dân các làng kế cận chạy giặc về
ngồi la liệt quanh sân giáo đường. Tuổi thơ của tôi cũng
đầy tiếng chim ca và tiếng súng nổ; lúc th́ tưởng yên ắng
lăng quên như nước tù trong ao nhỏ, lúc lại cuồng lên
nghiêng đổ như nước lụt đầu mùa.
Rồi những buổi trưa giữa ṿm
giáo đường cao vút, tôi mê măi đuổi mắt t́m bầy dơi lười
biếng ngủ trưa, lên giọng đọc theo lời kinh mà tôi chỉ loáng
thoáng hiểu là đang nói một lời vui mừng cao cả nào đó “Kính
mừng Maria đầy ơn phước, đức chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phép
lạ, hơn mọi người nữ…”
Ngày tháng học
trường Đạo qua nhanh đầy tiếc nuối như tổ chim mơ ước của
tuổi thơ một sớm đă chuyền cành.
Giống thằng Cuội ôm
bí mật trên cung trăng, tôi cũng có bí mật riêng ḿnh để mà
quên một thuở, mà nhớ một đời. Sau vụ tranh giải Quưt Hương
Cần th́ thằng Tin ở phe Kiền đă mặc nhiên giữ chức “Quưt
Hương Cần chính hiệu nai vàng”.
Tôi nghiễm nhiên trở thành
đồng minh của nó, v́ t́nh hữu nghị thắm thiết của hai đứa
thuộc loại “đồng bịnh tương lân”. Tôi và nó đều thích ngẩn
ngơ tổ chim sáo trên bụi tre lá ngà cao ngất đầu làng.
Đă có những buổi
trưa trốn ăn và những phút vội vàng sợ chiều tắt nắng nằm
nín thở một ḿnh trên đám cỏ khô, hồi hộp nh́n vói theo chim
sáo mẹ xây tổ rồi tha mồi về tổ cho sáo con, cả hai đứa miên
man sống trong mơ về một ngày hạnh phúc. Cả hai đứa cùng mơ
về một ngày ấy sẽ ôm con sáo nhỏ trên tay, cho nó uống nước
đường đen của mẹ tôi dùng nấu chè, kho cá và tập cho nó nói
“Chào khách” hay “Ai đó”. Ước mơ là quyền tự do tuyệt đối
của con người. Nhưng rồi, ước mơ là sương tan giữa thực tế
gay gắt của mặt trời. Sau bao ngày bàn tính nhỏ to, hai đứa
chúng tôi quyết ra tay hành động.
Một buổi xế trưa,
hai đứa trốn lễ nhà thờ để bắt tổ chim sáo. Từ dưới đất
nh́n xuyên qua thân tre với hàng hàng, lớp lớp chi chít cành
lớn, cành nhỏ, gai dài nhọn hoắt tôi có thể nh́n thấy tổ
chim sáo đong đưa theo từng cơn gió, có cả bầu trời xanh
lồng lộng trên cao. Tôi leo lên cây, c̣n thằng Tin đứng
dưới ngó chừng. Nó cũng là ṇi nghĩa hiệp. Trời khá lạnh
mà nó nhất quyết cởi trần để khoác cho tôi thêm cái áo ngoài
để “gai khỏi chích”. Lâu như ngày mới lớn chờ đợi lá thư
t́nh, cuối cùng tôi leo lên tới ngọn tre. Trước khi rờ tới
được tổ chim sáo th́ than ôi, tiếng nói ngọt ngào của vị Cha
Xứ từ dưới vọng lên:
- Con trèo xuống.
Đừng vội mà đâm phải gai…”.
Học trường đạo luật lệ nghiêm
minh mà dám trốn học trèo cây bắt chim th́ dù các ông thánh
hiện h́nh cũng không xin học lại được.
Khúc ngoặt của ḍng sông.
Thời nhỏ tôi thường nghe mẹ
ḥ “Ai đưa con sáo sang sông, để cho con sáo sổ lồng bay đi…”.
Tôi mê chim sáo, nhưng con sáo không sang sông mà tôi phải
sang sông để tiếp tục học lớp i-tờ sau gần một tháng bị đuổi
học. Làng tôi là làng Liễu Cốc Hạ. Nguồn gốc của tên làng
là do ngày xưa khi chúa Nguyễn mới vào Nam th́ nơi đây là
một rừng dương liễu trùng điệp chạy dài từ núi ra biển.
Những vị khai canh đă từng bước phá rừng dương trồng ngũ cốc.
Phía gần đồi núi mang tên là Liễu Cốc Thượng và làng tôi
thành Liễu Cốc Hạ v́ nằm phía dưới, cạnh con sông Bồ phát
xuất từ dăy Trường Sơn. Huế có ba con sông đẹp nhất, trong
xanh đáy nước in trời, chạy song song từ Trường Sơn về Nam
Hải như ba cô gái cùng mẹ khác cha. Sông Hương là cô bé
ḍng dơi Hoàng tộc nên có dáng… yểu điệu thục nữ, quân tử
hảo cầu; sông Bồ là cô bé phù sa gánh nước sa bồi tưới cho
những cánh đồng lúa gầy g̣, lam lũ; và sông Truồi là cô bé
chân quê chăm bón cho những vườn dâu, vườn chè hương đậm bốn
mùa.
Sông Bồ đang chảy ngon trớn
xuôi ḍng về Nam, bỗng khi đến cuối làng tôi lại quẹo chếch
về hướng Đông Bắc. Con sông lượn ṿng uốn khúc ôm biền phe
Kiền cong như eo trái bầu non mùa Xuân mới lớn. Chính nơi
đây, sông Bồ bao bọc mảnh đất truyền đời của quưt Hương Cần.
Làng Hương Cần có 5 vùng
thường được gọi là 5 giáp: Giáp Đông, giáp Tây (Phe Chùa),
giáp Trung, giáp Kiền (Phe Kiền), gíap Thượng. Thế nhưng
chỉ có Phe Kiền mới chính là là nơi trồng được quưt – quưt
Hương Cần – ngon nhất nước. Đă bao nhiêu năm qua, có rất
nhiều người ở các làng kế cận, bứng nguyên cả cây quưt Hương
Cần đă già hay c̣n non về trồng ở vườn trong làng khác, có
nơi chỉ cách Phe Kiền làng Hương Cần một cái ao nhỏ không
đầy hai bước. Thế nhưng khi quưt ra trái vẫn là quưt chua,
chẳng bà con lân cận ǵ với hương vị độc đáo của quưt Hương
Cần.
Khi không tôi lại lọt vào
vùng “thánh địa” của quưt Hương Cần.
Lớp học mới của tôi mở đằng
sau hậu liêu của một nhà thờ họ củ kỹ và thấp lè tè như một
ṭa miếu cổ. Xung quanh là vườn quưt già trồng từ đời nào
với ngọn cao quá tầm mái ngói và tàng lá xanh đậm, san sát,
lọc ánh mặt trời vă sao trên đất. V́ mẹ tôi phải chờ ngày
tốt sau Tết để cho năm rộng tháng dài và “được mùa sinh” (mùa
Xuân) mới đưa tôi vào trường mới. Mùa Xuân quưt trổ bông
nên buổi sớm và buổi chiều hoa quưt trắng phau tỏa mùi thơm
lúc the the, lúc d́u dịu từ mé sông Bồ cho đến những bờ ao.
Học ở Phe Kiền chừng vài
tháng th́ con đường duy nhất đến trường gọi là đường Nhứt bị
phong tỏa giữa hai lằn đạn, lính Bảo Vệ phía Tây Bắc và Việt
Minh phía Đông Nam. Đường đi không một bóng người, nhưng ai
cũng gờm gờm với cảm giác ớn lạnh là hai họng súng từ hai
phía đang chĩa về con đường Nhứt định mệnh ấy. Tôi không
dám đến trường đi qua trên con đường Nhứt ấy mà phải lội
băng qua con sông Bồ chảy qua làng Liễu Hạ và Phe Kiền. Mẹ
tôi vẫn thường so sánh: “Có phước đẻ con hay lội, có tội đẻ
con hay trèo”. Khổ nỗi tôi thích và h́nh như cũng có hơi
giỏi cả hai: Bơi lội và leo trèo! Tôi mang về cả “phước”
lẫn “tội” cho mẹ giống như tất cả những đứa bé quê Việt Nam.
Hàng ngày, buổi sớm và buổi
chiều đi học và băi trường về nhà, tôi đứng tần ngần nh́n
sông. Cởi áo quần, tôi cuốn chung với sách vở và mo cơm bới
bỏ vào trong chiếc nón lá đă được phết dầu rái dày cộm để
dùng như chiếc phao nổi rồi cắp nón lội xuống bờ sông. Cứ
một tay bơi, một tay vịn và đẩy nhẹ vào chiếc nón lá để lội
qua sông Bồ với gịng nước khi lặng lờ, khi chảy xiết. Đến
bờ, tôi mặc áo quần vào lại, ôm sách vở đến trường học. Dù
cố bảo vệ như đồ gia bảo, cuốn sách vở ḷng và tập vở vấy
nước lâu ngày dày cộm và chữ nghĩa nhoẹt nḥe. Những ngày
trời lạnh cuối thu, nh́n nước xanh và những mảng lá vàng
quấn quít trên sông tôi ước chi ḿnh là chiếc lá bay chếch
qua sông mà không phải đầm ḿnh trong gịng nước sớm chiều
lạnh cóng. Rồi những ngày mưa lũ và những tháng mùa Đông,
không bơi qua sông được, mẹ tôi phải thuê chú Cưỡng đem ghe
chở qua sông.
Trường tôi chỉ có hai lớp và
một thầy giáo. Một lớp abc và một lớp “Ê-cri-vê”. Lớp abc
th́ lũ nhóc học tṛ chỉ việc hoác mồm ra đọc theo thầy. Có
đứa tung hết nội lực thâm hậu ra đọc đến nỗi làm thầy sợ,
bắt đọc nhỏ lại cả “tàu bay thám thính nghe”! Lớp Ê-cri-vê
là lớp cao cấp hơn , quy tụ toàn những đứa thông thái cở như
tôi, ít ra cũng có tŕnh độ học vài ba tháng trường Đạo, dù
chỉ là học tṛ trốn lớp bắt chim bị đuổi học như tôi. Cho
đến bây giờ và ngày xưa đi học, tôi vẫn chưa hiểu và cũng
chẳng bao giờ dám hỏi thầy v́ sao lớp tôi lại có cái tên ngộ
nghĩnh như vậy. Tôi đoán có lẽ v́ lớp tôi có tập viết. Tôi
viết bằng lưỡi viết lá tre cột vào cái cán bút tự chế biến
chấm vào b́nh mực tím. Hết mực, vắt nước trái mồng tơi lem
luốc cũng nguệch ngoạc được dăm ba chữ thánh hiền!
Trường làng tôi là cái chái
bỏ hoang trong khu nhà thờ họ Nguyễn. Bàn ghế cái bằng tre,
cái bằng gỗ khập khà khập khiểng theo đà lắc lư của đám học
tṛ thích chạy rông ngoài đồng hơn là bị nhốt trong lớp học.
Trừ thầy giáo Cống có đôi dép cao su “rọ heo”, c̣n tất cả
học tṛ đều chân đất. Có một lần thằng Quảng làng La Vân,
được một đôi dép mới e dè mang đi học, bị chọc quá, mặt méo
xẹo, phải vác đôi dép lên vai khi băi học về nhà. Sáng hôm
sau, nó hiên ngang đi chân trần tới lớp, trở về nhập bọn sĩ
tử chân trần xóm nghèo.
Thầy tôi dạy tùy hứng. Nhớ
con cháu Gaulois th́ thầy dạy năm ba câu tiếng Tây. Chúng
tôi cứ nhắm mắt đọc theo thầy. Cứ mỗi lần thằng Cu Sài dân
Xóm Cụt bị kêu lên đọc bài th́ những đứa ngồi bàn đầu như
tôi khó tránh ăn vài cái thước khẻ nên thân của thầy v́
cười rúc rích. Mở đầu câu chào hỏi “Bonjour, je m’appelle
Cu Sài” th́ nó đọc ngọng nghịu ra sao mà cứ bị mấy tṛ lớn
tồng ngồng cuối lớp nhái lại thành “Bồng rùa, rờ mép bên cu
dài!” Chán Tây, thầy lại về nguồn nhớ tổ Hùng Vương để dạy
đôi bài tiếng Việt “Dân ta ṇi giống Lạc Hồng, sao cho xứng
mặt con rồng cháu tiên...”. Hoặc đôi khi thầy sai tôi đi
thắp thuốc, khói thuốc khơi ḍng cho hồn thơ lai láng th́
thầy dạy “Thu ơi! Ai nhuôm lá Thu vàng!” Phương pháp dạy
của Thầy là đọc và “nhớ mặt chữ” chứ chẳng cần lôi thôi đánh
đấm vần xuôi, vần ngược ǵ cho vất vả! Không ngờ tôi cứ
đọc ê a theo cách dạy của Thầy mà bỗng trở thành giỏi lúc
nào không hay. Tôi biết ḿnh giỏi là ngày mẹ tôi đem cái
ống tre đựng giấy tờ bị thấm nước lụt ra phơi. Tôi chụp
ngay mấy chữ quen mắt mà thầy đă dạy ra đọc. Có mấy chữ Tây
phụ đề đâu đó tôi cũng quờ quạng đọc toáng lên luôn. O
Quảng khen:
- Cái thằng giỏi thiệt! Không
cần đánh vần chi cả mà đọc trơn lu!
Mẹ tôi cười sung sướng. Anh
nắng mai trong mắt mẹ làm cho những hàng chữ nhạt nḥa trên
giấy xưa úa vàng cũng long lanh màu hy vọng.
Không lâu sau đó, Tây đi lùng
qua vùng quê tôi, bị Việt Minh phục kích gây thương vong.
Tây quay lại đốt nhà trả đũa. Cả một vùng quê ngập tràn
trong lửa đỏ. Nhà tôi là nhà rường kiền kiền lợp tranh mây
nên cháy suốt một ngày một đêm mới chịu hoàn toàn gục xuống
giữa tro than. Không rơ trường tôi bên kia sông vẫn c̣n hay
mất. Nhưng từ dạo đó, tôi đă vĩnh viễn xa ngôi trường một
thuở thơm lừng mùi hoa quưt.
Tôi cũng không c̣n nhớ ḿnh
đă học quanh, học quẩn qua nhiều trường làng bằng cách nào
mà cũng leo lên tới lớp ba, rồi lớp nh́ và lớp nhất. Ngày
thi tiểu học toàn quận Hương Trà thật là cả một đại biến cố
của đời tôi. Mẹ tôi suốt đêm không ngủ. Cứ hết ra sân thắp
hương khấn vái, rồi đến việc nấu xôi bới trong mo cau thành
từng gói. Vừa có tiếng gà gáy lại cất lên từ phía chuồng gà
úp trên chuồng heo là mẹ tôi đă đánh thức tôi dậy để chuẩn
bị lên đường đi thi. Hai tiếng “đi thi” có mănh lực gọi mời
pha một chút linh thiêng đối với tôi như tiếng gọi của rừng
thẳm và Lady Jane đối với Tarzan. Đầu mùa Hạ, đường đất pha
với sương đêm mát dịu. Đôi dép mới đi chưa quen bó vào chân
nhức buốt. Tôi phải vác đôi dép lên vai và lọt tọt chạy
theo Mẹ. Đến con đường Bàu Đôn dẫn tới Bao Vinh đá dăm lởm
chởm. Chân cứng mà đá không chịu mềm nên tôi chạy vă mồ hôi
mới níu được bàn tay xương mà dịu dàng của mẹ. Mẹ truyền
“bí kíp” cho tôi: “Đi nghiêng chân để tránh bớt đá!” Chân
nghiêng đổ lách ḿnh trên con đường đá thẳng nên tới chỗ
trường thi Hương Trà đă mệt bơ phờ. Thi hai ngày rưỡi, hai
mẹ con ăn hết nhiều mo cơm bới. Mẹ tôi đón ở cổng trường
sau mỗi buổi thi với câu hỏi đầy lo lắng: “Làm bài có được
không con?”
Ngày treo bảng, tôi đỗ thứ ba
trong số hơn ngh́n thí sinh dự thi và mấy trăm thí sinh
trúng tuyển “Pri-me”. Mẹ tôi mừng làm mâm cơm “cáo yết gia
tiên”. Nước mắt mẹ chảy dài theo nhang khói. Tôi thương vẻ
mừng vui thầm lặng tỏa chiết một cách rỡ ràng trên khuôn mặt
mẹ nhiều hơn là mừng cho ḿnh. Từ đó, khi được thực tế cuộc
sống nâng niu, tôi vẫn cảm thấy như có mẹ bên đời; hay dẫu
bị bạc đăi đến cỡ nào, tôi vẫn vịn vào ḷng thương mẹ mà
đứng dậy.
“Thư viện” của tôi là mấy nhà
thờ họ rêu phong, là đ́nh làng vắng vẻ, là ngôi chùa cổ kính.
Đó là những nơi học bài, làm bài “rất vô”, ít bị bạn bè đến
rủ rê hay tiếng ồn quấy phá. Tôi có những phương pháp “học
vẹt” tuyệt vời. Như môn quốc văn chẳng hạn, tôi học thuộc
làu làu chừng chục bài nghị luận văn chương, năm bảy bài
nghị luận luân lư, những đoạn văn tả cảnh, tả t́nh đầy gợi
cảm, đaị khái chung chung áp dụng cho cảnh sum vầy hạnh phúc
cũng đúng mà cảnh phân ly, chia biệt cũng chẳng lạc đề; văn
chương cũng phong phú mà nghị luận cũng hùng hồn. Với t́nh
cảm Việt Nam mà cứ tha thiết nói giọng bùi ngùi, xúc động,
nghẹn ngào, thổn thức, thương cảm, hoài vọng, ước mơ... th́
chạy đi đâu mà sợ lạc.
Rồi đến kỳ thi “càng cua” (concours)
vào đệ thất trường trung học Hàm Nghi. Đây quả là kỳ thi
của số phận. Hỏng “càng cua” là mất cơ hội vào học trường
công. Học tṛ làng, cơm áo c̣n thiếu, có đâu mà trả tiền
học trường tư. Bởi vậy, ở quê tôi, hầu như tương lai học
hành của bọn trẻ cũng chấm dứt luôn một lần với việc thi
hỏng “càng cua”.
“Học tài thi phận!” nghe ớn
lạnh như lời truyền vào cổng trường thi của sĩ tử ngày xưa:
“Báo ân nhập, báo oán nhập, sĩ tử thứ thứ nhập!” Nghĩa là
các linh hồn trả ơn và báo oán vào trường thi trước, kế đó
mới đến thí sinh vào trường thi.
Cái chùm dây tḥng lọng “học
tài thi phận” Việt Nam cứ treo lủng lẳng trên đường ṃn đèn
sách đă biến thế giới bút nghiên thành thao trường của số
phận. Hết tiểu học, đến “càng cua”; lên trung học, đến tú
tài bán phần, tú tài toàn phần, thi tuyển vào các ngành đại
học... Cổng trường thi là cái cổng nhà trời đầy quyền uy
dẫn người qua đó về nẻo vinh quang hay cay đắng! Nhưng dù
gian nan đến mấy th́ tôi cũng vẫn không quên lời hứa với mẹ
đă có cột cờ làm chứng: Lời hứa mai sau sẽ làm ông “đốc tờ”
cho mẹ vui ḷng.
Sau 12 năm học, từ tiểu học
lên đến trung học, kéo dài trong cảnh băo tố chiến tranh của
toàn đất nước và trong khung cảnh biến động thường xuyên của
một xă hội trôi nổi trên cuồng lưu của tư tưởng, kinh tế và
chính trị, tôi thành “cậu tú”. Ngưỡng cửa đại học mở ra e
dè như anh chàng hà tiện mở hầu bao đă khách. Thước đo chất
xám của thời đại là “Nhất y, nh́ dược, tạm được bách khoa,
nông lâm bỏ ra, chuột chạy cùng sào mới vào sư phạm.” Học
bài c̣n được gọi là “gạo bài, nuốt bài” hay “tụng bài” cho
nhuyễn để sẵn sàng rút ruột nhả tơ cho các kỳ thi tuyển. Cái
học từ chương thay áo mới, bút lông thay bằng bút sắt, nhưng
chiếc chiếu hoa cạp điều vẫn c̣n trải thảm trên lối đi của
tri thức như xưa!
Tôi thi vào trường Đại học Y
khoa Huế. Một ngh́n tư thí sinh lấy chín chục, tôi đậu thứ
9. Tin tôi thi đậu vào trường “bác sĩ” lan ra cả vùng quê
vốn bao nhiêu năm qua, người bệnh muốn gặp ông “đốc tờ” phải
bỏ vào vơng khiêng đi mất nửa ngày mới tới. Tội nghịệp mẹ
tôi mừng khấp khởi. Hạnh phúc của những bà mẹ Việt Nam
không phải là sự hưởng thụ thỏa măn mà là nỗi hy vọng tràn
trề về một tương lai sáng sủa cho con cái. Nên hạnh phúc
cũng có nghĩa là hy sinh.
Mẹ tôi đă hy sinh cả một đời
thanh xuân cho gia đ́nh và con cái, nhưng khả năng chỉ đủ
sinh hoạt cho một gia đ́nh khiêm tốn sau lũy tre xanh. Con
đường dài dằng dặc sáu, bảy năm ở trường y khoa chỉ c̣n
trông cậy vào nguồn hỗ trợ tài chánh chủ yếu từ người anh cả
của tôi. Anh tôi đang chỉ huy một đơn vị tác chiến tại Khe
Sanh.
Những ngày đầu nhập môn của
một sinh viên y khoa tuy mới lạ và bận rộn đối với tôi,
nhưng đó là những ngày tháng thật êm đềm của cuộc đời đi học.
Một tương lai đă được định hướng cùng với một hiện tại đáng
hănh diện và đầy hy vọng làm phấn chấn tinh thần dọn đường
cho tôi đi tới. Với sức học đang lên và nỗi say mê đèn sách
đang ở vào thời kỳ đầy phong độ, tôi nh́n thẳng vào con
đường y khoa sáu năm đang đến như một đại lộ phong quang,
chẳng gợn lên một chút mây mù gai góc nào cả. Giảng đường
và sách vở tạo ra một ảo giác tháp ngà êm ả. Tôi không để
tâm nhiều đến cuộc chiến đang vùi dập những mảnh đời bất
hạnh ngoài kia.
Tôi ở trọ tại Vỹ Dạ. Một buổi
xế trưa không hẹn, Tuấn, một người bạn học rất thân của tôi
xuất hiện ngoài cửa ngơ. Dưới tàng cây xanh lọc nắng Tuấn
cúi đầu lững thững vào nhà. Tôi bắt gặp một nét ǵ khác lạ
nơi Tuấn hôm nay. Tuấn không ch́a tay ra bắt như thường lệ
mà ôm lấy vai tôi, nhè nhẹ kéo ra ngoài sân. Tôi ṭ ṃ và im
lặng quan sát cử chỉ hơi bất thường của Tuấn hơn là nói lên
một điều ǵ. Tay Tuấn t́m bàn tay tôi và lặng lẽ đặt vào đó
một mảnh giấy xếp tư. Tôi e dè mở ra. Một cái điện tín do
anh Thiện gởi. Nội dung ngắn gọn nhưng vết chém của nó vào
cuộc đời thật là chát chúa và tàn độc: “Anh Nhàn tử trận
rồi. Xác sẽ đưa về Huế hôm nay.” Tôi chằm chằm nh́n cái
điện tín ráo hoảnh như nh́n vào bầu trời mùa hạ rỗng không.
H́nh như trong tận cùng vô thức, hàng ngày tôi vẫn chờ tin
nầy từ lâu lắm. Tôi vẫn đưa anh Nhàn ra sân bay trực thăng
Ái Tử, Thành Nội, Đà Nẵng để lên Khâm Đức, Dục Đức, Khe Sanh.
Cứ mỗi lần nh́n cái dáng nhỏ nhắn, sạm nắng của anh trong
trang bị tác chiến chạy lên tàu trong đám bụi mù của cánh
quạt trực thăng sẵn sàng cất cánh, tôi vẫn mơ hồ thấy được
số phận chênh vênh, bọt bèo, ngắn ngủi của người lính chiến
trường.
Anh cả tôi từ giă chiến
trường. Tôi từ giă y khoa.
Anh từ giă chiến trường để về
đất. Tôi từ giă y khoa để trải qua những mảnh bằng gió bụi.
Những mảnh bằng gió bụi
Tuy không phải là “chuột chạy
cùng sào” nhưng tôi cũng vào sư phạm. Tôi thi vào Đại Học Sư
Phạm chỉ v́ lư do đơn giản là giáo sinh sư phạm được cấp học
bổng hàng tháng, ít ra th́ cũng đủ sống rất đạm bạc cho đến
khi ra trường.
Ngành “kỹ sư tâm hồn” cũng
b́nh lặng trôi qua. Sau tốt nghiệp là đến ngày tung cánh
nhận nhiệm sở. Nhu cầu th́ quá nhiều mà ḷ thầy lại sản
xuất quá ít nên chúng tôi theo thứ tự đậu ra trường cao thấp
để chọn các trường trung học kéo dài từ Quảng Trị đến B́nh
Thuận, Khánh Hoà. Tôi đậu thứ nh́, tôi chọn ra dạy ở Quảng
Trị cho gần Huế, cái xứ Huế hiền lành mà lại quái ác níu
chân tôi lại khi có dịp tung bay.
Mới ra ḷ sư phạm, bầu kinh
luân chưa nguội thế mà chàng phụ tá giám học trường Nguyễn
Hoàng đă làm tôi nổi nóng. Tôi không được chia dạy các lớp
thi tú tài kềm với các lớp đệ tam như các đồng nghiệp khác.
Khi nêu thắc mắc, người phụ tá giám học trả lời chống chế,
rằng , bởi v́ tôi tốt nghiệp đại học sư phạm mà không có văn
bằng cử nhân nên không được phụ trách dạy các lớp thi. Tuy
không có quy ước nào như thế, nhưng câu trả lời “láu cá” của
chàng nầy làm tôi có mặc cảm như ḿnh c̣n thiếu nợ sách đèn.
Chẳng hiểu sao v́ chút tự ái
không đâu mà tôi lại lấy làm điều nuôi chí ta đây không chịu
thua ai. Thế là tôi lại ghi danh học lại, vừa học vừa làm
nên thành “học nợ”. Chỉ c̣n thiếu một chứng chỉ Ngữ Học để
đủ 5 chứng chỉ cho văn bằng Cử nhân Văn khoa nên hè năm sau
tôi đă hoàn thành đủ trọn bộ “Tây Du Kư” để có thể mang tới
nói mát, nói mẻ với gă phụ tá giám học. Lần này, anh chàng
lại “láu cá” thêm một lần nữa. Anh ta cười xởi lởi nói cứng
như ông bố vợ của tôi:
- Thấy không, chọn tướng
không bằng khích tướng, nhờ ta nói khích chú mầy mới có được
cái “cử nhân toàn phần” đó nhé. Chừ ta đăi chú mầy một chầu
cà phê đường Trần Hưng Đạo, c̣n chú mầy phải khao ta một
chầu nem lụi Săi mới xứng công ta dám chơi tṛ “Lưu B́nh
Dương Lễ” thời nay!
Rồi bẵng đi mười lăm năm…
sách vở chỉ c̣n là một phương tiện để dạy học khi lên lớp
hay để đọc mua vui và lúc cần tham khảo.
Tôi qua Mỹ, xây
dựng cuộc đời mới với nghề làm cỏ.
Nếu chỉ quan tâm đến lợi
nhuận thu nhập hàng tháng th́ nghề làm cỏ kiếm tiền có thể
nhanh và nhiều hơn lương của một kỹ sư mới ra trường. Nhưng
tâm trạng của những người bỏ xứ ra đi không dừng lại ở chỗ
cơm áo. Ai cũng muốn chen chân vào xă hội mới với một thế
đứng khá hơn là chỉ biết cày cục làm thuê, phụ mướn kiếm
tiền. Con đường tiến thân ít bị số phận may rủi chi phối
nhất là đi học. Trong khi cái xứ quái ác nầy c̣n mang thêm
nhăn hiệu là “vùng đất của cơ hội”, một vùng đất có cơ hội
bằng vàng cho những người đi học. Nên hầu hết những người
Việt vào độ tuổi trung niên có căn bản nghề nghiệp và học
vấn ở Việt Nam đều phấn đấu trở lại trường toàn thời gian
hoặc vừa học vừa làm. Mỹ là một nước “trịch thượng” nhất
trong vấn đề bằng cấp. Bằng biếu của Mỹ thường được công
nhận khắp nơi trên thế giới, nhưng Mỹ th́ lại không công
nhận bằng cấp từ các quốc gia khác. Ôm bằng cấp nước ngoài
vào Mỹ để du lịch, diễn thuyết, đọc thơ, tŕnh diễn... cho
vui th́ “ô kê, chơi xong rồi về”, nhưng để hành nghề hay
kiếm việc th́ “xo ri, đừng đi cho mệt”! Bởi vậy, không có
trường hợp ngoại lệ mà tất cả các bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ,
kỹ sư, giáo sư , chuyên viên... Việt Nam đến Mỹ muốn hành
nghề trở lại đều phải đầu tư mồ hôi và nước mắt vào việc học
trở lại. Trên đường đi, rất nhiều “kẻ sĩ” bỏ cuộc, lồng
bằng cấp cũ vào khung kính treo cho đỡ buồn, rồi ráng đi t́m
một công việc khác có thể chẳng ăn nhập ǵ đến khả năng
chuyên môn ngày xưa của ḿnh.
Trong đám sĩ tử “nửa đời
hương phấn” đó có tôi.
Đang làm cỏ với thêm bốn
người anh em giúp sức mà vẫn không kham hết nổi công việc. Tôi
đang ở giai đoạn cực thịnh của người Á Châu hành nghề làm cỏ
tại Mỹ. Có được phương tiện vững vàng và cơ hội thuận lợi
trong tay, làm ra tiền không không phải là chuyện khó. Một
buổi chiều, bà cụ Kim nơi tôi ở trọ chỉ cho tôi bài báo đăng
tin tiến sĩ Nguyễn Trung Hiếu ở Chicago đang thực hiện một
chương tŕnh cao học dành cho những sinh viên Việt Nam đă có
văn bằng cử nhân tại quê nhà. Tiếng kèn thúc quân của sách
vở lại giục giă tôi xếp cơ hội làm tiền theo việc bút nghiên.
Nhu cầu tiền bạc và khát vọng trau giồi kiến thức học vấn
đều có sức mạnh réo gọi mănh liệt như nhau. Nhưng tôi chỉ
có quyền chọn một trong hai. Khi hai dĩa cân đang ở thế
quân b́nh trong tôi th́ bà xă tôi bỏ phiếu “đi học”. Được
lời như cởi tấm ḷng, tôi bỏ nghề làm cỏ đành đoạn như cô
lái đ̣ của Nguyễn Bính ngày xưa “Bỏ thuyền bỏ lái bỏ ḍng
sông. Cô lái ngày xưa đi lấy... bằng” để đi học. Nhưng
thực tế thật cay chua chứ không xuôi gịng êm ả như mộng ước.
Muốn được nhận vào chương tŕnh cao học (master – Việt Nam
ngày nay dịch là thạc sĩ), sinh viên ngoại quốc như tôi phải
có văn bằng cử nhân liên quan đến ngành học với đủ bằng
chứng học tŕnh được một cơ quan giáo dục độc lập đánh giá,
thanh sát và đề nghị. Và “ngao ngán” nhất cho tôi là phải
đạt điểm 550/600 của kỳ thi TOEFL (Test of English as a
Foreign Language) và phải thi đậu WPE (Writing Profiency
Examination). Liên tiếp trong 3 kỳ thi TOEFL, tôi chỉ đạt
tới điểm 512, 530 và 532. Lần nào cũng bị rớt đài phần
“nghe” (listening comprehension). Tôi bỗng đâm nghi ngờ lỗ
tai ḿnh thành lỗ tai sim! Lần chót, khi đă quá nản ḷng và
chuẩn bị buông tay th́ may sao tôi “qua truông”. Về món WPE
th́ tương đối đỡ gai góc hơn, tôi chỉ thi tới lần thứ hai là
“vượt thác”.
Đă bao nhiêu lần đi ḍ la qua
các trường đại học Mỹ, tôi mang tâm trạng của kẻ “ngoại đạo”,
đứng xa mà nh́n môi trường đại học uy nghi và thâm nghiêm
không mong ǵ với đến. Đến khi được vào trường, đeo cùi
sách trên lưng, tôi hoang mang không biết là ḿnh sung sướng,
cảm thấy trẻ lại để nhảy chân sáo trên những lối vào giảng
đường và thư viện như một thời trẻ dại; hay phải méo mặt v́
cục khổ cứ lè kè đeo đẳng măi bên lưng!
Dù chưa tới 40 tuổi nhưng
tôi đă tự coi ḿnh là “sinh viên râu”. Không ngờ vào trường
Sac-State, có biết bao nhiêu người râu dài hơn tôi gần cả
thế hệ. Tôi lại gặp được một người bạn học vong niên “sinh
viên râu thiệt” là cụ Nguyễn Đức Hiếu, nguyên chánh sở học
chánh Sài G̣n Gia Định ngày xưa, đă ngoài 65 tuổi râu tóc
bạc phơ, cũng đeo túi sách đi học chương tŕnh cao học như
tôi. Năm năm vừa học vừa làm, có khi phải kê sách vở lên
đùi, lên ghế xe để làm bài hay viết luận án tốt nghiệp, cuối
cùng tôi cũng ra trường với cái tiểu luận án cao học
(master thesis) dày 272 trang, nhan đề “The Impact of
Relocation on the Vietnamese Refugees in the United States”
(Tác động của sự di cư đối với người Việt Nam tỵ nạn ở Mỹ).
Tôi viết một ḿnh trong khi các sinh viên Mỹ viết chung
thành nhóm 2, 3 người cho một tiểu luận tốt nghiệp. Dù
trong hoàn cảnh c̣n bị khó khăn ít nhiều về ngôn ngữ cần hợp
tác để được giúp đỡ, tôi vẫn cảm thấy chưa thoải mái với
kiểu làm ăn hợp tác “team work” của người bản xứ. Phải
chăng đây cũng là ảnh hưởng sâu đậm phong cách “con nhà miệt
vườn”, thích riêng tư và ngại chia sẻ của Huế.
Năm 1988 ra trường, kiếm được
một công việc làm tương đối hợp khả năng, tôi yên chí là đối
với bản thân ḿnh gió đă yên, sóng đă lặng, “gác mái ngư ông
về viễn phố” để ngắm nh́n biển học mênh mông. Không ngờ
chưa tới mười năm sau, 1995, tôi lại bị “tiếng gọi sông hồ”
của sách vở trở lại một cách t́nh cờ. Con đường đại học kéo
dài 30 năm chữ nghĩa muộn màng.
Bé Quan Thư, cháu lớn của tôi,
là một thành viên rất năng nỗ trong ban chấp hành Hội Sinh
Viên Việt Nam tại trường đại học UC Davis. Vốn liếng quư
nhất của cháu c̣n lại sau những năm miệt mài ở nhà trường Mỹ
là khả năng nói tiếng Việt lưu loát. Ngày cháu chuẩn bị vào
trường Nha UCLA, hai bố con lại có dịp “luận bàn thế sự” một
cách thoải mái khi nói về mối quan hệ “cổ truyền” giữa hai
thế hệ Việt Nam già và trẻ. Thư nêu nhận xét của bạn bè
Việt Nam đồng trang lứa về việc vắng bóng một “Chiếc Cầu Thế
Hệ” giữa hai thế hệ đàn anh và thế hệ đàn em Việt Nam trên
đất Mỹ. Thế hệ đàn anh đang nh́n về quá khứ với ḷng tự
hào và nỗi uất hận quyện lấy nhau. Tuy thái độ và mức độ
phản ứng khác nhau, nhưng phần đông lớp đàn anh lớn tuổi đă
kinh qua lao tù cải tạo vẫn thường coi thân phận của ḿnh
trên đất Mỹ là thân phận lưu đày, tạm dung. Anh em nh́n về
quá khứ với nỗi u uất một “thời vang bóng”, đối diện với
thực tại là kẻ mất chân đứng trong hệ thống xă hội Hoa Kỳ và
nh́n về tương lai với một giấc mơ “quang phục quê hương” rỡ
ràng như cổ tích. Trong khi đó, thế hệ đàn em đang hội nhập
vào xă hội mới một cách tự nhiên và nhanh chóng. Sự đối
thoại giữa hai thế hệ dần dần trở thành xa cách trong lối
suy tư và hướng nh́n về mai hậu. Khi mối quan hệ chỉ c̣n là
sự lễ độ v́ truyền thống và sự vâng lời chỉ v́ giềng mối của
gia đ́nh cũng có nghĩa là chỉ c̣n độc thoại. Không có sự
chia sẻ lư tưởng, không có cơ hội để cho hai viễn ảnh về
tương lai của hai thế hệ gặp gỡ, va chạm, tác động qua lại
với nhau trên cùng một mặt bằng xă hội th́ hiện tượng “ly dị
tri thức” sẽ xảy ra. Tuy sự diễn tiến âm thầm và êm ái
nhưng sẽ xuôi gịng biền biệt, khó quay lại đầu nguồn.
Tôi đồng ư phần lớn nhận xét
của bé Thư và tuổi trẻ. Nhưng vẫn c̣n thắc mắc:
- Như vậy theo con th́ làm
thế nào để thiết lập một sự tương giao giữa hai thế hệ?
Thư trả lời như đă suy nghĩ
từ lâu lắm:
- Cần có một sự hiểu biết và
thông cảm giữa hai thế hệ của Ba và con.
Tôi gợi ư:
- Con muốn nói đến một “nhịp
cầu thế hệ”?
Bé thưa:
- Ba muốn gọi bằng danh từ
nào cũng được, nhưng tụi con đang cần có một gạch nối để cho
tụi con hiểu được thế giới của chú bác và ngược lại th́ chú
bác cũng cần hiểu tụi con đang nghĩ ǵ, muốn ǵ, làm ǵ mới
có thể hướng dẫn cho tuổi trẻ được.
Tôi hỏi lại:
- Thôi, nói chuyện nhà ḿnh
đi cho dễ. Theo con th́ ba phải làm ǵ hiểu tụi con hơn?
Bé đề nghị:
- Có rất nhiều cách,
c̣n tùy từng người và tùy hoàn cảnh ba ơi! Nhưng với ba th́
con nghĩ là ba nên đi học nữa.
Tôi ngạc nhiên:
- Nghĩa là con nghĩ
ba phải có bằng cấp cho cao mới hiểu được tuổi trẻ các con
hay sao?
Bé giải thích:
- Dạ, ư con không phải vậy.
Theo con th́ bằng cấp không phải là thước đo chính xác tŕnh
độ, khả năng và sự khôn ngoan của một người. Con chỉ muốn
nói kiến thức và bằng cấp không quan trọng bằng phương pháp
để t́m hiểu. Vạch một hướng đi mà cứ việc chỉ chỏ theo kinh
nghiệm chủ quan và thói quen th́ không rơ bằng có bản đồ
trong tay. Cho con cá không tích cực bằng cho cần câu. Bởi
vậy, sự tiến lên là sự học không ngừng...
- Ba chưa hiểu hết ư con muốn
nói ǵ?
- Nghĩa là chúng con mong ước
thế hệ của Ba đừng khư khư bảo thủ những ǵ đang có mà cần
mở rộng cánh cửa tri thức để bảo tồn cái cũ thật sự có giá
trị và đón nhận cái mới thật sự đang cần. Thời nay, muốn
tránh được cái bệnh chủ quan và bảo thủ th́ phải học thôi ba
ơi!
Tôi thương con và hiểu tấm
ḷng của các cháu. Thời đại điện tử, kiến thức của nhân loại
tăng gấp đôi trong mỗi mười năm. Nhưng rất khác với người
Âu Mỹ, phần đông phụ huynh Việt Nam lo làm việc quần quật và
quan tâm nuôi con khôn lớn bằng cơm áo và vật chất. Ít bậc
phụ huynh dành nhiều th́ giờ chăm lo con cái bằng cách gần
gũi, chia sẻ và tâm sự với chúng.
Thư lại khẩn khoản đề nghị:
- Ba ơi! Sao ba không học
tiếp chương tŕnh Ph. D ba hè. Tụi con học theo ngành của
tụi con, ba học theo ngành của ba, rồi bốn năm nữa, cả 3 cha
con ra trường một lần cho vui.
Nghe đến chuyện học hành, phụ
huynh nào mà không hứng chí theo con. Tôi hăng hái “ngoéo
tay” con mà quên soi gương để nh́n tuổi già của ḿnh đang
đến:
- Ừ, học th́ học.
Giải thưởng đầy hứa hẹn cho
cuộc chạy đua “phụ tử” nầy là một chiếc xe mới, “pháp bất vị
thân”. Điều kiện là ai xong văn bằng doctor trước th́ người
thua cuộc phải mua cho một chiếc xe mới.
Thật khó ḷng cho một người
cha giơ tay đầu hàng con cái để nhận ḿnh thua cuộc. Ngày
bé Thư ra trường nha và bé Trinh ra trường thuốc, cả hai đứa
đều đă tỏ ra “hảo hớn đại chí hiếu” là không bắt bí tôi
phải thi hành đúng hiệp ước mua xe mà chỉ cho tôi một chiến
thuật rút quân trong danh dự là:
- Ba ơi, Ba đừng lo. Tụi con
cho ba mắc nợ hai chiếc xe đó!
Tôi cười giả lả:
- Ừ, để mai mốt về làng, ba
mua cho mỗi đứa một chiếc xe phở là xong nợ! (Xe đạp nước
vào ruộng)
Tụi nhỏ thương bố già, nheo
mắt cười thông cảm.
Tôi đang ở nửa đường và cuộc
thi kéo dài bốn, năm năm đă qua. Tụi nhỏ đă bóp c̣i qua
mặt. Thuốc súng thời thượng x́ hơi nên chiếc pháo bay chữ
nghĩa sách đèn không c̣n gia tốc. Tôi mệt mỏi, mấy lần muốn
bỏ học nhưng bà xă tôi đă “nhanh tay” trả tiền trước cho
chương tŕnh học quá nhiều. Nếu tôi tự động rút lui, ngân
khoản nộp rồi sẽ không được bồi hoàn trở lại. Cho nên, động
cơ c̣n lại làm cho tôi phải rán học, nếu nói ra th́ hơi “ốt
dột”, nhưng dấu kín lại sợ bạn hiền hiểu lầm một cách oan
uổng là tôi ham học hơn ham chơi. Đó là việc tôi phải anh
dũng tiến lên trên con đường học vấn v́… “tiếc tiền”! Đă
vậy th́ vầy, nhưng có hơi khác Tú Xương ngày xưa: “Tấp tểnh
người đi tớ cũng đi. Cũng lều cũng chỏng cũng vô thi…” v́
tôi không ở vùng trường thi Nam Định mà khổ nỗi là đang ở
Mỹ. Và cái dở nhất của đất nước nầy là lối sống rất “hiện
sinh”, rất “thiền” mà không thiền ǵ cả. Nghĩa là làm th́ ra
làm, chơi th́ ra chơi, lơi khơi th́ “homeless” (vô gia cư).
Chữ nghĩa muộn màng, nhưng lại không thể “homeless” trong
kiến thức và tư tưởng nên phải ra roi thúc ngựa tiếp tục lên
đàng tầm sư học đạo…
Ai cũng biết rằng, “linh hồn”
của mảnh bằng tiến sĩ nằm ở giá trị của luận án. Cũng là
ṇi tập tểnh bước vào trường văn bút, bên cạnh sự thôi thúc
cần phải học cho xong một chương tŕnh đă kéo dài trên 5
năm, tôi c̣n ôm thêm hoài băo là phải viết một luận án “để
đời” như bao nhiêu người trong cùng một hoàn cảnh như tôi.
Có một mùa Hè, tôi gác lại
chuyến về thăm Việt Nam, dành th́ giờ và chút đỉnh tiền bạc
dự chi cho chuyến đi để đi t́m “luận án minh sư”. Tôi t́m
đọc và học hỏi cho được một số luận án tiến sĩ của giới đàn
anh, đàn chị như của Nguyễn Văn Trung, Thích Minh Châu, Thái
Kim Lan, Thái Văn Kiểm, Cao Huy Thuần, Nguyễn Trung Hiếu, Lê
Thành Trung... Tôi cũng chịu khó đi vào thư viện của các
trường đại học lớn quanh vùng tôi đang ở như UC Davis,
Berkeley, Standford, UC San Francisco để truy t́m những luận
án trong lănh vực khoa học nhân văn mang họ Nguyễn, Trần,
Phan, Lê... Việt Nam ta để tham khảo. Nh́n chung, các luận
án mà tôi t́m đến dài ngắn trung b́nh từ 200 đến 400 trang.
Ngoại trừ một số rất ít tác giả có sức bật đầy sáng tạo và
tinh thần khai phá t́m cái mới, phần đông các luận án mang
tinh thần “tập đại thành” nghĩa là chịu khó đào bới kho kiến
thức đă có sẵn đây đó trong lĩnh vực chuyên biệt nào đó, rồi
chắt lọc, phân tích và hệ thống hóa làm cơ sở cho luận án
chuyên đề của ḿnh. Mỗi người một vẻ, tuy không thất vọng,
nhưng cũng chẳng “đă khát” như mong ước, tôi trở về đối
diện với “thằng tôi” của ḿnh.
Giáo sư bảo trợ luận án của tôi là Dr. Roy
Sumpter. Tôi bái sư nhập môn ra mắt thầy rất đúng bài bản
của môn phái học sĩ.
Tôi chọn
đề tài “The Impact of the Vietnam War and Its Aftermath on
the Vietnamese Refugees’ Adjustment in the United States” (Tác
Động của Chiến Tranh Việt Nam và Hệ Quả của Nó Đối Với Sự
Hội Nhập của Người Việt tại Hoa Kỳ). Tôi ra mắt chưởng môn
Sumpter với một “Concept Paper” dài 37 trang. Chưởng môn
bèn huơ đại đao thị uy phán rằng: “Cái đề của tiểu sanh dài
quá, rút lại c̣n 5, 7 chữ thôi và Concept Paper cũng dài lê
thê, rút lại c̣n 3 trang!” Bầu kinh luân đang sôi bị nguội
điện, tôi trở về đổi lại đề tài cho luận án là “The Vietnam
War and Its Psychological Aftermath” và dùng bảo kiếm cắt
xén 37 trang kinh sử thành 3 trang. Tới hiệp hai, chưởng
môn lại cho rằng cái đề có vẻ “trời biển” mênh mông quá cần
thu hẹp lại cho cụ thể hơn và thầy phán “O.K” về phần
Concept Paper nhưng cần phải khai triển ra thành 15 trang.
Rồi đến 2 chương 1 và 2
(Problem statement và Review Relevant Literature) sư phụ lại
phê là có vẻ “văn chương ướt át” con nhà văn quá, cần phải
viết lại cho nó đúng cái phong cách con nhà “nghiên cứu” một
chút. Qua nhiều giai đoạn bế môn luyện công, tham vọng viết
một tác phẩm luận án để đời bị mài dũa các góc cạnh cho đến
hồi nhẵn bóng. Trong tôi chỉ c̣n lại một nhu cầu viết lách
là làm sao viết cho đủ chữ không thừa không thiếu để khỏi bị
cho luyện vơ dài dài và được hội đồng thông qua mà ra trường
cũng đă là quư hóa lắm rồi. Bây giờ tôi mới hiểu lư do v́
sao các người đàn anh, đàn chị của tôi đi trước, tài năng là
thế mà phải tạm xếp cung thương, múa quyền “tập đại thành”
để vừa đủ ra trường, khỏi kéo dài lê thê những tháng ngày
miệt mài tham khảo.
Ngày bảo vệ luận án trước
Hội Đồng giám khảo đại học Southern California có các con
bên cạnh, tôi cảm thấy ḷng lâng lâng hạnh phúc. Niềm hạnh
phúc của con tàu về bến sau những chuyến hải hành bị dập vùi
quá nhiều sóng gió nhưng vẫn kiên tŕ không đổi hướng. Tôi
không được may mắn như thế hệ con cháu của ḿnh hay như tầng
lớp sinh viên du học đi thẳng trên đường học vấn, yên tâm
trong ṿng tay của gia đ́nh và giữa cảnh thanh b́nh của xă
hội và đất nước. Mỗi mảnh bằng tôi đến và dừng lại cách
nhau cả mươi, mười lăm năm. Đó là những mảnh bằng đầy dấu
ấn gió bụi từ đời sống, suy tư và lịch sử thăng trầm của đất
nước mà tôi đă đi qua.
Dăm mảnh bằng gió bụi với chữ
nghĩa t́nh cờ, sách vở muộn màng chẳng có ǵ đáng nói. Có
chăng một chút âm hưởng th́ đó là một điều tự t́nh nho nhỏ:
Ra đi có thể quá sớm hay muộn màng, nhưng sự t́m đến và vươn
lên t́m một dáng vẻ đáng yêu cho tâm hồn và tri thức thường
không bao giờ quá muộn.
trở về
CON YÊU BÁNH NẬM
trở về tập
truyện
|