|


trời
hành cơn lụt mỗi năm
****
Ký ức tuổi thơ
là một thung lũng xanh, mà nơi đó thời gian đã phủ lên từng
phiến đá, gốc cây một lớp sương mù lãng đãng. Dù thực tế có
gai góc đến đâu, nhưng khi nghĩ về kỷ niệm ấu thời, những
người lớn - hiểu như là khách trần gian đang lần bước đến
tuổi già - khi nào cũng thấy "ngày xưa đó" một cách rất êm
đềm và dịu ngọt.
Phải chăng vì
thế mà suốt gần 40 năm, bốn mươi mà nhân cho mỗi năm ít nhất
nhỏ to là 5 trận lụt, thành ra có đến hơn 200 cơn lụt Huế đã
qua trong đời tôi một cách... tĩnh mà mê, xuôi tay theo "trời
xanh quen thói..." (!)
Từ những ngày
bé xí chân quê ở làng Liễu Hạ, hàng năm, tôi cũng như lũ bạn
xóm Côi, xóm Cụt, xóm Bàu chuẩn bị tinh thần "nghênh" lụt
một cách rất ...thơ! Sáp nhỏ, hình như đứa nào cũng thuộc
lòng hai câu vè "tiên tri" cá lên trời ăn sao. Chú Đoài, gã
hát lời tiên tri, miệng thường ngậm điếu thuốc lá ngọn to
gần bằng ngón chân cái, hút bập bập vài phát, rồi dắt điếu
thuốc thời Aâu Cơ lên mang tai. Khi nói vè, mắt chú nhắm
nghiền như đang vân du về một trận đại hồng thủy xẩy ra đâu
đó - không rõ từ trong hoài niệm quá khứ hay mường tượng về
một tương lai:
(Úi cha)
Sông Ngân Hà (mà) vịt lội có ngời,
(Chơ) Cá to, cá nhỏ lên trời (mà) đớp sao
(á...a)
Có nhiều đêm trăng mùa tháng tám, dưới
ánh trăng đồng quê chảy tràn lan trên rơm rạ mới, tôi nằm
giữa chiếc nong to phơi lúa ngoài sân mà vẽ ra một cảnh lụt
tuyệt vời. Tôi mường tượng thấy đàn vịt bầy đủ màu của chú
Xang, chú Hói bơi lội "có ngời" trên dòng sông trời đầy nước
bạc lung linh. Và bầy cá mở miệng tròn xoe đớp những vì sao
mọng nước óng vàng. Tôi không cần ưu tư tự hỏi mình sẽ
ngồi ở đâu khi nước đã lút tới trời! Tuổi thơ là thơ không
tuổi, nên mơ mộng và thực tế thường quyện vào nhau man man
như mây trời và áo trắng.
Bão năm Thìn (1924), lụt Năm Ba (1953),
thất thủ Kinh Đô năm Ất Dậu (1885)... là những biến cố khủng
khiếp nhất trong khái niệm về tai trời ách nước của người
dân xứ Huế.
Tôi "suýt thấy cá ăn sao" năm lên bảy
tuổi với trận lụt Năm Ba. Trận lụt được xem là lớn nhất
trong lịch sử nước lũ mưa nguồn của Huế vào thời đó. Mùa
Đông năm Quý Tỵ. Không ai nhớ mưa đã mấy ngày. Cơn lụt nhỏ
bình thường đến và sắp đi ngoài ngõ cũng chẳng làm ai ngạc
nhiên hay sợ hãi. Một đêm, tôi nghe những tiếng vọng ì ầm
như có tiếng gì chuyển động nặng nề từ dưới lòng đất sâu dội
lên. Mẹ tôi gọi đó là "sấm đất"; rồi mẹ giải thích rằng,
sấm đất xảy ra là trời đang... "đổi chủ". Ông chủ trời mới
thường hay ra oai bằng cách sai thần sấm, thần sét gõ búa
đùng đùng; bắt quyết, đọc bùa làm mưa to gió lớn.
Tôi ngủ quên trong tiếng mưa lũ xé lá bên
ngoài và chuyện huyền thoại đất trời do mẹ kể - như miếng ớt
cay giúp quên mùi mắm mặn - hay sự an ủi để đủ sức chịu đựng
của mẹ, của dân làng khi mỗi năm trời hành cơn lụt (?). Nửa
đêm thì có tiếng o Cúc la lên là nước lụt đã vô nhà. Mưa
từng cơn ào ào xối xả. Thức dậy, tôi dụi mắt ngồi co ro từ
trên giường nhìn xuống ánh đèn dầu chiếu nước đã lênh láng
khắp nhà. Mưa càng lớn, nước càng lên nhanh. Nước leo dần
lên giường, lên ghế, lên bàn, lên cái cối xay, và sáng ra
thì nước đã mấp mé khung cửa sổ. Cái giường tre mỏng manh
mỗi lúc được kê lên cao dần. "Lẽ sống" của cả bốn người
trong gia đình tôi chất gọn trên chiếc giường. Thức ăn, áo
quần, mền chiếu, bếp núc đều dồn lên trên bốn cái chân tre
ốm yếu lắc lư theo đà chao động của nước. Đến gần trưa thì
bốn vó tre già từ từ gục xuống. Thế là xong, lẽ sống chìm
sâu trong nước. Biên giới cuối cùng giữa sống và chết, giữa
ước mơ và thực tại, giữa bây giờ và vĩnh cửu là cái thang
tre run rẩy dưới sức bám của bốn người. Chỉ còn một nơi
"cao cả" nhất trong nhà là cái "tra" đựng lúa. "Tra" là cái
thùng gỗ an toàn có khung bắt dính với rầm thượng và mái
nhà, nằm phía trước bàn thờ chính ngay gian giữa. Đó là cái
kho an toàn đựng lúa và nơi cất giữ đồ quý báu của phần đông
dân quê Việt Nam. Trời lạnh, quần áo ướt đầm mà tôi vẫn
thấy mồ hôi nhỏ dòng trên trán mẹ với da mặt đổi từ xanh xao
sang màu xám khi mẹ tôi quyết định mở tra, đổ lúa xuống nước
chừa chỗ cho chúng tôi chui vào. Dòng lúa như dòng máu vàng
đẩm mồ hôi và nước mắt của tháng ngày làm ruộng chảy xuống
nước tỏa bụi mù, tung nước bọt.
Chưa bao giờ tôi thấy mẹ tôi lặng lẽ như
phút đó. Tôi ngạc nhiên thấy mẹ tôi lấy hết mo cơm bới để
dành trong góc tra từ hôm trước và ép mọi người, nhất là
tôi, "gắng ăn no cho có sức". Đã hai ngày, mỗi bữa chỉ được
ăn một vắt cơm độn với sắn lát, nay bỗng dưng được ăn cơm
trắng ấm bụng, tôi nuốt không kịp nhai với nỗi khoái cảm
tuyệt vời mà không chắc đời sẽ có được hai lần. Trong xó
tra với ánh sáng mờ mờ do nước bạc hắt lên từ khe hở trên
cùng còn sót lại của khung cửa sổ, tôi thấy mẹ tôi mở cái
tráp mây củ kỹ lấy đôi bông tai bằng thòa thời cưới hỏi xa
xưa của mẹ đeo lên. Xong mẹ bò xuống thang, lần mò tới mở
sợi dây dừa cột giàn xay lúa một nửa chìm xuống nước. Mẹ
leo lên tra trở lại với sợi dây dừa và cái mác trong tay.
Chị tôi phải ôm mẹ bồng lên tra vì mẹ bỗng run lẩy bẩy. Mẹ
tôi túm tay chúng tôi lại, giọng lạc đi: "Cột tay lại! Cột
tay lại! Chặt đòn tay trổ nóc. Chết chung..." Tiếng mẹ tôi
yếu dần trong cơn xúc động. Bảy tuổi nhưng tôi đủ hiểu mẹ
tôi muốn gì. O Cúc là người cuối cùng đưa bàn tay sũng
nước, trắng dẻ và nứt nẻ từng mảng da vì dầm nước quá lâu,
vào vòng dây thòng lọng. Tôi ấp bàn tay lạnh lẽo, tím ngắt
của mẹ vào lồng ngực bé xíu, nhưng còn âm ấm dưới hai tầng
áo ướt của tôi, cùng lúc với tiếng reo vui của chị Thuyền
như vừa khám phá ra điều gì vừa đột biến: "Nước cầm chừng
rồi mạ ơi!"
Bốn mươi sáu năm sau, từ phút "nước cầm
chừng" nên tôi còn sống sót đến hôm nay, điện thư đầu tiên
của Dũng lọt ra khỏi Huế, đến Mỹ vào lúc nửa đêm sau cơn lũ
lụt cao hơn trận lụt 1953 quá 1 mét: "Đoàn ơi! Nước đang rút
dần nhưng vùng thượng nguồn mây vẫn còn vần vũ đe dọa. Nghe
tin một làng nào đó ở Bãng Lãng bị nước cuốn sạch. Trưa nay
trước bình phong Quốc Học có hơn hai chục xác người bị nước
cuốn tấp vào bờ sông Hương vừa được vớt lên. Có cả gia đình
mọi người tay còn buộc dính vào nhau." Tôi run lên, mắt mờ
đi. Lặng người vì xúc động, tôi sờ lên cườm tay. Cảm giác
sợi dây dừa ướt quàng quanh cổ tay, phập phồng theo nhịp đập
của những trái tim thương yêu, ràng buộc, đợi chờ đã nửa thế
kỷ qua rồi sao vẫn còn nguyên vẹn. Mưa bên trời quê hương
mà cơn lũ trong lòng tôi cũng dâng lên từ phương nầy, cuống
quýt. Tội lắm. Huế ơi!
***
Ngày 2-11-1999. Tin khẩn cấp số 1: "Lũ
và lụt ào tới Huế từ lúc 4 giờ sáng ngày hôm nay.
Lúc 9 giờ sáng, nước vào cầu Kho Rèn 40 cm. Trưa, ngập vào
sân Mô-Ranh. Chiều, tất cả các phương tiện hữu tuyến và vô
tuyến đều bị ngập. Điện thoại cầm tay cũng không liên lạc
được. Đài truyền thanh và truyền hình Huế ngưng phát sóng.
Lúc 11 giờ đêm, mực nước sông Hương cao 5 mét 20. Cả thành
phố Huế chìm trong biển nước. Báo chí bình luận: Thừa Thiên
Huế đang trong cơn đại hồng thủy!"
Tôi sững sờ
nhận tin "e-mail" từ anh Hồ Đắc Duy ở Sài Gòn và tức tốc
chuyển tin cho bạn bè, anh em, người thân Việt Nam, nhất là
các "Huế kiều", rãi rác khắp các nước trên thế giới. Tôi
thức trắng đêm chờ tin khẩn cấp số 2, số 3, số... từ quê nhà
truyền đi từng 2 giờ một.
Sáng hôm sau,
và hôm sau nữa, Huế vẫn như một thành phố từ cõi âm: Lặng
lẽ và im lìm. Cho đến khi nước lũ, mưa nguồn kéo nhau về
biển, sau khi đã biến Huế thành một bãi tang thương với 321
người chết trong tổng số 527 người chết và mất tích trên
toàn miền Trung, tôi vẫn còn hướng về quê hương. Cầu nguyện.
Đúng hai tuần
sau ngày khởi đầu cơn lũ lụt miền Trung, từ giữa lòng xứ Huế,
chưởng môn võ đường Bạch Mã lại viết cho tôi: "Trời Huế nắng
ráo, đẹp - như (trời) chưa bao giờ tàn ác với Huế như vậy...
Trận lũ lụt đã cuốn phăng đi bao mạng sống của con người,
cuốn phăng đi bao tài sản, bao công trình; nhưng nó cũng đã
cuốn phăng đi những hận thù ngăn cách; để lộ ra một tấm lòng
chung, "máu chảy ruột mềm". Nhìn thực tế trước mắt, và nhìn
thực tế "một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ" đang diễn ra
khắp nơi, hướng về sự đau khổ của miền Trung, nhiều lần mình
đã khóc Đoàn ạ. Khóc, một phần vì nỗi thương tâm, một phần
vì trong hoạn nạn mà con người sống với nhau đẹp quá. Tất
cả đều chung một lòng, yêu thương, chia xẻ, một cách tự
nhiên, hồn hậu. Nếu người Việt Nam mình có một cái chi đó
đẹp đẽ, thu hút, chắc là vì mình đã được tôi rèn trong hoạn
nạn, đau thương chăng?"
Vốn đã quen
với nước lũ mưa nguồn từ trong máu thịt, người Việt khắp nơi
trên thế giới đã thức cùng với anh em, bạn bè, và đồng bào
ruột thịt qua những ngày đêm lũ lụt ở quê nhà. Hầu như mọi
người Việt xa nhà đã nồng nàn chia xẻ trước sự mất mác của
bà con không may từ những ngày đầu lũ lụt với mối thâm tình
"lá lành đùm lá rách". Tôi bỗng thấy con người tứ xứ gần
nhau hơn và thế giới xa lạ nầy thu nhỏ lại khi ghi danh cho
những sinh viên trường Cosumnes River College - những người
trẻ tứ xứ mà Việt Nam chỉ mới là một tên gọi mơ hồ trong ý
niệm - tình nguyện vào đoàn cứu trợ. Tseng, Kim, Kumagai,
Karen, Nicole, Bradley, Thanat, Hồng, Tuyết, Dũng... những
sinh viên "liên hiệp quốc" của tôi, đang nối kết với nhau
bằng một chất keo rất dễ bị lãng quên - tuy lúc nào cũng có:
Tình Người.
Nhiều nhà lý
thuyết thời danh tiên đoán rằng, với sự phát triển tột bực
của khoa học và kỹ thuật, hận thù sẽ vơi đi và tình thương
sẽ trở lại, vì con người cách nhau vạn dặm có điều kiện
tương giao và chia xẻ nên ít hiểu lầm nhau hơn. Nhờ vậy,
rồi đây thế giới loài người sẽ xích lại gần nhau thành một "Làng
địa cầu". Sau cơn lũ lụt miền Trung, tôi mường tượng thấy
một "xóm Việt Nam" đượm tình người thấp thoáng đâu đó, trong
ngôi làng kia, trên đường sang thế kỷ.
Nghênh lụt...
Không hiểu sao,
đã nhiều lần, trong những thư "e-mail" không có dấu, tôi
không cố tình mà vẫn đọc trại "ngập nặng" thành ra "ngập
nắng". Không biết vì tôi đi giữa Cali ngập nắng với tâm hồn
ngập nặng ưu tư về lũ lụt đang vùi dập quê nhà; hay tự trong
cái "tật Huế thơ" quen nhìn khốn khó, tai ương qua ánh sáng
cuối đường hầm, qua hy vọng ở cuối con đường đời ngập nắng.
Nhiều người
bạïn miền Nam thường hỏi một cách chân tình, ái ngại: "Quê
hương miền Trung các anh khổ thật, quanh năm hạn hán, mưa
dầm, gió bấc, gió Lào, thiên tai, bão lụt... có gì đâu mà
người ta vẫn bám vào đất cát để sống từ đời nầy sang đời
khác." Dường như sự "vô lý" đó là cái "vô lý" chung cho cả
kiếp người. Người Da Đỏ ở Mỹ đã quay lưng với xã hội Hoa Kỳ
giàu có và sừng sỏ của thế giới để trở về nếp sinh hoạt theo
lối cổ sơ trong những vùng núi rừng thâm u, hoang dã. Những
nhà triệu phú và tỷ phú điện ảnh lững lẫy của hành tinh nầy
vẫn chen chân nhau sống giữa miền Hollywood, một nơi mà nạn
động đất đe dọa chôn vùi không biết lúc nào. Người vùng Đài
Loan, Tokyo, San Francisco... cũng vẫn ngày hai buổi, hàng
hàng lớp lớp "đu dây tử thần" tương tự. Và nói như T.S
Eliot, làm người đã là phi lý, nhưng nếu không biết chấp
nhận cái phi lý đó thì lại càng phi lý hơn!
Nếp sống xuôi
dòng để sống còn của người Việt thường được phản ánh rõ nét
với triết lý sống chan hòa và mềm dẽo "ở bầu thì tròn, ở ống
thì dài". Mỗi cách sống không những chỉ thể hiện qua cung
cách như một triết lý hành động mà còn là một nghệ thuật
nhân sinh - một nghệ thuật đầy tính sáng tạo và được tôi
luyện qua những chặng đời bất trắc như chiến tranh, thiên
tai, bão lụt.
Phải chăng vì
thế mà dù biết ưu tư và đã đôi lần thoát chết qua những cơn
lũ lụt triền miên, vậy mà tôi vẫn cảm thấy rất sâu từ trong
vô thức, mình đã "ghiền" mùa mưa lụt ở Huế không biết tự bao
giờ.
Tuổi học trò ở
Huế, mấy ai mà không mê những ngày nghỉ học... trời cho.
Chỉ sau một đêm mưa to gió lớn, Đập Đá trước tràn lội qua
không được, đò Thừa Phủ không chèo; Kim Long, Bao Vinh, Vỹ
Dạ, An Hòa... nước nguồn cuồn cuộn đổ về: Thế là Huế lụt!
Dân Huế ngồi nhà ăn bắp rang trú mưa và chuẩn bị kê bếp,
nhấc giường cho cao hơn mà... nghênh lụt.
Hàng năm những
trận lụt xảy ra trong ba tháng: Tháng tám, tháng chín, và
tháng mười. Sau vụ gặt Hè Thu, khi "lúa lên tra, rơm lên
đụn" xong rồi là mọi người sẵn sàng chờ lụt.
Lụt đầu trong
năm, nếu là một trận lụt ở mức độ trung bình, thường được
người dân quê đón nhận môt cách đầy linh hoạt. Lụt đầu mang
đến hai nguồn lợi khá thiết thực cho đời sống là cá và củi.
Cá nước ngọt đủ loại của miền Trung đang "tức trứng", chỉ
chờ con nước nguồn đầu mùa đổ về là vượt thác để sinh đẻ.
Những hình thức bắt cá lụt đầu mùa như cất rớ (kéo vó), đặt
chẹp (đơm nơm), đặt đó, giăng lưới là phổ biến nhất và hầu
như nhà nào ở vùng nông thôn cũng chuẩn bị sẵn từ trong mùa
hè. Thời còn ở làng đi học tiểu học, tôi và các anh chị vẫn
quen trông chờ vời vợi cơn lụt đầu mùa để đặt chẹp, bẩy cá
lụt. Có năm được mùa, cá bắt được đem ướp muối đủ để làm đồ
ăn căn bản cho suốt cả mùa đông. Cá nước lụt to nhỏ đủ loại,
tươi xanh được kho nấu với sản vật rau cải địa phương ngon
đến độ... "hết buồn nỗi chi":
Măng chua
nấu cá (lụt) ngạnh nguồn,
Cơm ngon
canh ngọt còn buồn nỗi chi?!
Lụt giúp mang
của rừng về cho biển. Cây rừng ngổn ngang theo nước lũ về
xuôi. Củi rừng trùng điệp trôi theo nước tấp nập đầy đồng.
Củi lụt là củi rều, gỗ súc. Được một mùa củi rều, có thể
chất đống để dành nấu nướng suốt năm. Củi rều đối với tôi
là một thế giới muôn màu muôn vẻ của tuổi thơ. Cùng trôi
theo củi là những loại trái cây rừng như dâu, như sặc, như
chôm chôm... tươi rói, vớt lên ăn còn ngọt lịm. Từ trong
đống củi rều mang đủ vẻ phong quang và tàn tạ của rừng, tôi
vẫn tìm được những khúc gỗ trầm hương, những nhánh cây uốn
lượn mang hình muôn thú, những ống nứa già láng mượt làm sáo,
làm kèn thổi nghe vang làng chuyển xóm. Đêm mùa đông đốt củi
rều sưởi ấm có khi bất ngờ gặp những mùi hương rất lạ, những
đốm lửa xanh lửa trắng lóe lên bất ngờ, và tiếng nổ lách
tách xì xèo... thoáng một chút âm vang man dại của rừng.
Sau lụt đầu là
những trận lụt lớn, lụt nhỏ nối đuôi nhau cho đến khi "ông
trời hết nước mắt". Có năm lụt mẹ, lụt con, lụt bòn, lụt
xép... kéo dài từ đầu thu cho đến cuối đông to nhỏ, ngắn dài
khác nhau đến hàng chục trận. Thuở nhỏ, chơi hát đồng dao,
tôi thường bắt chước hát theo : "Lụt to lút ngõ, lụt nhỏ lút
đồng, lụt xép ướt lông, lụt ông ướt nhà, lụt bà ướt bếp...".
Ít ra thì giữa thế sự thăng trầm nầy, cũng có lúc ông bỗng
lên hương, "oai" hơn bà chút đỉnhø, dù chỉ là khi gặp... xui
trời hành cơn lụt! Gặp khi hai thế nước nguồn và nước rút
có lưu lượng ngang nhau thì sẽ có hiện tượng "lụt ngâm", cơn
lụt kéo dài ngày nầy qua ngày khác. Nếu lụt ngâm chỉ là cơn
"lụt bà" trước sân, ngoài ngõ thì nó sẽ trở thành dịp vui
đua ghe, bơi thúng, lội nước từ xóm nầy qua xóm kia; từ làng
trên về xã dưới tìm bạn thăm nhau trên biển nước bạc phẳng
lặng như mặt hồ. Lội nước lụt là một cái thú khó quên. Đó
là những cuộc dạo chơi ngoài trời, không chuẩn bị, không hẹn
trước, nhưng lại rất thoáng mở và đầy thú vị hiếm hoi của
tuổi trẻ Huế. Biển nước về trên đường phố. Cảm giác biển
dâu trở thành một ấn tượng thật gần gũi như thể sông núi bò
lại gần nhau mà ngày thường không có. Từng đoàn tuổi trẻ
Huế... xuống đường và xuất hiện một cách đầy gợi cảm qua bút
tả của Hoàng Dung là"Vén rèm khuê dung, xăn quần lội nước...lụt!"
Mấy mươi năm xa Huế rồi mà tôi vẫn chưa có cơ duyên để hiểu
hết "rèm khuê dung" là đôi mắt đẹp của nàng Tôn Nữ hay là
một bức màn ẩn hiện, huyền hoặc nào chưa từng ai nói đến
(?!)
Tôi là học trò
chân quê nên rất "ngán" ngôn ngữ Huế Cột cờ và kiểu nói khơm,
nói kháy, nói bóng gió, nói cà khịa, nói chữ, nói lái, nói
lưng chừng... đồi của Huế. Tuy tiếng Huế cũng là tiếng Việt
thuần túy nhưng lại có tiếng quê, tiếng dinh, tiếng các mệ,
tiếng các quan, tiếng dọc đàng (đường), tiếng hàng quán,
tiếng kẻ vạn (đò), tiếng kẻ chợ... mà đôi khi chợ Đông Ba
vẫn có kiểu nói đài các khác chợ Xép, chợ Dinh, Bao Vinh,
Tây Lộc với những cụm từ và biệt từ khó hiểu cho kẻ ở khác
vùng.
Những năm cuối
thập niên 60 có chương trình khuyến khích du sinh viên Việt
Nam về thăm quê hương. Có một sinh viên Huế đã sợ tiếng quê
mình nên đã bỏ sông nước hữu tình mà lỉnh đi mất đất. Ba Tê
(3T: Tôn Thất T.), một bạn Huế học trước tôi hai lớp du học
ở Đức, năm 67 về thăm Huế gặp đầu mùa lụt. Chàng Tôn Thất
về Vỹ Dạ rủ tôi và thằng Khôi Vịt Điên (Thằng Khôi du học ở
Canada, dân bổn xứ thì gọi là Cà-Na-Điên - "Cà Na" tiếng Tây
là con vịt - vì thế nó mới được vinh danh thành... Vịt Điên!)
đi lên vùng Đập Đá lội nước lụt. Ba Tê còn ghé phía chợ Vỹ
Dạ rước thêm ông thầy võ tóc hoa râm nhưng còn độc thân dễ
tính là thầy Đăng. Thầy trước là kỹ sư tốt nghiệp bên Tây,
làm ở nhà máy vôi Long Thọ đã về vườn. Nhà thầy ẩn sau vùng
cây lá như thảo am của quỷ cốc tiên sinh, nhưng lại có cái
bảng viết chữ mơ màng như tranh thủy mạc treo ngoài cửa rất
kêu: Thiền Đăng Cư Sĩ. Thấy tôi đứng ngắm cái bảng gật gù
ra vẻ quan trọng, thầy Đăng gục gặc đầu cười hồn nhiên nhưng
cũng đầy vẻ kiêu bạt. Thầy đưa tay ra làm thành một cánh
cung và đưa hai ngón tay trỏ, tay cái làm thanh một vòng
tròn như cố ý nói: "Chẳng có gì quan trọng cả!" Rồi thầy
giải thích nghệ thuật "nói lái" tronmg tiếng Huế. Theo
Thầy thì "Huế Lái" có ba mức độ: Lời tục tinh nghịch; lời
tục giảng thanh; lời thanh giảng tục và nói lái chân phương.
Ở đâu trong thế gian nầy cũng vậy, ngôn ngữ vừa là phương
tiện tốt nhất để hiểu nhau, nhưng đồng thời cũng là phương
tiện xấu nhất tạo sự hiểu lầm nhau. Nếu có ai hỏi tôi rằng,
điều khổ sở nhất khi đến Mỹ là gì, có lẽ tôi sẽ không ngần
ngại mà thưa: "Đó là sự trở ngại về ngôn ngữ!" Học toán,
học nghề có thể lấy tháng, lấy năm để tính; nhưng học một
ngôn ngữ mới, phải lấy cả một đời để đo cũng chưa đủ. Tuy
xuất thân cũng là thầy dạy tiếng Anh lai rai, "English for
Phe ta", thế nhưng bước đầu đến Mỹ, đôi khi gặp Mỹ đen, Mỹ
đỏ, Mỹ vàng nói âm lóng địa phương, tôi vẫn lâm vào cảnh "vịt
nghe sấm" khi tiếp xúc với người bản xứ trong sự giao tiếp
với đời sống thực tế. Mỹ là nước hợp chủng nên người Mỹ "mở
máy" ra là nói vi vu, không cần biết người đối diện qua Mỹ
đã khổ sở tập uốn lưỡi mấy lần và đã ăn bao nhiêu bánh
Hamburger để... luyện giọng, luyện tai nhưng vẫn mơ màng
nghe gió thổi bụi tre. Hơn thế nữa, học ngôn ngữ không chỉ
đơn thuần là học tín hiệu mà còn là học về văn hóa, nên có
lẽ dù cho suốt đời ở Mỹ, tôi vẫn không bao giờ có hy vọng có
thể rong chơi với tiếng người một cách mượt mà và thoải mái,
như đã hơn nửa đời tung tăng uốn lượn trong môi trường tiếng
mẹ đẻ của mình. có khí thế. Đám con yêu bánh nậm đi trước
nghênh ngang cản đường. Tứ nhân bang chúng tôi đành phải
hành xử đúng phép văn minh lịch sự, nhẩn nha ngoan ngoãn
theo sau. Tiếng vọng ồn ào náo nhiệt đằng trước dội lui
đằng sau không một chút e dè:
- Ê! Tụi bây,
con Mộng Dưới Hoa đang ra nơi tề, chờ hắn với, rồi đi tiếp...
Dăm chàng trai
sông Hương núi Ngự cũng nhiệt tình nín thở dõi tìm bóng dáng
của người đẹp. Bỗng đâu nàng Mộng Dưới Hoa đi tới. Mới
ngắm dung nhan hơi lởm chởm của nàng, thằng Khôi Vịt Điên đã
nhanh mồm bình luận:
- Mộng Dưới Ao thì có... !
Nghe đám con yêu bánh nậm chào hỏi chưa
hết câu, nàng Hoa Mộng đã nhanh nhẩu xuất khẩu thành...
"văng":
- Mụ cô tụi bây, đừng có giả bộ ngây thơ
vô số tội. Tau hết "họa" từ khuya rồi chớ bộ.
Đám con gái cười ré lên. Một nàng cao
giọng lên tiếng:
- Không tin! Trăm nghe không bằng một
thấy. Tụi bây ơi, chuyến ni phải đè con Ngọc ra khám nghiệm
mới rõ mặt trắng đen.
Dùng dằng mãi mà cũng chẳng thấy ai dám
đè cô nọ ra khám. Mãi cho đến khi tổng hợp tin tức ba bên
bốn bề từ mấy cái miệng nói tía lia như bồ chao vỡ tổ của
đám con yêu bánh nậm, phe ta mới vỡ lẽ ra rằng: Mộng dưới
hoa là "họa dưới mông". Cô bé Ngọc nọ có tiền sử bị ghẻ
ruồi dưới mông phải bôi thuốc xanh, thuốc đỏ trông như một
bức họa. Đám bạn quý biết được bí mật, bèn hào phóng tặng
cho nàng một phương danh đầy thơ mộng như vậy.
Nhìn dòng nước bạc chảy qua Đập Đá đang
còn sâu quá gối, giới người đẹp sông Hương mới ngần ngừ
nhường cho phường nam nhi tang bồng hồ thỉ cắn răng vượt
giòng lội trước. Ra giữa Đập Đá, cơn mưa lụt chợt đến và
chợt đi theo từng đám mây xám mọng nước của Huế trôi vút qua
đầu và ào ạt đổ mưa. Đám tuổi trẻ chịu trận hứng mưa bằng
cái nghịch ngợm dây chuyền tát nước vào nhau cho đến khi cơn
mưa đi qua. Tóc tai, áo quần sũng nước. Hai thằng gà Tây
bơ sữa, phốp pháp trắng da dài tóc nổi bật trong đám gà vườn
dưa mắm quanh năm, bỗng nhiên bắt mắt và trở thành đối tượng
chọc già cho đám con yêu bánh nậm. Đang tìm cách lũi nhanh
ra khỏi hang động của yêu quái sắp xé xác ăn thịt, thằng Tôn
Thất T. và Khôi Vịt Điên dạt lui vì bị mấy bà đang giặt
chiếu ở phía đầu Đập Đá thấy mặt mày hai thằng nhỏ sáng sủa
bèn e lại phỏng vấn lôi thôi:
- Nì, mấy chú nớ, nói chuyện vô duyên chớ
rỡn nước sướng hỉ! Rứa chơ rủ nhau đi mô mà có cả Thiền
Đăng Cư Sĩ nữa ri hè?
Thầy Đăng ỷ mình chỗ quen, liền xắn tay
áo vào cứu nguy cho môn đệ:
- Ới giời ơi! Có cả Thi bà Lái sĩ bị nước
lụt cuốn về đây nữa mới ngộ chứ. Đây là mấy chú nhỏ quen
thân ở xa về. Thi bà có nhã hứng thì ném cho vài câu... thơ
lái đi.
Thi bà tóc bạc, cười rất tươi, quay qua
đám hậu sinh chúng tôi nói:
- Các cháu về quê hương đi lội nước lụt
vui không? Cô và ngài Thiền Đăng ni vốn là chỗ thân tình
nên hễ gặp nhau là "thơ lái" ra từng chùm.
Hình như thơ lái của thi bà nầy để sẵn
như mấy mo cơm bới, nên cần là lôi ra liền. Bà đọc bài thơ
"Đạp chiếu" như sau:
Cúi đạp xuôi lơ muốn cạp đùi
Đời cho thứ thiệt giả đò chơi
Ai đi đó rứa, o đi đ... "ái"
Lưng rút mới buông đã muốn bơi.
Hai thằng Tây Huế xa quê lâu ngày nghe
"thơ lái", vỗ tay cười hì hì, bình luận:
- Úi dà! Thơ lái của cô chi mà vui dễ
sợ.
Thầy Đăng tủm tỉm cười, lên tiếng:
- Lại gặp yêu bánh nậm thuộc Hội Hoàng
Gia thứ thiệt rồi!
Ba Tê tròn mắt:
- Mình mà cũng có Hội Hoàng Gia nữa thầy
há?!
Thầy Đăng hỏi lại:
- Bộ ở bên Tây tụi bay không có Hội Hoàng
Gia à?
Ba Tê thật thà kể lể:
- Dạ, Royal
Academy có chớ thầy. Nhưng ai muốn xin vào hội thì phải có
bằng tiến sĩ quốc gia.
Thầy Đăng cố
nín cười giải thích:
- Đây khỏi cần!
Mù chữ cũng được vào hội như thường.
Ba Tê ngạc
nhiên:
- Thầy có nói
chơi không đó?!
Thầy Đăng phá
lên cười:
- Thiệt mà!
Thì "Hội Hoàng Gia" là "hội già mà hoang" chớ cần tới bằng
biếu làm chi cho lôi thôi nữa mấy chú!
Ba Tê than
van:
- Nói năng,
chữ nghĩa kiểu Huế như rứa thì ai mà dám sống cho nổi.
Chuyến ni chắc con phải bỏ Huế mà đi biệt mù cà cưỡng cho
rồi thầy ơi!
Không ngờ Ba
Tê làm thiệt. Sau mùa lụt nó lại trở về Đức và ở thẳng bên
đó luôn.
Rồi bẵng đi
gần bốn chục năm, mùa mưa năm ngoái, rất tình cờ tôi gặp lại
Ba Tê đang làm quản lý cho một ngân hàng ở thành phố nói
tiếng Đức Luzerne, Thụy Sĩ. Không ngờ nó lại là đứa thuộc
bài nhuyễn đến mức gặp tôi là hỏi ngay:
- Hì, mi còn
nhớ "Ai đi đó rứa... " hồi lội nước lụt Đập Đá gặp mấy bà
giặt chiếu không hè? Tau chỉ nhớ được có một câu ruột đó
thôi, mi còn nhớ chi không?
Có vẻ như tôi
còn nhớ lâu hơn nó, đọc vanh vách cả bài. Hình ảnh cả một
mùa lụt nước bạc chảy tràn qua Đập Đá rì rào trong trí nhớ.
Luzerne vào
thu, núi rừng Thụy Sĩ cao chót vót soi bóng bên những mặt hồ
nước trong xanh phẳng lặng như gương. Cả thiên nhiên đầy vẻ
kiêu sa và thanh tú đang chuyển sang vàng thu. Trời mưa tầm
tã. Hai đứa che dù đi trong mưa. Hai thằng bạn xa quê, đứa
lạc qua Tây đứa dời sang Mỹ gặp nhau, nhưng tâm hồn cố xứ
vẫn còn rất Huế. Chiều Luzerne lành lạnh, nhưng cả hai vẫn
có một nỗi ấm bên lòng để nhắc lại và lặng lẽ tìm nhau trên
nẽo về mường tượng của quê hương. Không hẹn mà gặp, cả hai
đứa quay mặt tìm nhau trong mưa, cùng nói: Nhớ Huế chi lạ!
trở về CON YÊU BÁNH NẬM
trở về tập truyện
|