|


ĐÁNH S̉
Vượt biên
Trong đêm vắng lúc nửa khuya
về sáng vùng quê chuyên nghề đánh cá vùng duyên hải thường
thức dậy theo tiếng xành xạch của máy dầu cặn đưa tàu ra
khơi. Vùng biển Hải Nhuận chỉ có băi ngang nên tất cả
thuyền đánh cá phải kéo lên băi cát ban đêm. V́ vậy, chỉ có
thuyền nhẹ, đan bằng tre là thông dụng nhất.
Tiếng máy nổ từ xa vọng lại
làm cho những người suốt đêm chờ đợi giờ xuất phát vội vă
kéo nhau, đẩy nhau trong im lặng để chạy nhào ra phía biển
trong đêm tối. Chỉ cần một tiếng khóc trẻ thơ vang lên
trong giờ phút nầy là hỏng chuyện. Thế giới dày đặc bóng
tối xung quanh vừa che chở, vừa đe dọa, nhưng chắc chắn là
không khoan thứ cho bất cứ loại âm thanh nào gây tiếng động
trong khoảnh khắc quyết định nầy. Thế mà vẫn nghe tiếng
chân chạy lạo xạo trên băi cát qua đồi thông, tiếng thở hổn
hển và tiếng th́ thào hỏi nhau có đủ thằng Cu, con Bé... hay
không. Chạy qua hết đồi thông, băi cát trống trước mặt và
ánh lân tinh của biển để lộ bóng đen của đoàn người vừa đi,
vừa ḅ, vừa chạy... trong dáng vẻ khẩn cấp. Chiếc ghe được
kéo chuồi xuống nước bằng tất cả năng lực b́nh sinh của
những người nhập cuộc. Sóng biển nhồi chiếc ghe lúc nâng
lên quá tầm tay với, lúc hạ xuống chạm mặt cát. Mọi sức lực
thể chất và tinh thần cuồn cuộn xoáy vào níu kéo đoàn người
nhào lên ghe bất cứ bằng tư thế nào: Nhảy lên, ném vào,
trườn tới, dúi xuống, đẩy lên từ phía đầu, phía chân, phía
bụng... miễn sao tất cả đều phải lên ghe nhanh như chớp mắt.
Máy rộ lên từng hồi và chiếc ghe mỏng manh cũng rung lên
chuyển ḿnh hướng mũi ra khơi. Cảm giác “vượt biên” táo bạo,
liều lĩnh, mới mẻ và đầy sợ hăi đến mức làm cho mọi người
lạc cả giọng nói, nén cả hơi thở, tán lọan cảm nhận trong
những phút bản năng sinh tồn ngự lên làm chủ. Khi ghe đă
vượt ra ngoài tầm súng và nh́n lại phía sau không có dấu
hiệu nào có người đuổi theo, Thụ và Minh mới cho ghe chậm
lại, ghé tạt đến mấy ghe người làng đang bủa cá ngoài khơi
để xin thêm thức ăn và dầu. Vài thanh niên trong làng đang
đánh cá dợm nhảy qua ghe chúng tôi xin đi theo, nhưng chiếc
ghe mành đă quá tải không c̣n chỗ.
Chiếc ghe nhỏ vẫn trườn ḿnh
đi tới. Năm lần bảy lượt Thọ, Thụ và Châu là những anh em
có kinh nghiệm đi biển, quay ngang quay dọc mũi ghe để chạy
kiểu “chém sóng” chứ không chạy song song theo lườn sóng, dễ
làm cho ghe bị sóng vồ.
Từ băi biển Hải Nhuận của quê
hương Thừa Thiên, trên chiếc ghe nan đánh cá đan bằng tre,
trét dầu rái, chạy bằng chiếc máy F.10 cũ, đen ś, nhỏ xíu
ra khơi trong gió cấp 5. Hai người quyết định lên ghe một
ḿnh vào phút cuối là Chót và Châu. Trong số hai chục người
chen chúc trên ghe th́ đă có 13 người là đàn bà và con nít.
Nơi thấp nhất của thành ghe cách mặt nước biển chỉ suưt soát
một gang tay. Một con sóng nhỏ cũng đủ tung bọt nước ướt
phủ lên đầu. Khi b́nh minh đầu tiên ngự lên mặt biển cũng là
khi sự thử thách giữa biển và người tràn tới. Ghe mới ra
khơi, dăy Trường Sơn nổi rơ trên khung trời phía Tây rạng
đông chưa khuất tầm mắt mà cả đoàn người đă say sóng nôn mửa
“tập thể” cho đến khi xuôi tay nằm im bất động. Tôi là
người bị nôn mửa đầu tiên nhưng chỉ mấy phút sau th́ đứng
vững lại được và “hoà thuận” với biển khơi trong suốt cuộc
hải hành.
Ghe càng đi xa. màu xanh của
biển càng đậm dần cho đến khi trở thành tím thẩm mà theo
kinh nghiệm của những người anh em đi biển là đă vào độ sâu
chừng 50 săi nước. Chiếc ghe nan và đoàn người ly hương
trên biển cả ch́m khuất trong khói sóng. Gió Nam cấp 5 vẫn
không ngừng thổi. Theo triền sóng uốn lượn, chiếc ghe có
lúc như được đưa lên đỉnh trời; lúc lại bị kéo xuống tận hố
sâu giữa hai ngọn sóng. Ban ngày biển vật vă với nắng và
ban đêm biển tỉ tê với bóng đêm. Đêm đại đương thật là
huyền diệu. Biển nước là cả một khối lân tinh khổng lồ
tranh sống với đêm đen. Tôi vẫn giữ nguyên vị trí ở mũi
thuyền với chiếc hải bàn chỉ 45 độ rưỡi hướng Đông Bắc.
Sóng liên tục đập vào mũi và mạn ghe rần rật. Giữa vùng
trời nước không bến bờ, số phận chiếc ghe và đ̣an người mỏng
manh như một con kiến nhỏ ḅ giữa khu rừng khuya dày đặc
mênh mông. Mới một ngày và một đêm, sự réo gọi của cái đói
và cái khát chưa thắng được sự kêu đ̣i khẩn thiết của sự
sống. Nhịp nổ đều đều của cái máy dầu cặn đen ś trở thành
nhịp đập của 20 trái tim chưa định hướng giữa hai đầu sống
chết.
Đă có một hoàng hôn
th́ phải có một b́nh minh, nên dẫu sao đi nữa th́ những đôi
mắt đă vàng v́ khát đói vẫn hé ra cho b́nh minh trôi vào.
B́nh minh xanh của biển khơi là liều thuốc an thần quư báu
nhất cho những người vượt biển. Và liều thuốc an thần bỗng
trở thành thuốc tiên của sự sống khi một chấm núi xanh hiện
ra ở chân trời. Từ chấm núi cho đến khi hiện ra thành trái
núi phải mất cả nửa ngày xả máy ghe chạy hết tốc lực. Rừng
thông xanh ngút mắt hiện rơ dần.
Chúng tôi đến được
một bờ cát hoang vắng trên đảo Hải Nam Trung Hoa. Cơn khát
lă người và bến bờ hiện thực bày ra trước mắt. Nước... nước
là thánh, là tiên, là đấng toàn năng cứu rỗi trong phút
nầy. Tôi nhào lăn trên băi cát như gieo ḿnh vào một bàn
tay đầy ân sủng trước khi cố lê bước băng qua đồi cát vào
khu dân cư. Chúng tôi đi vào một khu nhà ở có đồng lúa bao
quanh. Tôi chui vào một cái nhà tranh, một cái cḥi th́
đúng hơn, gần nhất. Không có một bóng người. Kho báu đầu
tiên mà tôi t́m là lu nước uống. Nước trong nhưng lại đầy
cung quăng. Không một mảy may do dự, tôi bụm tay làm gáo
nốc từng hơi dài. Không ngờ những sinh vật hy sinh đầu tiên
trong đợt xâm lăng Trung Quốc của dân vượt biển như tôi là
bầy cung quăng vô tội. Tỉnh táo một chút, tôi đi quanh
những nhà kế bên. Vẫn không có một bóng người. Tất cả đều
là những ngôi nhà tranh phên đất diện tích gần giống nhau.
Thật ra, đó là những cái cḥi lá sơ sài, lớn bằng khoảng cái
buồng con của một ngôi nhà nghèo ở Việt Nam. Uống no nê,
tôi hái mấy ngọn lá bảng lớn mà không biết tên là lá ǵ để
làm đồ dùng đựng “nước cung quăng” bới về cho bà xă tôi, mấy
cô em và các cháu nhỏ đang đợi ngoài băi biển. Khi vừa đến
nơi, tôi đă nghe tiếng xí xố của một đám người Tàu bản xứ
đang chỉ chỏ. Một vài người có mang súng và phần đông cầm
gậy. Tôi bước vào, cố thử lên giây đàn nói vài câu tiếng
Anh và vài câu tiếng Tàu “Quảng Tùng Hỏa” mới học trước khi
ra đi nhưng cũng chẳng có ai hiểu tôi nói ǵ. Bí quá tôi
ngồi xuống băi cát và viết bằng chữ Hán: “Ngă tự Việt Nam
lai. Ngă dục đáo Hương Cảng!” (Tôi từ Việt Nam sang. Tôi
muốn đến Hồng Kông). Mừng quá, có vài người gật đầu ra vẻ
hiểu. Một người viết lại trên cát trả lời. Có lẽ tưởng lầm
tôi giỏi chữ Tàu nên anh ta viết loáy ngoáy tràng giang đại
hải như viết sớ. Bốn năm học chữ Hán với cha Thích, cụ
Tường, cụ Hoàng ở đại học văn khoa và sư phạm Huế bỏ đi đâu
khuất núi, tôi đọc một chữ được theo sau năm bảy chữ mất nên
chẳng hiểu anh ta nói ǵ. Bất chấp phe chủ có hiểu hay
không, tôi cứ kiên tŕ viết trên băi cát xin nước, xin cơm.
Lại có người hiểu. Nhưng không biết hiểu cách nào mà họ lại
bắt tất cả chúng tôi ngồi thành một ṿng tṛn trên băi cát,
không được ra khỏi ṿng, trong khi những người khác cầm súng
và gậy đứng gác.
Hằng giờ như thế
trôi qua một cách căng thẳng, chẳng ai nói, ai hiểu. Tôi
đánh liều viết nhiều lần trên băi cát: “Ngă thức ngôn Anh
ngữ” (Tôi biết nói tiếng Anh). Vài người gật đầu và chỉ một
tay vào miệng, tay kia chỉ vào phía trong làng. Tôi đoán là
họ muốn nói rằng, trong kia cũng có người nói tiếng Anh.
Đợi đến khoảng mấy tiếng đồng hồ, có một người độ tuổi trung
niên từ trong làng đi ra với một nhóm người bên cạnh, tiến
về phía tôi và chào bằng tiếng Anh: “Hello, my friend, how
are you? I am Xi Yang...” Tôi chào hỏi trở lại và cuộc
tiếp xúc bắt đầu. Giữa một vùng quê xa xôi như đảo hoang,
lại có hai người từ hai nước xa lạ nói với nhau bằng một thứ
tiếng của nước thứ ba, tự nhiên một cảm giác thân thiện và
gần gũi đến với chúng tôi. Xi Yang cho biết rằng, đây là
một vùng cực Nam của đảo Hải Nam. Người dân hầu hết từ
những vùng quá đông dân về đây lập nghiệp, sống về nghề nông
và nghề đánh cá biển. Theo luật lệ địa phương trên đảo, khi
có người lạ xâm nhập, việc đầu tiên là họ bắt giam chúng tôi
để chờ chính quyền đảo Hải Nam giải quyết. Nhưng Xi Yang đă
mở cờ cho chúng tôi khi anh ta nói rằng, anh là một trong 3
người lănh đạo cao nhất của vùng nầy. Xi nói là chính anh
ta đă ra lệnh cho lực lượng Hồng quân Tự vệ địa phương cử
người bảo vệ và kiếm đồ ăn cho chúng tôi. Ngay sau đó Xi
cũng cho biết là chúng tôi được tự do đưa thuyền trở lại ra
khơi đi đâu tùy ư. Nhưng anh ta cũng khuyên rằng dọc bờ
biển Trung Hoa, vào thời điểm tháng bảy băo tố thường nổi
lên rất bất thường. Theo anh th́ muốn đến Hồng Kông, chúng
tôi không nên đi thẳng mà nên đi cặp theo bờ biển Đảo Hải
Nam, tới Ma Cao rồi sang Hồng Kông sẽ ít nguy hiểm hơn.
Không lâu sau khi
nói chuyện với Xi Yang, một toán thanh niên gánh đến một nồi
cháo và một thùng nước uống cho chúng tôi. Thùng thức ăn là
một loại cháo đặc không giống với bất cứ lọai cháo Việt Nam
nào mà tôi biết. Người làng đến xem chúng tôi mỗi lúc một
đông. Một đặc tính chúng của người dân Hải Nam ở vùng nầy
là họ rất nghèo. Dường như ai cũng mặc quần áo vá nhưng lại
khá sạch sẽ. Sau bữa ăn, mọi người nh́n chúng tôi có vẻ ái
ngại khi “đoàn người vượt biển Đông” chúng tôi gần một nửa
là trẻ thơ, chuẩn bị ra khơi trong sóng nước mang hơi lạnh
của buổi xế chiều. Tôi là người cuối cùng cung tay, cúi đầu
chào cảm ơn những người dân làng đang đứng quanh trên băi
biển. Trước khi nhảy lên ghe, thật bất ngờ, có hai ông bà
cụ già, áo vải lam vá chằng chịt tiến tới nắm tay tôi và đặt
vào ḷng tay tôi một đồng tiền giấy Trung Quốc vo tṛn với
dáng vẻ e dè và sợ sệt như lo ngại bị những người cầm súng
bắt gặp. Cả hai ông bà cụ nói với tôi những ǵ tôi không
hiểu, nhưng nh́n vẻ mặt đầy t́nh cảm của họ, tôi đoán có lẽ
là lời dặn ḍ hay chúc lành đừng bị vùi xác ở biển Đông.
Với đồng tiền giấy nầy, khi đến một thành phố cạnh biển trên
đường đi Ma Cao tôi mua được khoảng chục trái táo tươi. Cắn
trái táo mọng nước trong cơn khát lịm người, tôi lại nhớ đến
những chiếc áo vá chằn vá đụp của hai cụ già nhân hậu mà cảm
thấy bồi hồi xúc động...
Men theo bờ biển
đảo Hải Nam, ngày đi đêm nghỉ. Nước biển dội thường xuyên
ướt sủng từ đầu đến chân để chống cái nắng chóa mắt ban ngày
trên đại dương và chôn kín ḿnh trong cát chỉ chừa cái đầu
để thở làm tấm chăn chống lạnh về đêm.
Biển Đông Nam Trung Hoa chuẩn
bị vào Thu có những nơi đẹp lạ lùng như tranh vẽ. Những đảo
nhỏ ngoài khơi với vách đá dựng trời cao vút và những gốc
lăo bách, lăo tùng tuổi thọ không biết mấy trăm hay ngh́n
năm, có cành và rễ nổi đồi mồi với sương tuyết, uốn cong
queo khúc ch́m khúc nổi ẩn hiện trong khe đá và mây núi lưng
trời. Vẻ đẹp thiên nhiên thoáng qua như một sự hứa hẹn
không đủ làm giảm bớt nỗi ưu tư và lo lắng về một tương lai
bấp bênh trước mặt.
Có một đêm tối trời, t́m băi
hoang để ghé vào không có, sóng to gió lớn ập đến, chúng tôi
t́m ánh đèn hiện ra mơ hồ sau màn mưa để tới. Vào được bờ,
chúng tôi sắp bước lên băi cát th́ đă có người mang súng ống
ập đến. Ngôn ngữ bất đồng ú ớ với nhau, những người mang
súng chĩa mũi súng về phía chúng tôi, lên c̣ súng lách cách,
giọng nói oang oang không hiểu nói ǵ nhưng âm vang đầy
quyết liệt và đe dọa. Hoảng quá, chúng tôi níu nhau ngồi im
thin thít trên ghe mặc cho mưa to gió lớn xối xả dội lên
ḿnh. Bỗng cả đoàn người trên bờ tiến lại, nắm chặt thành
ghe và hè nhau đẩy ngược chúng tôi ra khơi trong đêm tối đen
như mực. Nước chảy xiết, sấm chớp và gió giật liên hồi,
chiếc ghe nan đan bằng tre kêu răng rắc như muốn vỡ làm
đôi. Cố gắng cuối cùng của những người c̣n tỉnh trí trên
ghe là cầu nguyện, phó mặc cho ghe trôi, nước trôi, thời
gian trôi. B́nh minh sau cơn băo đẹp quá. Biển lặng như hồ
gương. Nh́n nắng mai điểm sao trên nước và bàng hoàng nh́n
nhau, chúng tôi có cảm giác lạ lùng và tự hỏi không biết đêm
qua làm sao ḿnh vẫn c̣n sống sót.
Cứ mỗi ngày qua là chúng tôi
nhích thêm một bước gần với hy vọng. Hy vọng trong tầm tay
nên mọi sự gian nan chỉ c̣n là những bài toán dù có hắc búa
đến mấy th́ cũng đă có câu trả lời in cuối sách. Ma Cao c̣n
cách 5 ngày đi biển, rồi 3 ngày, 1 ngày và cuối cùng chúng
tôi vào vịnh Ma Cao. Tôi nhớ một câu nào đó của Longfellow:
“The refugee is the refused” (Tỵ nạn là tỵ mặt). Cảnh sát
Ma Cao “tỵ mặt” chúng tôi không cho lên bờ và bắt ngồi im
trên ghe cho đến sáng hôm sau. Mỗi người được phát một hộp
cơm và thức ăn mang hương vị... rất Tàu.
Sáng sớm hôm sau, chiếc ghe
nan mỏng manh của chúng tôi được tàu tuần tiểu tốc hành của
cảnh sát Ma Cao móc xích sắt kéo ra khỏi vịnh Ma Cao. Tàu
trước cách chừng vài chục thước xả hết tốc lực kéo ghe chúng
tôi theo sau. Cũng chiếc ghe nan bằng tre phong trần đó
chạy theo đà tàu trước với một tốc độ như muốn bay cả ghe
lẫn người trên mặt biển. Cuối cùng đến hải phận Hồng Kông,
tàu tuần tiểu Ma Cao cắt dây kéo và quay về. Ngồi trên ghe
chờ cho đến khi tàu Hải Quân Hồng Kông t́m thấy đến dẫn
chúng tôi lên chiếc phà nổi đậu ngoài khơi.
Ngay sau khi được “tiếp nhận”
vào vùng biển Hồng Kông, mỗi người chỉ c̣n một bộ áo quần
trên ḿnh, riêng tôi th́ chỉ c̣n cái quần đùi và cái lưng
trần bị nắng đốt cháy đen, da vỡ ra từng mảng. Ngót cả
chục ngày đêm mang nguyên một cái áo vải cứ liên tục ướt đẫm
nước biển rồi khô với nắng gió, những lớp muối chồng lên
nhau “đúc” cái áo của tôi thành một lớp dày cộm như mo cau.
Áo đóng muối sắc cạnh cọ vào lưng đă tróc cả da non v́ nắng
đốt nhức buốt chịu không nổi, tôi phải ở trần chịu trận.
Đàn ông, đàn bà, trẻ con đều
bị cảnh sát Hồng Công đẩy như lùa vịt lên chiếc phà nổi neo
tận ngoài khơi xa khuất. Tất cả ghe tàu, hành lư, đồ đạc
mang theo đều bị tàu kéo của hải quân Hồng Kông nhận ch́m
xuống biển ngay trước mắt chủ nhân. Không ít người đă quay
quắt trong lặng câm hay hoảng loạn một cách tuyệt vọng v́
tất cả của cải, tài sản kếch sù của họ mang theo cất dấu
dưới hầm tàu chỉ trong mấy phút phù du đă mất dấu hoàn toàn
trên mặt biển xanh.
Lắc lư váng vất trên chiếc
phà nổi làm nơi tạm trú cho những người vượt biển đến mấy
ngày, chúng tôi được tàu hải quân Hồng Kông đưa “về bến”!
Trại cấm
- Chẩu lơ! Chẩu lơ! (Đi đi!
Đi lẹ đi!)
Cứ sau mỗi tiếng “Chẩu lơ”
của viên cảnh sát Hồng Kông, một “thuyền nhân” lại theo
hướng vừa chỉ vừa đẩy theo cái đùi ma trắc rời khỏi cầu tàu
xếp vào hàng một bước lên bờ. Cánh cửa thép của trại tù
Chi-Ma-Wan (Chi Mà Oán) giương mắt lạnh lùng nh́n ra biển,
miễn cưởng tiếp nhận đoàn người “tỵ nạn” bước đi câm nín và
sợ hăi. Những giờ phút vật lộn quyết liệt với sóng gió,
chịu đựng ngọn nắng cháy da ban ngày và cái lạnh buốt xương
ban đêm đă làm cho nỗi xôn xao ban đầu thành im lặng như
biển khơi. Có một niềm hy vọng mới đang mọc mầm, đó là sự
nhận biết ḿnh c̣n hiện hữu dưới ánh sáng mặt trời, trong
vùng một đất xa lạ, với một chuổi ngày thử thách đang chờ.
Sự thử thách đầu
tiên là ngay khi chiếc ghe nan tơi tả của chúng tôi cặp vào
tàu Hải Quân Hồng Kông, một tấm biển thông báo viết bằng hai
thứ chữ Anh và Hoa được trưng ra ngay trên bong tàu. Thông
báo với lời lẽ khắt khe và nội dung đầy dọa dẫm: “Sau ngày
2-7-1982, các trại nhận người tỵ nạn của Liên Hiệp Quốc tại
Hồng Kông đóng cửa. V́ vậy, chính quyền Hồng Kông khuyến
khích các thuyền nhân t́m một nơi khác để đi, nhiên liệu và
thức ăn sẽ được cung cấp. Nếu không, sẽ bị giam vào các
trại cấm (closed camps) và rất có thể sẽ không có cơ hội
định cư ở một nước thứ ba.” Biết đi đâu nữa? Nếu tiếp tục
đi th́ có lẽ chỉ c̣n một con đường san hô dưới đáy biển!
Không c̣n sự chọn lựa nào khác là chọn lựa sự sống, bằng
ḷng kư giấy đi vào trại cấm.
Đến lượt thuyền
1789, người nữ cảnh sát gọi bằng tiếng Anh lơ lớ giọng Tàu:
- Cáp chên!
(Captain: thuyền trưởng)
Tôi tách ra khỏi
hàng và ra mắt người cảnh sát. Người thông dịch Tàu – Việt
nói tiếng Việt theo giọng Tàu Chợ Lớn:
- Nị nói tiếng Huê Kỳ “xịn”
th́ nói với “cô lường” đi!
Tôi thay mặt anh em trên ghe
đọc và kư vào bản nội quy. Liếc nh́n trên góc tờ giấy tôi
thấy, vẫn c̣n nguyên hàng chữ “ Chimawan Prison” (Nhà tù
Chimawan) vừa được gạch ngang tạm thời để thay vào đó một
tên gọi khác “Chimawan Closed Camp” (Trại Cấm Chimawan).
Hơn 100 người chen chúc trong
căn pḥng dài đúc bằng bê tông dày cộm ba mặt bốn bề như cái
hộp, có giường ngủ 3 tầng và lác đác vài ba cái cửa sổ chỉ
lớn bằng hai bàn tay cao tận trên nóc. Mọi kiểu cười của
nhân gian dường như đă bị lăng quên trên môi của những người
cảnh sát nhà tù từ lâu lắm. Cảm giác khô cứng chỉ thỉnh
thoảng mềm lại với tiếng khóc của trẻ thơ. Họ đếm đầu người
một cách vô cảm như đếm mớ vỏ nghêu ṣ nhặt đâu đó từ ngoài
băi biển.
Người thông dịch nói như hét:
- Ai biết tiếng?
Không có tiếng trả lời. Anh
ta quay qua nói líu lo tiếng Tàu với người cảnh sát rồi quay
lại “thông dịch” với cái giọng tạp-pí-lù Chợ Lớn:
- Mậu xức coỏn. Mậu hẩu! Hổng
piết nói tiếng Tàu là hổng tốt!
Một cảm giác sờ sợ cùng với
tâm lư muốn yên thân làm mọi người vẫn im thin thít. Tôi
nghe như chuyện ai nói với ai, xa lạ, chẳng dính líu ǵ tới
ḿnh. Đầu óc đặc quánh, thèm một miếng ǵ để ăn và thèm một
chỗ kê lưng nằm ngủ.
Tất cả đều ngỡ
ngàng khi nghe tiếng xích sắt khóa kín hai cánh cửa duy nhất
của căn pḥng.
Cái giá của tự do thường phải
trả khi đă mất tự do thường thật đắt!
Tôi đang nằm lơ mơ bỗng
choàng tĩnh dậy khi có cây gậy ngang ngược nào đó gơ vào vai.
Đứng đó, trước mắt tôi, là một nữ trung úy cảnh sát người
Tàu mang sắc phục cảnh sát Anh với bảng hiệu tên “Chan”. Cô
ta nói tiếng Anh, giọng Tàu đặc sệt:
- Ê! Mầy nói được tiếng Anh
th́ làm trưởng pḥng.
Tôi lúng túng hỏi lại:
- Tôi có thể làm ǵ với nhiệm
vụ của một trưởng pḥng?
Cô ta trả lời như đấng tối
cao ban lệnh, tôi nghe tiếng được tiếng mất. Đại khái như
“giúp” những người trong pḥng đừng phóng uế bậy bạ, kêu
cảnh sát khi có người chửi lộn hay uưnh nhau, ngăn không cho
con nít hay người lớn ở truồng đi loanh quanh trong pḥng...
và những nhiệm vụ linh tinh nào đó mà tôi cũng không rơ cụ
thể phải làm ra sao. Măi đến về sau này, tôi mới học được
từ hiện trường công tác rằng, quyền uy lẫm liệt và vinh
quang nhất của một gă trưởng pḥng như tôi là khỏi bị “xính
xáng” (nam cảnh sát) hay “cu lường” (nữ cảnh sát) đá giày
vào ống quyển nếu lỡ trong giờ điểm danh mà c̣n đi loạng
quạng, chưa kịp ngồi co gị trên cái giường ba tầng chờ đếm
số!
Nam Bắc
Vào trại cấm được hai hôm,
một buổi sớm tôi nghe có phái đoàn Cứu Thế Quân (Salvation
Army) và ông “Mỹ Mập” từ đất liền ra đảo thăm trại. Tôi
gặp ông Mỹ Mập ngoài sân trại và đánh liều đến “bắt quàng”
chào hỏi. Đó là ông Sheldon Crutchfield, một nhà hoạt động
từ thiện Mỹ đă nhiều năm giúp các trại tỵ nạn người Việt ở
Hồng Kông. Mới trao đổi vài ba câu chuyện nhỏ, ông “mướn”
tôi làm thầy giáo dạy tiếng Anh trong trại mà không cần điều
kiện ǵ cả. Tôi bằng ḷng, nhưng nói với ông ta rằng, tôi
chỉ có độc nhất cái quần đùi th́ làm sao mà lên lớp cho được.
Ông ta nói không sao, cứ ở trần mặc quần xà lỏn lên lớp dạy
tạm một tuần rồi ông ta sẽ trở lại mang áo quần và giày dép
đến cho. V́ chưa hề nghe giáo sư nào xưa nay có tâm hồn
nghệ sĩ đến mức ở trần mặc quần đùi lên lớp dạy học tṛ, nên
tôi nói với ông ta là tuần sau sẽ bắt đầu dạy, nhưng ông ta
nói là muốn tôi bắt đầu ngay vào ngày mai. V́ quá cần nhờ
ông ta gởi một điện tín về Việt Nam báo tin là chúng tôi đă
đến Hồng Kông an toàn cho mẹ tôi và đại gia đ́nh bên đó khỏi
nóng ḷng nên tôi không c̣n sự chọn lựa nào khác hơn là phải
chấp nhận lên lớp không áo quần (thích hợp).
Hôm sau, sau bữa ăn sáng, nhà
ăn tập thể của toàn trại biến thành lớp học Anh Văn. Gần
giờ lên lớp, nh́n lại cái quần đùi của tôi đă bị nắng gió
biển Đông cọ xát thành mỏng manh đến độ... đáng ái ngại, nên
mượn tạm cái áo của một người trong pḥng để mặc vào. V́
hầu như mọi người đều chung cảnh ngộ là “một quần, một áo,
một... ḿnh ên” nên tôi không thể mượn quần của ai được.
Lớp học Anh Văn đầu tiên của
tôi đông không c̣n trống chỗ ngồi. Học viên là những người
từ tóc bạc đến vị thành niên. Từ phía bảng đen nh́n về phía
người theo học, dáng hăm hở và ánh mắt khát khao học tập của
họ làm tôi bị cuốn hút vào vai tṛ thầy giáo, quên đi và
cũng chẳng để ư có ai cười không về đôi chân trần không giày
dép và cái quần xà lỏn của ḿnh. Đă năm năm rời bục giảng,
lặn lội làm đủ nghề vinh nhục ở quê nhà, hôm nay tôi được
trở về cầm viên phấn trở lại. Người giáo sư được sống trong
không khí lớp học, cũng như người nghệ sĩ tŕnh diễn đứng
trong ánh đèn màu sân khấu, tôi xúc động đến nghẹn ngào.
Trên ḥn đảo Chimawan cách xa
biền biệt đất liền, hàng ngh́n người Việt Nam đủ cả 3 miền
Nam Trung Bắc chực chờ từ ngày nầy qua tháng nọ trong ṿng
rào lưới thép, đợi tới lượt tên ḿnh được kêu trên giàn loa
phóng thanh đi “tiếp kiến phái đoàn”. Những ước vọng, hy
vọng, thất vọng và có lúc tuyệt vọng cứ nối đuôi nhau chạy
ṿng quanh với sóng biển bên ngoài.
Dù không ai dám đợi, nhưng
mùa Xuân vẫn đến. Những ngày tháng chạp với cái lạnh mù
sương trên đảo cấm báo hiệu mùa Tết sắp về. Lần đầu tiên
trong đời tôi cảm nhận một cách xót xa thế nào là nỗi buồn
xa xứ. Và cũng là lần đầu tiên, đọc trên đôi mắt, giọng
nói, tiếng thở dài... tôi t́m ra một điểm chung của người
Việt: Đó là nỗi ḷng “nhớ Tết”. Tết nhắc nhở t́nh quê
hương, làng xóm, gia đ́nh, người thân, bạn bè, phố chợ mà
tất cả đă thành một quá khứ thương nhớ quặn ḷng.
Trong cái không khí xuôi
gịng ngày lại ngày đó, bỗng có một luồng gió mới đến và mở
những cánh cửa tù ngục của tâm hồn. Văn nghệ Tết! Văn nghệ
Mừng Xuân! Tất cả hầu như trẻ lại. Và rồi trong mấy lớp
học, trong các pḥng nầy, pḥng kia, pḥng nọ... rộn lên một
nỗi niềm “vọng Mùa Xuân”.
Với tinh thần tập dợt văn
nghệ bắt đầu lan rộng. Lực lượng cảnh sát cai tù được tăng
cường khá rầm rộ. Tôi lại phải bỏ nhiều buổi dạy để làm
công việc thông dịch cho cảnh sát. Từ tướng Robert Stinger,
sĩ quan tham mưu cao cấp của phía toàn quyền Anh, đến Wu Ng.
viên thiếu tá tổng chỉ huy lực lượng an ninh trên đảo đều tỏ
ra nơm nớp lo sợ. Họ sợ sự nổi loạn của quần chúng th́ ít
mà sợ sự xung đột bạo hành giữa hai phía người Việt miền Bắc
và miền Nam là chính. Ngay trong hai lớp Anh văn buổi sáng
và chiều do tôi dạy, số học viên Bắc Nam cũng gần xấp xỉ
nhau. Nhưng trong lớp, tôi chưa thấy dấu hiệu Bắc Nam xung
đột nhau một cách đáng chú ư.
Người miền Bắc cũng như miền
Nam đều vui vẻ t́nh nguyện tham gia văn nghệ Tết. Cũng có
nhiều màn vũ dân tộc các diễn viên Bắc, Nam hợp tác tập dượt
và sẽ tŕnh diễn với nhau trên sân khấu.
Càng gần ngày tŕnh diễn văn
nghệ th́ sự kiểm soát và nḥm ngó của cảnh sát càng gắt
gao. Chương tŕnh văn nghệ mừng Xuân dự trù khai diễn vào
đêm 28 Tết. Sáng 25, tôi đang dạy trong lớp th́ bị kêu lên
văn pḥng Trại. Nơi đó đă có sẵn hai viên đại diện cục an
ninh người Anh và nhiều chức sắc người Tàu. Tôi được thông
báo một cách vắn tắt là mấy tuần qua hai phe Nam Bắc thuyền
nhân Việt Nam đă nổi lên đánh nhau tại nhiều trại ở Hồng
Kông với 12 người chết và 45 người bị thương. V́ t́nh trạng
xung đột nầy, họ yêu cầu tôi thông báo lại là cấm mọi sự
sinh hoạt tập thể chung giữa hai khối người Nam Bắc. Do đó,
chương tŕnh Văn nghệ mừng Xuân phải hủy bỏ. H́nh dung
những khuôn mặt tiu nghỉu của anh em muốn nhúm một bếp lửa
mùa Xuân cũng không được, tôi lắc đầu trả lời rằng, ḿnh chỉ
là một thầy giáo dạy tiếng Anh, không muốn dính líu vào
chuyện khác. Lát sau các trưởng pḥng được mời lên để tham
khảo ư kiến. Không một ai chịu rút lui chương tŕnh văn
nghệ. Tôi giải thích rằng đây là một sinh hoạt truyền thống
thiêng liêng của người Việt trong dịp đón Xuân và khẩn khoản
yêu cầu không nên hủy bỏ đêm văn nghệ. Các viên chức người
Tàu th́ khăng khăng không thay đổi ư kiến, thậm chí ông Ng.
c̣n đem quyền uy ra dọa non, dọa già là ông sẽ đề nghị cao
ủy Liên Hiệp Quốc trả những thuyền nhân tại Chi-Ma-Wan về
lại Việt Nam; trong khi hai nhân vật người Anh, có lẽ “văn
minh và dân chủ” hơn nên ngồi trầm ngâm và sau cùng hứa sẽ
“xét lại”!
Hôm sau, tôi lại bị kêu lên
văn pḥng. Phía chính quyền trại muốn tôi dịch ra tiếng Anh
từng chữ một nội dung chương tŕnh văn nghệ. Nguyên một nửa
chương tŕnh văn nghệ bị cắt v́ họ không muốn buổi văn nghệ
kéo dài quá sau 9 giờ tối.
Như có một chút ǵ oan nghiệt
c̣n vướng vất trên thân phận của những người anh em xa xứ,
không ngớt nh́n nhau với đôi mắt xa lạ và tâm trạng hoài
nghi. Một nửa chương tŕnh văn nghệ bị cắt, tôi biết ḥa
điệu làm sao để những mục tŕnh diễn văn nghệ giữa hai khối
Bắc Nam cân đối và hợp t́nh. Một mồi lửa nhỏ có thể thiêu
cháy cả khu rừng. Một phản ứng bất măn Bắc Nam rất có thể
gây ra nguy cơ bạo hành đẫm máu.
Chiều 30 Tết. Phần
ăn thường nhật của mỗi người được tăng thêm một miếng lạp
xưởng. Thế nhưng tôi vẫn nuốt cơm không vô v́ lo lắng. Nh́n
quanh pḥng ăn, tôi bắt gặp vài ba nụ cười của những học
viên trong lớp. Mắt tôi đậu hơi lâu trên những học viên
miền Bắc, tuổi từ thiếu niên đến lăo niên. Đây có vẻ là
những thành phần nhạy bén và có uy tín trong tập thể người
miền Bắc. Có ai trong những khuôn mặt quen thuộc đó đang
tính toán ǵ chăng. Chỉ c̣n 2 giờ phù du nữa là cuộc tŕnh
diễn văn nghệ khai mạc.
Đúng 7 giờ, hội
trường vốn là nhà ăn tập thể đă không c̣n chỗ chen chân. Tôi
giới thiệu chương tŕnh mà nghe giọng ḿnh hơi run.
Tiết mục thứ nhất
bắt đầu. Màn mở. Tôi đứng sau cánh gà nín thở. Vốn đă
quen mắt mà tôi vẫn bỡ ngỡ ngạc nhiên trước khung cảnh uy
nghi của sân khấu. Trong ánh đèn màu do anh em chế biến một
cách mờ ảo, mấy chục người sắp thành h́nh bán nguyệt. Nét
xơ xác, ưu tư đợi chờ như tạm lắng xuống để thay vào đó là
những tia nh́n lấp lánh điểm nụ cười.
Tiếng đồng ca mở
màn gợi t́nh yêu tổ quốc như một thông điệp vọng hưởng từ
trái tim. Lời ca vang lên như đă đợi chờ bao nhiêu năm bùng
ra không ǵ cưỡng nổi. Tiếng hát vươn dậy như một mồi lữa
cháy; lữa thắp trên từng cửa miệng; lan ra xa cho đến khi
hàng ghế viên chức hàng đầu của trại cũng lặng người theo
dơi. Sự xúc động vô h́nh không phải chỉ xuất phát từ tiếng
hát, lời ca nồng cháy mà c̣n là sức hút từ vọng âm cuồn cuộn
của những tâm hồn. Chấm dứt! Một khoảnh khắc im lặng. Sự
im lặng nghe trong ḷng băo nổi. Từ góc trái sân khấu, tôi
nh́n quanh. Lễ khai mạc đă xong. Không có chuyện ǵ xảy ra.
Đẹp quá. Tôi nh́n sâu vào những đôi mắt long lanh mà muốn
nói lời cám ơn từng sợi tóc. Nhưng biết nói với ai đây, khi
bản thân tôi cũng chỉ là sợi tóc trong vầng tóc tha hương
phất phơ trong một đêm 30 Tết. Lần đầu tiên tôi biết thế
nào là nỗi xót xa, gợi nhớ của một mùa Tết quê người. Nơi
đây, thiếu vắng t́nh quê hương, không rộn ràng chuẩn bị,
không mời gọi đón đưa; không trừ tịch, không giao thừa,
không bánh mứt... nên cũng mất đi cái hồn thiên cổ của một
ấn tượng thiêng liêng có tổ tiên về ngự giữa lời khấn nguyện
trong khói hương trầm.
Đánh ṣ
Sau gần một năm từ trại cấm
Chi-Ma-Wan, Hồng Kông; chuyển sang trại chuyển tiếp
(Transitional Camp) Bataan, Phi Luật Tân, tôi đến định cư
tại Mỹ vào mùa Tết đúng một năm sau.
Tôi lại thấy nao ḷng khi
đang ở giữa Thành Phố Baton Rouge, tiểu bang Louisiana, miền
Đông Nam nước Mỹ, lúc 10 giờ sáng ngày 29 Tết và một người
bạn nhắc nhở: “Bây giờ đúng là phút Giao Thừa bên quê ḿnh!”.
Điều mĩa mai đầy thú vị là tôi đang đi sắm đồ chuẩn bị ra
khơi. Ra khơi lần nầy không phải đi vượt biên sang xứ Mễ mà
là để đi đánh cá ở vùng biển vịnh Mễ Tây Cơ. Phải nói là
“Đánh ṣ” mới đúng. Có lẽ tôi là một trong những người Việt
hiếm hoi đi làm nghề “Đánh ṣ” trên đất Mỹ. Đánh ṣ theo
nghĩa đen và làm ăn nghiêm túc đúng theo thuyết chính danh
của đức Khổng Tử dạy đàng hoàng, chứ không phải là theo chân
Trùm Ṣ trong Nghêu, Ṣ, Ốc, Hến... !
Bất luận ở Việt Nam làm nghề
ǵ hay làm thinh chuyên nghiệp th́ những ngày đầu mới qua Mỹ
cũng phải thử lửa ít nhất là từ thất nghiệp dương “bảy nghề”
đến thất nghiệp âm “không nghề”.
Ngày đầu đến Mỹ, anh Trần
Huệ, người dứng đầu trong nhóm bảo trợ cho gia đ́nh tôi đă
nửa đùa nửa thật nói rằng: “Đến nơi đây đất nước lạ lùng,
chú em cần biết hai điều, ở Mỹ khó nhất là đói và khó nh́ là
làm giàu!” Cả hai điều “khó” đó tôi đều không màng v́ lẽ
đối với cái “khó”thứ nhất, không đói th́ no chứ có ǵ để mà
quan tâm lo lắng. C̣n cái khó thứ hai là làm giàu th́ tôi
cũng chẳng màng v́ tự biết ḿnh đi đứng hấp tấp, nhất là khi
chạy bổ nhào xuống ghe ra khơi, nên có số gian nan như cô bé
đi chùa Hương thuở nọ e ngại là “Ngại chàng chê hấp tấp, số
gian nan không giàu”. Đă biết làm giàu không được th́ bon
chen để mà làm ǵ nữa cho nhọc nhằn phiền muộn. Cho nên tôi
là người tự do ở ngoài ṿng cương tỏa chân cao thấp v́ không
lo đói, không nghĩ tới làm giàu. Nhưng những ngày thong
dong tư tại đă qua mau. Xứ Huê Kỳ không phải là vùng đất
hứa cho một tinh thần triết lư hưởng nhàn an nhiên tự tại mà
là một thao trường sôi nổi cho ư chí hành động.
Trong số những người bạn mới
quen thường hay lui tới, Tài là một chủ thuyền đánh cá có
hai chiếc tàu đánh tôm. Nghề đánh tôm ở Mỹ phải đợi tới mùa
mở hồ mở băi mới được hoạt động. Trong mấy tháng chờ đợi,
có công việc đánh ṣ là thích hợp với loại tàu cở nhỏ như
tàu của Tài. Tài rủ tôi theo tàu đi đánh ṣ. Tôi đồng ư
ngay. Thế là cùng với anh em, tôi lên đường theo tàu của
Tài ra khơi.
Biloxi ở vùng biển phía Đông
Nam của tiểu bang Mississippi được xem là một “Thủ đô Ṣ của
Thế giới” ( Oyster Capital of the World). Chín mươi bảy
phần trăm ṣ kỹ nghệ của nước Mỹ đến từ vùng biển
Mississippi. Từ băi neo thuyền tại vùng bến băi thành phố
Biloxi, tàu đánh ṣ phải đi về phía hướng Đông chừng ba
tiếng đồng hồ mới đến được hải đảo tập trung neo tàu chờ
đánh ṣ. Đêm đầu tiên ra khơi, tàu đi chưa được một giờ th́
sương mù xuống dày đặc đến mức hai người đứng cách nhau chưa
tới một săi tay th́ đă không nh́n thấy rơ mặt nhau. Tuy tàu
có hải đồ và radar nhưng vẫn không định hướng được. Chỉ c̣n
phương tiện duy nhất là bắn súng để người trên đảo neo tàu
trả lời. Rồi nương theo tiếng vọng của súng nổ mà định
hướng. Tàu đến được bến trên đảo th́ trời đă khuya. Đêm
đầu tiên nằm ngủ trên tàu neo ở đảo, nghe tiếng gió thổi vi
vu qua hàng cây, nghe tiếng sóng vỗ triền miên vào mạn tàu,
cảm giác bềnh bồng trôi nổi theo sự lắc lư của con tàu vừa
hoang liêu, vừa u buồn thăm thẳm.
Trời mới hé sáng, đoàn tàu đă
chuẩn bị rời bến. Đánh ṣ, mỗi chiếc tàu chỉ cần có 3
người: Một lái tàu và hai lao động. Tôi là một trong hai
người lao động. Nhiệm vụ của người lao động như tôi là đứng
vững suốt ngày trên phần cuối của sàn tàu, nơi đó có đặt sẵn
một cái cào ṣ (oyster dredge) trông giống như cái thùng xúc
đất của một chiếc máy cày cỡ trung b́nh ghép bằng những
thanh sắt. Chiếc cào sắt nặng khoảng chừng 100 ki lô kéo
bằng trục giây “cáp” gắn với một bánh xe cuốn điều khiển
bằng hệ thống hydrolic. Hai lao động đánh ṣ chỉ có hai
động tác chính là khi giây cáp buông chùng th́ nhắc bổng và
quăng cào ṣ xuống biển, sau chừng mỗi 15 phút giây cáp cuốn
vào trục quay, kéo cào ṣ lên phía đuôi của sàn tàu. Cào ṣ
mang theo đủ loại linh tinh dưới đáy biển: Bùn đất, cua,
tôm, cá, đá sỏi, vỏ ṣ, san hô, rong rêu và ṣ. Nhiệm vụ
của hai người lao động là lựa và hất tất cả các thứ kéo lên
về lại xuống biển, chỉ chừa lại những con ṣ sống và bỏ vào
bao. Loại ṣ Mỹ (American oyster – Crassostrea virginica)
là loài “lưỡng tính luyến ái”. Mỗi con ṣ đều có thể là đàn
ông hay đàn bà và nếu muốn th́ sẽ có khả năng tự ḿnh đổi
giống. Nếu con người cũng “lưỡng tính” được như thế th́
nhân loại có khả năng tiết kiệm bớt một nửa nỗi ưu tư của
đời sống vợ chồng và tiết giảm được hai phần ba sự làm việc
quá đà của xúc cảm và trái tim. Ṣ Mỹ c̣n “mắn con” gấp
triệu lần bà Âu Cơ. Một con ṣ mỗi lần sinh nở có khả năng
đẻ ra 100 triệu trứng và sinh nhiều lần trong năm. Ṣ một
tuổi là ṣ đủ lớn, ăn được.
Giống ṣ Mỹ vỏ xù x́ như
những tảng đá vôi thời tiền sử, thường dính chùm nhau lại
thành một tảng ṣ có khi lên tới cả chục con ṣ riêng lẻ.
Ṣ đánh bắt phải đủ độ lớn tối thiểu theo luật lệ ban hành (
3 inches là độ lớn tối thiểu hợp pháp tại Mississippi). Bắt
ṣ con nhỏ hơn quy định sẽ bị phạt và thâu bằng hành nghề.
Sau lớp vỏ thô là lơi của
những con ṣ bụng trắng như sữa và ḿnh trong như đông
sương. Ṣ tươi thường được người Mỹ vắt chanh và răi chút
muối rồi ăn sống. Với những người đánh ṣ th́ ăn ngay khi
vừa mới bắt lên không cần tiêu muối. Lần đầu tôi có cảm
giác ghê ghê khi ăn ṣ sống, nhưng về sau, ăn ṣ sống ngay
trên tàu khi vừa mới đánh lên cũng có một hương vị đặc biệt
và sự thú vị riêng của nó. Theo sự thăm ḍ rộng răi thời đó
th́ khoảng 90 phần trăm dân Mỹ thích ăn ṣ sống. Trong đó,
sự phân bố theo giới tính là 70 % nam và 20 % nữ và Mỹ trắng
(Caucasian) chiếm 76% tỷ số những người thích ăn ṣ sống .
Ṣ đánh được trong ngày bỏ
thành bao và chất lên tàu, chiều về bến đă có tàu buôn của
các công ty hải sản từ đất liền ra chờ sẵn để mua. Bán hàng
xong, tàu con đánh ṣ nhẹ gánh phủi tay về bến nghỉ đêm, chờ
ngày mai đánh tiếp. Mỗi chuyến ra khơi đánh ṣ thường kéo
dài từ một tuần đến nửa tháng.
Ngài khơi Biloxi có nhiều đảo
nhỏ như đảo Đậu (Petit Bois island), đảo Sừng (Horn island),
đảo Mèo (Cat island)…... Nơi chúng tôi neo thuyền chờ đánh
ṣ là đảo Mèo, thời Pháp thuộc tên đảo là Bourbon.
Những đêm sóng lớn, tàu neo
trên đảo Mèo lắc lư, cḥng chành không ngủ được, anh em lại
thức khuya rủ nhau ngồi nhậu, đàn hát vu vơ. Những lần như
thế tôi lại nhớ những ngày ở đảo Chi Ma Wan. Trong trại cấm
Hồng Kông bị bó buộc đủ điều nhưng đó là nơi khá an thân để
tự học hành và suy tưởng. Từ trong cảnh cấm đoán, niềm hy
vọng tràn trề về một ngày sẽ được định cư làm cho tinh thần
con người thoát ra khỏi ṿng rào kẻm gai để phấn chấn bay
lượn quanh những vùng trời mơ ước. Nhưng những đêm neo
thuyền trên đảo để chờ ngày mai ra khơi đánh ṣ tiếp tôi cảm
thấy cô liêu và buồn thắt ruột. Ra đi đến một vùng trời
khác, sau những chuyến đánh ṣ kiếm chút tiền bạc qua ngày,
tôi vẫn thường băn khoăn tự hỏi đời ḿnh sẽ trôi theo những
phương nào chưa thấy hướng.
Rồi những ngày nhớ đời lại
đến. Đă qua ba ngày liên tiếp, buổi sáng trời trong xanh
với nắng vàng rực rỡ, nhưng sau giờ ngọ trời trở nên u ám
với mây mù bao quanh cả vùng trời biển mờ mờ như chiều tối.
Đợt cào nào cũng vớt lên đầy cả cá đuối to như những lá sen
làm chúng tôi mỏi chân ră rời v́ phải liên tục đá cá xuống
biển. Buổi chiều thứ ba, trời bỗng nhiên sáng quắt và trong
xanh. Nh́n về hướng đông, tôi thấy một chấm đen như mực vừa
mọc lên ở chân trời sát mặt biển. Tôi nghe tiếng Tài hét
lên từ phía pḥng lái át cả tiếng máy:
- Chết rồi anh em ơi! Gió
giông!
Chỉ trong một khoảnh khắc,
chấm đen ở phía chân trời to bằng cái nón. Ṿng đen lớn lên
nhanh một cách khủng khiếp và che kín một góc trời. Rồi cả
một ṿm mây đen nghịt che phủ bầu trời và chụp xuống với
những luồng gió lạnh buốt thổi tung cả mặt nước. Từng lượn
sóng to như ngọn núi từ đâu cuồng lên bổ vào thân tàu nước
tung cao quá đầu rót vào thân tàu. Chiếc tàu chao đảo như
chiếc lá tre khô trong cơn lũ. Tôi bị ném từ thành tàu bên
nầy, vật qua bên kia lăn lóc. Gió băo cuồng lên điên loạn
và kinh hoàng tới mức đầu óc tôi trống rỗng không c̣n nhớ ra
một câu, một chữ để cầu nguyện như những đêm gió băo trên
chiếc ghe mành ở ven đảo Hải Nam. Không c̣n nhớ bao lâu
nhưng cơn băo biển đến rồi đi khá nhanh. Gió yếu dần rồi
lặng phắt, trời trong xanh trở lại. Tàu vội vă trở về đảo
neo bến. Tin có 4 tàu ch́m, 5 người chết và mất tích. Đoàn
tàu tả tơi đă t́m về bến, nhưng không khí ră rời và buồn bă
quyện lấy buổi chiều.
Hôm sau Tài quyết định quay
tàu về bến Biloxi và neo tàu ở đó đợi mùa đánh tôm năm sau.
Nhóm anh em đánh ṣ trong hai chiếc Tàu của Tài gặp nhau lần
cuối ở thành phố biển Biloxi.
Cũng như những thủy thủ xưa
nay mỗi lần tàu về bến. Chúng tôi chia tay nhau bên tiệc
rượu tàn canh với sự hiện diện của những người đàn bà chuyên
nghề mua bán cuộc t́nh nửa tỉnh nửa say sau nửa đêm về
sáng.
Sự vinh quang và nỗi khổ nhục
thường khác nhau bên nầy hay bên kia, nhưng có những mảnh
thời gian ngắn ngủi thuê mướn đời nhau để sống lại chẳng có
ǵ khác lạ. Hễă ở đâu có bóng dáng con người th́ ở đó đều
có sự biểu hiện rất giống nhau về luyến ái. Trước khi Tài và
những người anh em trẻ thức dậy để đón một ngày mới chưa
biết về đâu, tôi ra băi t́m chiếc xe Station Wagon của ḿnh,
men theo xa lộ Đông Tây số 10 về lại Baton Rouge. Gió rất
lạnh nhưng tôi không quây gương đóng kín cửa xe. Tôi cần
thêm một ít sương gió để giúp ḿnh tỉnh táo, mở mắt nh́n cho
rơ hướng đi. Con đường vượt biên năm trước và xa lộ đang đi
bằng phẳng là thế mà sao ḷng tôi vẫn cứ gập ghềnh cưu mang
những con đường chưa rơ hướng đi cho một tương lai nơi quê
người. Một ḿnh một ngựa sắt trong đêm. Đi giữa trời rạng
sáng bên nầy mà tôi cứ nghĩ đến mùa Đông bên kia trời quê
hương chắc giờ nầy đă tối.
trở về
CON YÊU BÁNH NẬM
trở về tập
truyện
|