|


LÀM CỎ
Đi Tây...
Có quay qua quay lại hoài th́ cũng vẫn không
thoát ra khỏi chiếc ghế đơn điệu đă bị gắn chặt trên sàn. Cả
sáu phía, trên, dưới, trước, sau, phải, trái đều bị giới hạn.
Tôi có cảm giác thiếu thỏai mái như khi bị ngứa sau lưng mà
với tay không tới để găi. Gần một ngày một đêm bó gối không
biết làm ǵ, tôi bèn... suy tư về cái chủ đề liên quan đến
thân thế của con người trên máy bay. Từ đó tôi mới lơ mơ
khám phá một nếp sống tương cận, đó là nếp sống ở đ̣. Tôi
lớn lên ở đồng quê. Tuổi hoa niên chạy nhảy theo những con
đường làng, sông, hói, bờ ruộng. Đôi khi ngồi trên bờ sông,
cảm thấy ngứa ngáy chân tay khi ngoắc tay với sáp nhỏ cùng
tuổi sống ở trên đ̣.
Tôi lo giùm cho tụi nó. Lo bị rớt xuống sông
uống nước no quá! Chết. Lo ông già uống rượu say vác dao
rượt bà già không có chỗ trốn. Nguy! Lo không biết t́m đâu
ra tổ chim chiền chiện trên cây. Buồn! Lo chẳng biết có đứa
nào đă từng biết đá banh, chơi ù mọi, cút t́m… như lũ trẻ
chúng tôi trên đất liền thường có không. Nghĩ không ra một
chân trời thỏai mái cho tụi nhỏ ở đ̣, tôi hỏi mẹ th́ được mẹ
tôi khuyên là “đừng có ở đó mà lo chuyện voi chết không
ḥm!”
Bốn chục năm sau
tôi lại ngồi trên chiếc “đ̣ bay”. Đ̣ bay qua ngày, thâu đêm
trên mây. Mạng sống của hơn ba trăm người tùy thuộc vào hai
ống phản lực chạy ŕ rầm trên chót vót đỉnh trời. Không biết
từ dưới mặt địa cầu dưới kia, có đứa trẻ nào như tôi ngày
xưa “lo voi chết không ḥm” cho những người ngồi bó gối trên
nầy?
Suốt chuyến bay dài
từ Manila đến San Francisco, tôi không tài nào chợp mắt được
một phút. Không hiểu ngày xưa thế hệ đàn anh khi “đi Tây”
có mảnh suy nghĩ và cảm xúc nào giống như chúng tôi hôm nay
không. Tôi lẩn thẩn tự hỏi và tự trả lời trong lặng im.
Rời Manila, sau 18 giờ bay,
chiếc Boeing 747 của hảng Pan-Am vào vùng trời nước Mỹ trong
cảnh rạng đông của phi trường San Francisco. B́nh minh đầu
thu phơn phớt nhuộm hồng vùng vịnh San Francisco. Trời,
nước và ráng mây sớm mai chiếu ánh sáng long lanh màu tím
nhạt. Từ sau ô cửa máy bay nh́n xuống, cả biển nước óng ánh
như những giải thiên hà trong đêm. Vẻ b́nh yên và khoáng
đạt của xứ sở nầy gây ấn tượng đầy xúc động và niềm hy vọng
dạt dào trong tâm hồn người mới đến.
Khung cảnh rộn ràng đầy màu
sắc của hành khách tứ xứ nơi phi trường cửa ngơ Thái B́nh
Dương đi vào đất Mỹ nầy làm choáng ngợp những người lần đầu
đến đây từ nhiều vùng đất xa vời từ khắp nơi trên thế giới.
Ra khỏi phi trường, trời San
Francisco vào cuồi mùa Thu lạnh cóng. Mỗi người được phát
một chiếc áo ấm để mặc, ngồi đợi chuyến bay kế tiếp. Trên
vùng đất mới, tôi chỉ biết được vỏn vẹn cái tên Dallas và
Baton Rouge quá lạ lùng trong lịch tŕnh chuyến bay với nỗi
ngỡ ngàng và lo lắng chưa biết số phận sẽ đưa ḿnh về đâu…
Máy bay đáp xuống phi trường
Baton Rouge lúc 10 giờ đêm. Bên ngoài khung cửa sổ máy bay,
bầu trời tối đen như mực. Chỉ có những hàng đèn sáng lập
ḷe trên phi đạo định hướng cho bước lưu dân sắp tới. Nh́n
dáng rũ rượi v́ mệt mơi của những người trong gia đ́nh sau
chuyến bay quá dài ngày tôi bỗng đâm lo. Không biết khuya
khoắt thế nầy có ai nhớ để ra sân bay đón ḿnh không. Và
người cưu mang gia đ́nh ḿnh đêm nay sẽ là ai? Ông Tây, bà
đầm, Mỹ đen, Mỹ trắng, kẻ hảo tâm, nhà từ thiện… hay chẳng
có ai. Tôi rời ghế, dắt díu gia đ́nh đi theo đoàn hành khách
trong nỗi hy vọng lẫn ưu tư về một cuộc đời mới đang chực
chờ hiện h́nh trước mắt.
Vừa ra khỏi ṿng thang máy
bay, tôi ngẩn ngơ v́ có nhiều người Việt Nam chưa quen biết
đang tươi cười chờ sẵn để đón. Tôi bỡ ngỡ v́ chưa biết tại
sao ḿnh lại có được hân hạnh nầy. Một vị lớn tuổi cho biết
là gia đ́nh tôi được một nhóm người Việt đến trước bảo trợ
và giúp đỡ như một công tác xă hội từ thiện.
Thành phố Baton Rouge là đất
lành nhưng chim không đậu được v́ tôi đến Mỹ vào thời điểm
1983, tỷ số thất nghiệp lên tới 8.5 nên rất khó t́m việc.
Ngược với truyền thống Á Đông, người Mỹ phải “lạc nghiệp”
trước đă rồi mới đến “an cư”. Trên thành phố thủ phủ Baton
Rouge của tiểu bang Louisiana, dù tôi đă an cư và sống chan
ḥa với t́nh người, t́nh bè bạn, nhưng v́ không “lạc nghiệp”
được nên cuối cùng, rồi cũng phải chia tay qua tiểu bang
California t́m một hướng sống khác.
Mỹ là đất nước của một hợp
chủng tứ xứ di dân từ khắp nơi trên thế giới. Tất cả mọi
người thuộc thế hệ di dân thứ nhất trên đất Mỹ đều có một
điểm chung về bản sắc. Đấy là bóng dáng của quê hương cội
nguồn c̣n đậm nét trong tâm thức, bên cạnh một đất nước mới
cần phải phấn đấu vươn lên để sống c̣n và lập nghiệp. Có
hàng mấy trăm nhóm chủng tộc của thế giới đang chung sống
trên đất Mỹ, trong đó, Việt Nam là một trong 20 nhóm chủng
tộc châu Á có truyền thống lịch sử, ngôn ngữ và văn hoá hoàn
toàn khác nhau. Bởi vậy, Mỹ c̣n được gọi là vùng đất của cơ
hội (Land of opportunity), nhưng có biết nắm cơ hội đúng
tầm, đúng lúc và đúng chỗ để tiến tới thành công hay không
là c̣n tùy thuộc phần lớn vào bản lĩnh của cá nhân và ư chí
kế thừa của từng nhóm dân tộc. Sự nổi bật ngang tầm của
người Nhật, người Tàu, người Việt, người Đại Hàn trong tập
thể các sắc dân châu Á về mọi mặt trên đất Mỹ là niềm tự hào
dân tộc mà khi c̣n ở quê nhà tôi chẳng buồn nghĩ tới. Khái
niệm mang nặng tính tiêu cực và mặc cảm tự ty như khái niệm
“nhược tiểu” trước các sắc dân khác không có lư do tồn tại
đối với thế hệ trẻ Việt Nam ở nước ngoài.
Thế hệ thứ nhất của người
Việt định cư trên đất Mỹ đă tự xác định hướng vươn lên của
con nhà nghèo. Rất khác với lớp người di dân châu Á từ
Trung Hoa, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản, Đại Hàn, Thái Lan,
Ấn Độ… là những người mang theo tài sản làm vốn kinh doanh
từ bước đầu đến Mỹ, hầu hết người Việt Nam đến Mỹ với hai
bàn tay trắng. Tay trắng nhưng không chịu chấp nhận trắng
tay trong công việc làm ăn sinh sống. Người Việt đă không
dừng lại trong công việc lao động giản đơn làm công ăn lương
mà hầu như không sớm th́ muộn, mỗi người đều tự phấn đấu hết
ḿnh để trở thành những người “chủ nhỏ”. Hướng thuận lợi
nhất để sớm trở thành những chủ nhỏ là đầu tư kinh doanh
trong các ngành nghề làm cỏ, làm móng tay, cắt tóc, phân
phối báo hàng ngày.
Vấn đề c̣n lại đă làm cho
nhiều người Việt Nam thao thức và trăn trở nhất là hai cái
“có” gần trước mắt thường xuyên réo gọi và lọai trừ nhau
không nhân nhượng: Có tiền hay có học. Có của hay có danh.
Nên có tiền trước hay nên có kiến thức, bằng cấp trước? Tùy
sư lựa chon của mỗi người trong hoàn cảnh cụ thể của chính
ḿnh để tiến tới điều mong muốn. Muốn có kiến thức th́ vào
trường hoặc là muốn có tiền th́ kiếm đường làm ăn. Riêng
tôi th́ “ dùng dằng nửa ở nửa về”, nghĩa là thích học nhưng
không có gan làm hàn sĩ. Gă tinh thần kéo vào trường; trong
khi gă vật chất lôi ra ngoài băi cỏ, nên tôi mới có cơ hội
chạy bao sân. Cái thú “chạy bao sân” trên xứ Mỹ đă mang đến
những kinh nghiệm tuyệt vời. Dưới ánh mặt trời, cắt một băi
cỏ xanh tươm tất trong khu vườn hay dạy một lớp đầy hứng thú
trong giảng đường đại học đều mang cùng nghĩa sống như nhau.
“Ra đi gặp vịt cũng lùa; gặp duyên cũng kết gặp chùa cũng
tu!” Cái triết lư hành động của cụ Nguyễn Công Trứ nhà Việt
Nam ta, cộng với tinh thần phá chấp thiền môn bỗng hứng chí
gặp triết lư dấn thân của Hemingway nơi quê nhà chú Sam mà
nẩy mầm, đâm rể.
Tôi sẽ ghi lại những kinh
nghiệm tươi mới và nóng bỏng đầu tiên của chính ḿnh trên
đất Mỹ: Nghề làm vườn hay nói gọn hơn là làm cỏ.
Làm cỏ
Nếu có ai hỏi tôi rằng, điều
khó khăn nhất khi bước đầu đến Mỹ là ǵ, có lẽ tôi sẽ không
ngần ngại để nói ngay rằng: “Đó là sự trở ngại về ngôn
ngữ!” Học toán, học nghề có thể lấy tháng, lấy năm để tính;
nhưng học một ngôn ngữ mới, phải lấy cả một đời để đo cũng
chưa đủ. Tuy xuất thân cũng là thầy dạy tiếng Anh, tôi đă
trang bị chút vốn liếng ngoại ngữ trước khi vào đất nước
nầy, thế nhưng bước đầu đến Mỹ, đôi khi gặp Mỹ đen, Mỹ đỏ,
Mỹ vàng nói âm lóng địa phương, tôi vẫn lâm vào cảnh “vịt
nghe sấm” khi tiếp xúc với người bản xứ trong sự giao tiếp
với đời sống thực tế. Mỹ là nước hợp chủng nên người Mỹ “mở
máy” ra là nói vi vu, không cần biết người đối diện qua Mỹ
đă khổ sở tập uốn lưỡi mấy lần và đă ăn bao nhiêu bánh
Hamburger để… luyện giọng, luyện tai nhưng vẫn mơ màng nghe
gió thoảng bụi tre. Hơn thế nữa, học ngôn ngữ không chỉ đơn
thuần là học tín hiệu mà c̣n là học về văn hóa, nên có lẽ dù
cho suốt đời ở Mỹ, tôi vẫn không bao giờ có hy vọng có thể
rong chơi với tiếng người một cách mượt mà và thoải mái, như
đă hơn nửa đời tung tăng uốn lượn trong môi trường tiếng mẹ
đẻ của ḿnh. Cùng với những người bạn thân thương đồng cảnh
ngộ, chúng tôi tận dụng vốn liếng “survival English” (nói
tiếng Anh để sống c̣n) của ḿnh kéo nhau đi làm cỏ.
Đối với xă hội Âu Mỹ, vấn đề
nhu cầu cơm áo đă được giải quyết một cách êm thắm và nhẹ
nhàng nhờ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cùng với việc áp
dụng cơ giới hoá nông nghiệp từ đầu thế kỷ 20. Xă hội
chuyển hướng từ ăn no mặc ấm sang ăn ngon mặc đẹp. Bởi vậy,
ngành Kiến Thiết Hoa Viên (Horticulture) đă chiếm ưu thế so
với ngành Nông Nghiệp (Agriculture) trong đời sống hàng
ngày.
Kỹ nghệ làm vườn đi
từ thấp đến cao:
- Làm Cỏ (Lawn
Mowing): Chỉ có việc cắt các băi cỏ cho ngắn và nhổ cỏ dại
trong các bồn hoa cây cảnh.
- Làm Vườn (Gardening) : Làm
đẹp các băi cỏ, trồng hoa, cắt, tỉa, xén cây và dọn dẹp sân
băi.
- Thiết Kế Hoa Viên
(Landscaping): Thiết kế, thực hiện và xây dựng cơ sở vật
chất cho một khu vườn tương đối hoàn chỉnh.
Chỉ riêng thị trường bán vật
liệu làm vườn và cây cảnh ở Mỹ thôi th́ hàng năm cũng gần
tới 50 tỉ đô-la (gần 2 lần tổng thu nhập của Việt Nam). Các
khuynh hướng và “trường phái” làm vườn ở Mỹ rất đa dạng
nhưng vẫn gắn chặt với truyền thống thiên nhiên phương Tây.
Đó là ư niệm về con người làm chủ thiên nhiên, cây cảnh.
Trong lúc đó, quan niệm làm vườn phương Đông, xuất phát chủ
yếu từ Trung Hoa và Nhật Bản, lại nh́n thiên nhiên, cây cảnh
như người bạn, như môi trường ḥa điệu thể chất lẫn tinh
thần của con người.
Quan niệm khác nên
cách thức làm vườn cũng khác giữa Đông và Tây. Công việc
chăm sóc cây trong một khu vườn Mỹ chủ yếu là dời, chặt,
cắt, xén; c̣n cây cảnh trong khu vườn phương Đông là ngắt,
tỉa, tách, uốn, tạo h́nh.
Người Nhật và người Trung Hoa
đă biến những khu vườn của ḿnh thành một thế giới nhỏ,
trong đó lư thuyết phong thủy, âm dương, ngũ hành được nâng
thành một nghệ thuật rất cao. Người Tây Phương cũng có một
hệ thống lư thuyết làm vườn đặt căn bản trên sự phân bố màu
sắc, giống cây và thế đất. Dường như Đông và Tây đă gặp
nhau trên vùng đất mới...!
Tư ø tấm giấy phép ít chục đô
la làm cỏ nhỏ nhoi của thời “tiền sử làm vườn” của thời kỳ
tôi bắt đầu tập tểnh Làm Cỏ trong những năm đầu thập niên
1980, một thập niên sau, những người Việt Nam đă tiến lên
hàng Làm Vườn và Thiết Kế Hoa Viên với giấy phép cấp tiểu
bang, có doanh thu không thua ǵ một cơ sở thương măi hay
một chuyên viên ưu tú, có tay nghề vững chăi. Sức sống diệu
kỳ của người Việt xa quê đă là những liều thuốc mạnh để chữa
lành những vết tích do mặc cảm tự ty của tâm lư nghèo nàn và
lạc hậu gây nên. Chuyện Làm Cỏ gian nan trong cái thuở ban
đầu “ít lưu luyến” ấy của tôi dần dần sẽ chỉ c̣n là chuyện
kể của thế hệ thứ nhất, thế hệ người Việt tiên phong, với
bàn tay cần cù và khối óc vươn lên, đă làm lại cuộc đời trên
đất Mỹ nầy từ hai bàn tay trắng. Tôi chỉ muốn kể chuyện Làm
Cỏ của chính ḿnh như gợi lại một vài kỷ niệm nhớ đời, vui
buồn lẫn lộn. Chuyện kể làm cỏ trong hoàn cảnh riêng ḿnh
của những năm đầu 1980, có thể làm cho những người anh em
làm cỏ mới sau nầy, với vốn liếng ngôn ngữ phong phú và
phương tiện hiện đại hơn không bắt gặp bóng dáng ḿnh trong
đó. Cũng thế, người Mỹ trong những dịp lễ Tạ Ân –
Thanksgiving – vẫn thích tẩn mẩn kể lại những câu chuyện
vụng về, ngô nghê, gian khổ của lớp người tiền phong lập
nghiệp nơi xứ nầy, từng được cứu đói bằng những miếng thịt
gà Tây của người Da Đỏ cho không trong buổi đầu lập nghiệp.
Có ai nên khôn mà không chịu khốn đốn biết bao lần!
Mới hết ngày thứ hai đi chơi,
tối về đă có điện thọai của một người bạn trẻ gọi từ San
Jose nhắn tin khẩn cấp. Tôi lật đật gọi về Cali th́ nghe
tiếng Ban đầy phấn chấn trong điện thoại. Chàng thanh niên
ba mươi tuổi nầy báo tin mừng rằng:
“Mấy ông ở dưới miền Nam Cali
như anh Trần Thái B́nh, Đào Pháp… theo gương mấy huynh đệ
chuyên ngành hoa viên người Nhật, mở dịch vụ làm vườn rất ăn
khách và thành công.” Ban đốc thúc tôi mau mau về Cali để
mở “job” làm vườn. Ban vẽ ra một bức tranh đầy hứa hẹn
rằng, với khả năng tiếng Anh sẵn có, tôi sẽ đi tiếp xúc với
các chủ nhà để định giá, nhận việc cho một nhóm anh em đang
sẵn sàng bắt tay vào việc. Sự thành công chỉ c̣n là vấn đề
thời gian. Vừa ṭ ṃ mà cũng vừa hy vọng, hôm sau tôi bay
về California.
Theo hướng dẫn qua điện
thọai, tôi về Milpitas để gặp Ban và đội làm cỏ gồm có 5
người. Người già nhất 61 tuổi và trẻ nhất 22 tuổi. Có
người muốn t́m một vận hội mới nơi xứ người. Có người từng
làm trong các hăng xưởng của Mỹ chán thế sự hay muốn tự do
hơn nên đang ở trong giai đoạn làm... thinh! Người nào cũng
tỏ ra am hiểu chuyện làm vườn một cách quyết đoán theo kinh
nghiệm riêng của ḿnh, nên thường căi nhau tận t́nh những
điều mà thật sự họ chỉ biết mơ hồ hay chỉ mới có dịp nh́n
ngắm, ước lượng, suy đoán mà chưa có cơ hội đi vào thực tế.
Trước hết, Ban đưa
cho tôi một tờ giấy quảng cáo mẫu với hàng chữ tiêu đề lớn
chạy dài từ mé trái qua hết mé phải của tờ giấy, giới thiệu
tên của dịch vụ: “Oriental Gardening Services” (Dịch Vụ Làm
Vườn Đông Phương). Sát hàng chữ lớn có hàng chữ nhỏ hơn một
chút: “5 năm kinh nghiệm làm vườn tại Hollywood”! Tôi tá
hỏa khi nh́n vào phần liệt kê các dịch vụ. Từ việc cắt cỏ,
ủi đất, bắt hệ thống nước tưới đến việc cắt cây, tỉa cây,
trồng cỏ, làm sân băi, hào lũy bằng gỗ hay xi-măng, cho tới
các đề án xây dựng vườn hay tái kiến thiết vườn. Nói tóm
lại th́ đây là một đại dịch vụ làm vườn tổng quát, từ thượng
vàng đến hạ cám đều có khả năng làm tất, chẳng quên một thứ
nào cả! Tôi sẽ là người có nhiệm vụ đi “estimate”, nghĩa là
phải “xuống đường bắt khách”, trực tiếp giao thiệp với khách
hàng để ước tính, định giá và nhận việc.
Đọc qua hết các
dịch vụ quảng cáo, tất cả đều hoàn toàn xa lạ đối với tôi.
Ngay cả những công việc tỉa cây căn bản nhất cho nghề làm
vườn, tôi vẫn chưa hề có một khái niệm nào cả: Đốn cây
(removing), trồng cây (planting), đào gốc (stumping), tỉa
nhánh (prunning), xén cây (trimming), bấm chồi (pinching),
tỉa h́nh (shaping), phất ngọn (topping)... là những tên gọi
cho những công việc chăm sóc cây cảnh mà tôi chưa từng nghe
hay thấy.
Ban và anh em trong
đội làm vườn cho biết là đă tung giấy quảng cáo ra thị
trường từ hồi sáng sớm hôm nay rồi. Nghe đâu cái điện thoại
có hệ thống nhắn tin đă reo lên nhiều lần trong ngày, nhưng
không ai dám bắt v́ sợ “không rành tiếng”. Tôi đến mở cuốn
băng nhắn tin của máy điện thoại và t́m được 21 lời nhắn để
lại trong máy: Bốn lời nhắn về việc răi giấy quảng cáo
không đúng chỗ. Hai lời nhắn chất vấn là chúng tôi có Giấy
phép Tiểu bang Cali cấp chưa mà dám quảng cáo làm vườn toàn
cả “Big jobs”. Ba lời nhắn nói chuyện tào lao lạc đề. C̣n
lại 12 lời nhắn là yêu cầu “giám đốc” Dịch Vụ Làm Vườn
Phương Đông gọi lại càng sớm càng tốt. Gọi quanh một ṿng,
tôi chỉ gặp được có hai “mối” nhưng cuối cùng chỉ có một mối
là sẵn sàng chờ đến “Estimate” ngay trong chiều hôm ấy.
Lần đầu tiên trên
đất Mỹ, tôi đóng vai một người chủ doanh thương, dù đó chỉ
là dịch vụ làm vườn cắt cỏ.
Tất cả sáu người
đều đ̣i đi theo “estimate” (lượng giá). Tôi chưa biết phải
làm ǵ cho đúng vị trí của ḿnh. Khách hẹn là một bà già,
chủ một ngôi nhà vườn cũ. Bà cụ có vẻ hơi hoảng một chút qua
lối mở cổng e dè khi nh́n thấy một toán đàn ông người Á châu
tóc đen, nói tiếng ǵ không hiểu đang lố nhố tiến vào. Tôi
đi trước, khoát tay ra dấu cho anh em đợi và một ḿnh đến
gặp bà chủ nhà. H́nh như suốt mùa Đông bị cấm cửa trong
nhà, không được tâm sự với ai, nay gặp được người đối diện,
bà cụ nói bi bô cả chừng mươi phút một lèo không nghỉ. Đại
khái bà muốn vườn nhà bà được tổng dọn đẹp trong dịp đầu
xuân. Không cần nghe tôi thông báo chủ nhà muốn ǵ, nhóm
anh em tỏa ra vườn trước, vườn sau, phát huy cao độ quyền tư
do ngôn luận và bàn luận. Bà cụ ǵa thấy khí thế hăng say,
cũng bước ra sân chỉ chỏ khắp vườn. Anh em người th́ chỉ
bụi cây nầy vừa nói vừa ra dấu: “No good! Cut!... Không tốt!
Cắt bỏ đi!”. Người kia th́ cố căng tai, nhíu mắt nghe bà
già nói. Anh ta gật đầu dễ dăi, miệng nói liên hồi nhưng bà
nói bà nghe, anh nói anh nghe. Vốn liếng học tiếng Anh của
chúng tôi từ Việt Nam mang theo mới sử dụng được một phần ba
v́ chỉ nhận ra mặt chữ chứ phần phát âm và nghe vẫn c̣n lúng
túng, lùng bùng trong buổi đầu “giao lưu văn hóa”. Bà cụ
lúc lắc đầu hỏi lại: “Nó nói tiếng Mỹ theo âm Tây phải
không? Nghe nói người Việt Nam phần đông giỏi tiếng Pháp… !”
Đến phần lượng định
và đưa giá th́ anh em càng leo thang tham gia ư kiến hăng
say như bàn việc nước. Người niên trưởng, vốn giàu kinh
nghiệm với thương trường “một chục mười hai” nên đă cố vấn
rằng: “Cứ nói thách cho cao để chủ trả giá là vừa!” Cuộc
lượng định giá cả diễn ra rất hào hứng. Người th́ đ̣i đưa
giá 500; người khác lên giá 700, rồi đến 900 nhưng chưa ai
đề nghi cao hơn hay lên tới 1000 đồng. Tôi hội ư riêng với
Ban và định giá là 690 đồng. Chủ nhà nhận giấy “estimate”
khen nhóm làm vườn của chúng tôi “xuất sắc” và ân cần hứa là
sẽ gọi lại. Lúc đó, tất cả anh em đều hy vọng tràn trề,
nhưng càng về sau, càng hiểu thêm tâm lư người Mỹ là họ rất
thực tế. Hiến giá cũng có nghĩa là đấu giá. Những công việc
lao động thủ công tay chân, người Mỹ tuồng như “dại” hơn
người Việt ḿnh. Nhưng công việc càng cao cấp th́ có vẻ như
ngược lại.
Gần nửa đêm, bà già
chủ vườn gọi lại. Bà hỏi nếu bà đồng ư mướn th́ bao lâu
chúng tôi có thể bắt tay vào việc, tôi trả lời là “As soon
as tomorrow morning... Ngay sáng mai!”. Bà cho biết chiều
mai là lễ sinh nhật của bà nên mặc dầu chúng tôi “chém”
(overcharge) quá giá, bà vẫn không có sự lựa chọn nào hơn là
phải mướn chúng tôi để kịp làm đẹp vườn trong ngày vui của
bà.
Ngày xuất quân, bác Thành,
niên trưởng của đội làm vườn, dậy uống nước trà từ lúc chưa
sáng và sau đó lần lượt đánh thức cả bọn dậy.
Chúng tôi bắt tay
vào việc lúc cây cối đang c̣n ướt sương. Thế tiến quân rất
rộn ràng và đầy khí thế với hai xe mui trần Toyota Pickup
đời “thập niên về trước” chở dụng cụ làm vườn c̣n mới
toanh. Sáu cái miệng Giao Chỉ mở hết tần số âm thanh cộng
với tiếng máy xén, máy quất, máy cắt, máy thổi, máy tỉa chạy
bằng xăng hai th́ ré lên giữa b́nh minh cô tịch đă làm kinh
động một xóm Mỹ. Không biết tay Mỹ nào chưa thông văn hóa
phương Đông đă nỡ đem ḷng kỳ thị kêu “police”. Anh em đang
tiến công nói cười thoải mái th́ xe cảnh sát từ đâu đă trờ
tới. Tôi hơi chột dạ khi nghĩ đến “toàn bộ cơ sở pháp lư”
của nhóm làm vườn chỉ có tấm giấy phép xin cắt cỏ mới mua ở
City 35 đô-la c̣n nóng hổi. Với giấy phép nầy chúng tôi chỉ
được phép cắt ngắn các băi cỏ mà thôi, không được đụng đến
những việc vườn tược nặng nề khác, trong khi tờ quảng cáo
th́ chạy bao sân đủ tất cả các loại dịch vụ làm vườn! Nhưng
rất may là cảnh sát chỉ đến yêu cầu chúng tôi đừng làm ồn để
cho hàng xóm ngủ. Cả sáu chàng tài tử làm vườn Đông Phương
đều chấp hành pháp luật nghiêm chỉnh để phát huy hết tài
năng truyền thống: Cắt, xén, cào, xớt, hốt, ôm, xách, tưới,
thổi... trời cho của ḿnh. Mặt trời mới lên quá hàng rào
Orleander sân trước, cả khu vườn đă tươm tất sạch sẽ như sân
đ́nh làng trong dịp Tết. Bà chủ nhà ra vườn dụi mắt nh́n
quanh vườn ḿnh với vẻ ngạc nhiên như nh́n lâu đài Aladin và
tỏ vẻ hài ḷng với khuôn mặt mày râu nhẵn nhụi của khu
vườn. Vài ba anh em c̣n lanh miệng lanh mồm “Happy Birthday
– Chúc mừng sinh nhật” bà cụ già nên đă làm cho bà hứng chí
kư tấm chi phiếu 750 đô-la. Bà cụ già là h́nh ảnh điển h́nh
của người Mỹ: Chi li và hào phóng vừa tùy hứng, vừa tùy vào
kết quả “được việc” của người làm.
Trên đường về, nắng
chưa đứng bóng, tính nhẩm cũng biết là mỗi người kiếm hơn
trăm bạc trong mấy tiếng đồng hồ làm vườn. Và cũng đừng
quên thời đó giá xăng mỗi gallon (khoảng 4 lít) chỉ vào
khoảng trên dưới 50 xu so với 18 năm sau, lúc tôi đang
viết những ḍng nầy th́ giá xăng đă tăng gấp bốn, năm lần.
Anh em hứng chí với tâm trạng “Ḱa đoàn quân chiến thắng trở
về dưới nắng hồng...”
Anh em càng phấn
chấn, có việc làm, tôi càng lo v́ phải đi nhận việc và định
giá một ḿnh căn cứ vào sự đoán ṃ, không có một mảy may
kinh nghiệm của ḿnh. Đă ở thế lên ngựa nên phải ra roi,
tôi t́m mua các sách viết về công việc làm vườn và đọc ngày
đọc đêm để trả bài cho khách. Song song với lư thuyết sách
vở tôi theo anh em tôi phải ḍ dẫm t́m tới các vườn ương cây
(Nursery) và các hàng bán vật liệu làm vườn để biết giá cả
mặt hàng mà lănh việc.
Cái mă “Dịch vụ làm
vườn Đông Phương” coi bộ khá hấp dẫn đối với người Mỹ. Thời
gian tiếp theo, việc đến quá nhiều anh em làm không hết.
Công việc càng phát tài lộc,
th́ t́nh cảm anh em trong nhóm lại càng yếu đi. Chỉ sau một
tháng làm vườn, đă có người hoài nghi, buồn ḷng về số tiền
kiếm được không như ư muốn. Và dường như ai cũng cảm thấy
rằng, ḿnh có đủ khả năng để tự đứng ra làm chủ dịch vụ làm
vườn một ḿnh. Hiện tượng hai người căi nhau hăng tiết vịt
về một chuyện mà cả hai đều chẳng có kinh nghiệm hay kiến
thức thực tế nào cả xảy ra mỗi ngày một thường xuyên hơn.
Đó là một trạng thái tâm lư xuất hiện khá thông thường trong
tập thể người Việt v́ mặc cảm tự ti xen lẫn với tự tôn!
Hiện tượng phân hóa nầy không phải chỉ xuất hiện đơn thuần
trong lănh vực làm vườn mà phổ biến như một căn bệnh trầm
kha khắp các lĩnh vực trong cộng đồng người Việt. Một vài
anh em trong nhóm ra đi mở dịch vụ làm riêng. Bác niên
trưởng cười khà b́nh luận: “Th́ đó là tại truyền thống Lạc
Hồng chia con lên rừng xuống biển. Hễ cứ tới số 100 là phải
xẻ hai, huống chi bây giờ ḿnh làm ra ngàn, ra vạn!”
Chuyện vui buồn đời làm cỏ.
Hai mươi năm trước, khi bắt
đầu làm cỏ, tôi chưa hề gặp một đồng nghiệp người Việt nào
lại phí th́ giờ để đi học nghề làm cỏ cả v́ vốn xuất thân từ
miền đất nông nghiệp, chuyện chăm non cây cỏ đă là “nghề của
chàng”. Không ai phải dành ra năm này qua năm nọ để đi học
ngành Horticulture chuyên dạy nghề làm vườn như người Mỹ cả.
Người Việt có thiên khiếu làm cỏ cũng như con cá mới nở ra
là đă biết bơi liền. Tất cả dân làm cỏ thuở ban đầu đó đều
là “vô sư tự ngộ”, nghĩa là không thầy tự mầy làm nên. Thế
mà không có việc ǵ phe ta lại chịu bó tay và thường làm đẹp
hơn dân bản xứ thao lược trong nghề bao nhiêu năm mới hay
chứ!
Về mặt lợi tức, thật ra th́
nền kinh tế thị trường truyền thống của Hoa Kỳ đă có sự phân
công tự nhiên trong đời sống kinh tế và xă hội. Mỹ là nơi
có rất nhiều triệu phú nhưng chỉ có nghệ thuật hay kỹ thuật
làm giàu mà không có phép lạ làm giàu. Cũng thế, nghề làm
cỏ trên đất Mỹ cũng đổi sức lực và mồ hôi lấy tiền thù lao
chứ không có “phép lạ” nào như một số người thích chuyện
giật gân thuộc về “phe nổ” thường đồn đăi. Bên cạnh số anh
em thật thà có ǵ nói nấy th́ lại có hai phe đối nghịch nhau
là “phe dấu” và “phe nổ”. Phe dấu th́ cứ đủng đỉnh ngậm
miệng đếm hào. “Dzóp” chơi không ai biết mà “dzóp” thiệt
chẳng ai hay, cứ ậm ừ cho qua chuyện để khỏi tiết lộ bí mật
nghề nghiệp. Ngược lại, “phe nổ” th́ lúc nào cũng để tiền
rơi lẻng kẻng như máy kéo ở Reno. Những người dè dặt đă
b́nh luận rằng, nghề nào cũng có một giới hạn lợi tức riêng
của nó, nghề cắt cỏ chứ đâu phải là kỹ nghệ đấu thầu chế hỏa
tiễn cho bộ quốc pḥng Mỹ mà dễ kiếm tiền đén thế. Sau nầy
tôi mới khám phá ra rằng, “phe nổ” không đến nỗi hoàn toàn
phóng đại khi hoạt động làm vườn đă tiến từ giai đoạn Làm Cỏ
như tôi ngày đó lên hàng Làm Vườn và Thiết Kế Hoa Viên như
ngày nay.
Lực lượng làm cỏ cũng chia
làm bốn thành phần “kinh tế làm cỏ” là: Gạo cội, gia gia,
tà tà và tài tử. Gạo Cội – là những người dốc toàn thời
gian, công sức và sắm đủ các phương tiện máy móc, xe cộ hành
nghề chuyên môn, quyết làm ăn “tới bến”, chạy bao sân hết
mọi việc cắt cỏ làm vườn. Gia Gia – là những người biến
công việc làm cỏ thành một dịch vụ kinh doanh gia đ́nh. Khi
có việc và nhất là dịp cuối tuần, cả vợ chồng, con cái vào
vườn, ra sân cùng làm việc, hiếm khi thuê người ngoài. Ngày
thường, chồng làm một ḿnh hay vợ lôi chồng đẩy (máy) nổ
ŕnh rang trong những khu vườn vắng vẻ. Tà Tà – là những
người đi làm vườn thuê, làm nhận tiền công v́ không muốn hay
không đủ sức tự ḿnh đứng ra mở một “dzóp” làm vườn riêng.
Cứ việc làm hết ngày, lấy tiền công bỏ túi, chiều về nhậu
lai rai vài chai không một chút ưu tư lời lỗ hay việc phải
làm ngày mai. Tài Tử – là những người làm cỏ theo kiểu “văn
nghệ phụ diễn” tạm thời. Có khi chỉ là công việc làm phụ
thêm cuối tuần hay giờ rảnh. Hoặc làm chút đỉnh “gọi là”ø
trong lúc đang đi t́m việc hay bị nghỉ việc. Giang sơn của
một tay làm vườn tài tử thường “vô giá” v́ anh ta có thể
dùng một chiếc xe pick up loại kéo tàu đời mới giá 25 ngh́n
đô la vừa mới “down” mấy ngày trước khi bị “lây óp”; hay
cũng có thể dùng tạm một chiếc xe thổ tả già nua 2 trăm rưỡi
đô-la v́ tiền thất nghiệp chưa xin được cũng không sao. Đồ
nghề cũng thế, chỉ cần một cái máy cắt cỏ, một máy quất, dăm
ba cái kéo, cái cào cắt dọn cây lá mua từ Penny Savers là
cũng đủ làm “ông chủ” rồi, nhưng càng về sau nầy, giới làm
cỏ Việt Nam có người sắm luôn cả máy ủi đất, máy đào, máy
trộn rôm rả như một xưởng nhỏ. Tài tử, dù là tài tử làm cỏ,
tài tử đa cùng, cũng rất gần với đời nghệ sĩ, những kẻ có
gia tài là mặt trời treo đầu núi và vầng trăng bên cửa sổ,
cần ǵ sang!
Tôi đă trải qua đủ “kiểu” làm
cỏ loanh quanh vừa kể. Kinh nghiệm thực tế cho tôi thấy
rằng, lối làm cỏ tài tử là “hiêu hiêu đạt đạo” nhất v́ phẩm
chất đời sống tự cổ chí kim đều đặt trên giá trị của chữ
“Nhàn”.
Điều nầy đă cho tôi một lời
giải thích là tại sao những người Á Châu khởi thủy nghề làm
vườn đầu tiên tại Mỹ là những nhà tu Nhật Bản và Trung Hoa
cũng như những tu sĩ Phật giáo Việt Nam là những người
“khai canh” nghề làm cỏ sớm nhất trong tập thể người Việt
Nam di cư sau 1975.
Nghề làm cỏ ở những vùng nắng
ấm như California, Texas và ngay cả xứ lạnh Washington,
Massachusetts… là công việc khá phổ biến và lư tưởng của
những người đàn ông Việt độ tuổi trung niên, không muốn bị
ràng buộc bởi công việc, nhưng vẫn cố vươn lên bằng chính
sức lực của ḿnh trong một hoàn cảnh chen đua tranh sống nơi
xứ người.
Tuy đă xa nghề làm cỏ gần 20
năm, nhưng cứ mỗi lần nghe tiếng máy cỏ nổ ḍn, sâu trong
những khu vườn rợp bóng cỏ cây hay thoảng nghe mùi nhựa tươi
nồng từ những băi cỏ hay nhánh cây vừa mới cắt, tôi lại bị
cuốn hút như tiếng gọi của tù và hay điệu khèn trong rừng
thẳm. Những ngày tháng làm cỏ tuy ngắn ngủi và vất vả nhưng
quả thật đáng nhớ đời.
Công việc làm cỏ hiện ra như
một chiếc phao nhỏ giữa biển đời thay đổi. Nhiều bạn bè và
tôi đă nhanh tay bám vào chiếc phao ấy. Tôi đă rời chiếc
phao rất sớm, nhưng phần đông anh em trong nghề làm cỏ vẫn
c̣n ở lại. Những người anh em đă bám vào chiếc phao trong
buổi đầu khó khăn để khỏi ch́m và vịn chiếc phao mà đứng
dậy. Sau 20 năm, những chiếc phao nhỏ mong manh ngày xưa
giờ đă biến thành những chiếc thuyền vững vàng trên đất Mỹ.
Gần như một trong năm người đàn ông Việt độ tuổi quá trung
niên, có gia đ́nh và con cái đùm đề mà tôi được gặp, có một
người đầu tư vào nghề làm vườn.
Tôi cám ơn nghề làm cỏ đă cho
tôi khoảng thời gian được sống. Đến Mỹ năm từ năm 1983, tôi
đă làm đủ nghề: Từ việc đánh cá vùng Biloxi ở Mississippi
đến công việc giặt thảm sửa nhà ở Baton Rouge, Louisiana;
làm vườn ở Milpitas, San Jose, Oakland ở California... cho
đến việc dạy trường đại học và làm công chức. Nhưng có thể
nói rằng, thời gian làm cỏ là thời gian tôi học hỏi từ sự
chiêm nghiệm của chính ḿnh và từ sự im lặng của thiên nhiên
cây cỏ được nhiều nhất. Học về ư nghĩa của cái tĩnh trong
cái động. Học về nghệ thuật sống “nhu thắng cương” qua cái
máy quất chạy bằng dây nylon yếu mềm mà mạnh hơn dĩa sắt.
Học từ cái máy thổi ph́ pḥ mà rác mẹ rác con đều bị cuốn
phăng đi không than thở. Học từ cái ăn đạm bạc đến cái uống
“chữa cháư” từ ṿi tưới sau vườn. Xa hơn nữa, tôi cũng học
được rằng, khi tâm giao động th́ cắt cỏ cũng không yên.
Người ta có thể h́nh dung được sự an b́nh thanh thản hay vẻ
bấn loạn tinh thần của người cắt cỏ qua những đường lằn song
hành hay rối bời của máy cỏ để lại trên băi cỏ vừa mới cắt.
H́nh thù hàng cây mới tỉa, dáng vẻ băi cỏ vừa mời cắt...
cũng nói lên được một phần cá tính và tâm hồn phong phú hay
đơn giản của người thợ làm vườn.
Nghệ thuật sống c̣n
Nếu những người qua Mỹ theo
đợt di tản lần thứ nhất năm 1975 mang tâm trạng đi “làm rể”
th́ những người qua Mỹ 8 năm sau như tôi đă đến đây với tâm
trạng kẻ “làm dâu” ngày xưa. Người làm rể có sự chọn lựa
chủ động lúc ra đi và lúc đến, nhưng kẻ làm dâu th́ không.
Khi ra đi là chấp nhận “mười hai bến nước...”. Bởi vậy, khi
bước lên đất Mỹ là khi tâm trạng bời bời. Ngoái nh́n về quê
cũ, có bóng dáng những người thân đang đợi chờ, những món nợ
ân t́nh cần trang trải. Nh́n phía trước mắt là một tương
lai đầy hứa hẹn, nhưng cũng đầy sự thách đố và đe dọa. Tôi
sẵn sàng làm bất cứ việc ǵ có thể làm được một cách lương
thiện để sống c̣n.
Nếu không có năm 1975 và
những năm lao động cần cù trên đất Mỹ th́ h́nh ảnh nước Mỹ
sẽ xuất hiện dưới mắt người Việt Nam qua lăng kính của những
người du học hay du khách. Đối với người du học th́ Hoa Kỳ
là nơi có những học bổng hào phóng như Fulbright,
Mansfield... và những trường đại học lẫy lừng như Havard,
Yale hay Stanford... để giúp những sinh viên ưu tú kiếm mảnh
bằng cử nhân, cao học hay tiến sĩ để mang về quê hương làm
sĩ, làm sư, hay làm sếp. Với du khách th́ Mỹ là nơi có
nhiều phong cảnh thiên nhiên và nhân tạo tuyệt vời. Cả hai,
học vấn và thắng cảnh, đều không phải là những nét đặc thù
của Mỹ v́ ở đâu cũng có. Riêng tôi, được “nh́n” và “thấy”
Mỹ qua những công việc thực tế từ thượng vàng đến hạ cám.
Và trong một chừng mực nào đó của đời sống, Mỹ là một xă hội
đầy nhân hậu và công bằng đối vơiù những người biết sống,
biết vươn lên.
Trên chiếc thang đời không
giới hạn một ai trên đất Mỹ “có sức chừng nào, leo cao chừng
ấy”, mỗi người khởi hành tự do đi vào cuộc sống mới bằng bàn
tay, khối óc và sức lực của chính ḿnh. Bước đầu lập thân
và lập chí trên vùng đất mới, các chàng thích sương mà ngại
nắng th́ bỏ báo; các nàng tay ngọc th́ làm neo, c̣n tôi và
anh em bằng hữu “dám xông pha” mưa nắng dăi dầu hơn nên đă
bước những bước đầu tiên vào cuộc đời mới của ḿnh bằng nghề
Làm Cỏ.
Cũng chính từ thực tế “xông
pha” của người Việt trong hai nghề thông dụng nhất cho nam
giới là làm cỏ và nữ giới là nghề làm móng tay ở Mỹ, tôi mới
thấy được sức sống và “bí quyết” thành công của người Việt
Nam là xông xáo, tính toán và chịu khó hết ḿnh. Có 5 dân
tộc Đông Dương đồng cảnh ngộ, đang sinh sống tại Mỹ sau cuộc
chiến Việt Nam 1975, đó là người Lào, người Cam-Bốt, người
Mông (H’mong), người Miên (Mein). Sau 30 năm người Việt Nam
đă đi hài bảy dặm vượt quá xa cả bốn dân tộc láng giềng.
Với thế hệ thứ nhất (phụ huynh), có đến 85 phần trăm người
Việt đă ổn định về đời sống kinh tế và tậu măi được nhà cửa
so với ít hơn 10 phần trăm sự thành công tương tự của bốn
dân tộc vừa kể. Với thế hệ thứ hai (con em) th́ giới trẻ
Việt Nam đă vượt hẳn giới trẻ của cả bốn dân tộc Lào, Miên,
Mông, Cam-Bốt về hàng chuyên viên, chuyên gia cao đẳng, đại
học và hậu đại học.
Bởi vậy, trong một dịp tiếp
xúc mạn đàm, một người Việt gốc Chàm, gốc ở Phan Rang qua Mỹ
từ năm 1980 là ông Yang Sri, đă phát biểu: “Ba trăm năm
trước, Mỹ thắng người Da Đỏ bản xứ, cũng như nguời Việt đă
thắng người Chàm hơn 500 năm trước không phải chỉ v́ ưu thế
của lực mà quan trọng nhất là ưu thế của trí.”
Dù là trong hoàn cảnh đ̣i hỏi
sức mạnh của thể lực, trí lực của người Việt cũng thật tuyệt
vời trong cuộc tranh sống từ ba mươi năm qua trên những vùng
đất mới.
trở về CON YÊU BÁNH NẬM
trở về tập truyện
|