|


MA HUẾ
Một ngày vào cuối tháng 3
năm 1975, sau khi lo cho gia đ́nh di tản vào Đà Nẵng, Lê Văn
Măn - thầy sử địa Đồng Khánh - và tôi quyết định sẽ chở nhau
vào Đà Nẵng vào sáng hôm sau.
Đêm nay là đêm cuối cùng ở
Huế. Đêm từ biệt thành phố thân yêu, nơi đă trở thành một
phần máu thịt của đời ḿnh.
Nếu theo tin của Cha Hoàng
hồi chiều là đúng th́ Việt Nam sẽ một lần nữa bị phân chia
từ Đèo Hải Vân. Tính từ đỉnh đèo Hải Vân bốn mùa mây phủ
th́ Lăng Cô và Huế sẽ thuộc về “Bờ Bắc”; Nam Ô và Đà Nẵng
thuộc về “Bờ Nam”!
Nếu có một người biết ngày
mai họ sẽ từ giă cơi trần gian th́ dù “đời là bể khổ”, trần
gian có đầy gió bụi tang thương đến đâu, họ cũng sẽ yêu cuộc
đời nầy biết mấy! Cũng với tâm trạng đêm cuối cùng với Huế,
chân tôi vẫn c̣n đang bước trên mảnh đất nầy mà đă nghe nỗi
nhớ mơ hồ chờ chực nơi... mô.
Dù chưa mường tượng hết cái
“mai tê” như thế nào trên “Bờ Bắc”, tôi vẫn cảm thấy tội
t́nh cho Huế. Có sự phân ly nào mà không có nỗi xót xa
riêng của nó.
Thành Phố Huế tản cư vắng hoe
vắng hoắt. Ngay cả những con chó đêm đêm đi bươi đống rác
cũng không c̣n lai văng. Măn và tôi từ phía Mô Ranh lững
thững qua cầu Trường Tiền trong cái hoàng hôn lạnh dáng mùa
Xuân của Huế. Sự vắng bóng con người đă làm cho Cầu Trường
Tiền có vẻ dài ra hun hút và ḍng sông Hương mảnh dẻ dưới
kia buồn thiu như nàng cung nữ hết thời trang điểm.
Huế hoàng hôn không người
bỗng thành là lạ. Khung cảnh thiên nhiên trở nên thầm lặng
và cô liêu như tranh vẽ của một nhà danh họa Đông Phương pha
màu thiền phơ phất trong tranh. Một vài bóng người không
thành dáng vẻ bước đi lầm lũi trong cảnh chạng vạng khiến
cho đêm của Huế trầm mặc và thâm u hơn. Tôi có cảm tưởng
như ḿnh bị nuốt chửng trong cơn đói lặng lẽ có tiếng thở
dài của Huế. Mấy ai trong một đời được đi dọc Trường Tiền
về ngă cầu Gia Hội sau hoàng hôn mà không gặp một ánh đèn,
một gánh chè, một lời “răng rứa mô tê” ǵ của Huế?! Người
Huế vẫn thường diễn đạt cảnh vắng vẻ qua h́nh ảnh "Không có
con ma mô cả!"
Thuở nhỏ ở làng đi trong bóng
tre lá ngà đen đậm, tôi sợ đủ thứ ma do người lớn kể lại.
Ma và người lẩn quẩn bên nhau gần gũi đến độ mỗi sáng ngủ
dậy tôi chạy đi t́m mấy thằng bạn trong xóm, coi thử qua một
đêm dài nó c̣n sống sót hay không? Quê tôi là vùng xôi đậu –
ngày Bảo vệ, đêm Việt minh – nên đêm nào không có tiếng súng
của hai phe bắn nhau là dân làng có cảm tưởng như có chuyện
bất thường! Rồi có những thằng bạn thân trong xóm chết v́
đạn lạc. Tôi hết sợ ma v́ thương bạn và ước ǵ gặp lại.
Quê hương tôi là đất cũ của xứ Hời nên nghe đâu dưới sông ma
rà từng lũ, trên đồng ma trơi từng bầy, trong vườn yêu tinh
từng cặp!
Lớn lên đi học ở Huế, tôi
cũng nghe chuyện ma hiện h́nh khắp nơi. Từ ngă tư Âm Hồn
đến mấy cửa cổ thành như Đông Ba, Thượng Tứ, Nhà Đồ, Cửa
Ngăn, Cửa Sập... Ở đâu cũng có vài bóng ma xuất hiện. Và
h́nh như nghe nói ai cũng thấy, nhưng chẳng ai thấy cả. Ma
Huế tô điểm cho dáng huyền thoại của Huế như những lá thư
tuyệt t́nh có những ḍng nḥe nhoẹt mà gă bị phụ t́nh cứ cho
là nước mắt.
Giữa cơn biến động, h́nh như
ma Huế cũng rủ nhau tản cư về đâu mất dạng. Giữa cảnh dầu
sôi lữa bỏng, tôi thích gặp ma vẫn c̣n hơn là không có ai để
gặp. Thế nhưng giữa thành phố vắng lặng, ma cũng không
c̣n. Có lẽ v́ ma Huế chỉ là cái bóng thầm lặng của con
người xứ Huế nên người đi ma cũng đi theo.
Tới bến đ̣ Gia Hội, đội ghe
thuyền tấp nập hai bên bờ cũng kéo nhau rời bến đi đâu không
c̣n một chiếc. Sông nước đă quen với bóng đ̣ bây giờ trơ
trụi giống cây mùa đông hết lá. Chúng tôi đi quanh quất rồi
ngồi chờ trên bến xe Đông Ba bên dưới cầu Gia Hội mà vẫn
không thấy bóng người lai văng. Tôi ước chi có tiếng người,
dù là tiếng hục hặc căi nhau của mấy bà bán cá.
Hai đứa cùng đốt thuốc.
Trong cái thanh vắng rờn rợn của một thành phố gần như hoang
phế, khói thuốc phất phơ là dấu hiệu của hơi thở con
người. Bao nhiêu ngh́n năm trước, trong cơi mịt mù của thế
giới ban sơ, có lẽ con người cổ sơ khám phá ra thuốc lá trên
đường đi t́m bạn. Người bạn gần gũi đầu tiên là hơi thở:
Là hơi khói, hơi sương, hơi hoa, hơi lá, hơi mốc, hơi rêu...
Và hơi thuốc lá là người bạn của hơi thở nồng nàn nhất mà
con người có từ dạo đó. Nhưng hơi thuốc nguyên thủy cũng
như t́nh yêu Adam , đó là những mảnh hạnh phúc treo trên đầu
sợi tóc. Xa quá không đủ ấm mà gần quá sẽ thô đi. T́nh yêu
thô đi th́ sẽ mất dần hương hoa của hạnh phúc; hơi thuốc thô
đi sẽ thành thói quen vật lư hành hạ thân xác và niềm vui.
Hơi thuốc của Măn và tôi không biết có đủ sức làm cho một
ḥn sỏi nào đó của thành phố ấm lại không, nhưng rơ ràng
đang trở thành dấu hiệu của tiếng chim gọi đàn nhanh chóng
nhất. Trong một thoáng, không biết từ đâu, đă có người chèo
đ̣ cặp bến. Người chèo đ̣ là một ông lăo. Ánh nước chiều
tối hắt lên không đủ soi rơ râu tóc ông có bạc đến cỡ nào
nhưng giọng nói c̣n âm vang sâu và ấm:
- Thiệt là quư nhơn pḥ trợ.
Tui thèm thuốc đứt sợi tóc cả ngày mà không t́m ra một chỗ
bán thuốc. Hai cậu có cho xin một điếu hay cho tui hút ké
ít hơi cũng được.
Tôi ch́a gói thuốc Capstan
c̣n đầy ra mời ông lăo:
- Dạ, xin mời bác cứ tự nhiên
dùng.
Ông lăo cầm điếu thuốc trên
tay với dáng trân trọng như tiên ông cầm xích trượng. Khi
khói thuốc đă cùng với hơi người bay bay trong gió đêm lành
lạnh, những người cùng cảnh ngộ thường cảm thấy gần nhau
hơn. Chúng tôi tṛ chuyện và trở thành ba người bạn đồng
hành với nhau một cách gần gũi, tự nhiên. Hoàn cảnh thường
đóng một vai tṛ “lên men” trong t́nh cảm. Theo lời mời của
ông lăo, chúng tôi quyết định ngủ đ̣ đêm cuối cùng ở Huế.
Ông Lăo – bác Đối – đă từng
là vạn trưởng vạn đ̣ Trường Độ. Trong sự chất phác của một
người xuất thân từ vùng quê cày sâu cuốc bẩm, bác Đối c̣n có
thêm sự khôn ngoan lanh lợi đường phố và sự lịch lăm, bất
chấp của giới giang hồ. Cứ nghe bác Đối nói luôn miệng câu
triết lư b́nh dân, rằng “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết
là sống”, tôi nói đùa với Bác:
- Biết rồi! Mệt
lắm, nói măi… (h́ h́). Nhưng thế nào mới gọi là biết hả
bác? Mà thiệt t́nh bác đă biết chưa?”
Vừa chống đ̣ ra khỏi bờ, ông
lăo vừa cười giọng kiêu bạc, nói một cách tự tin:
- Bà con đua nhau chạy thục
mạng hết mà tui c̣n đây cũng tại v́ tui “biết”. Biết cha mẹ
ḿnh nghèo, không đủ sức cho ḿnh ăn học tới nơi tới chốn
nên ḿnh khổ. Dẫu Tây, Tàu, Mỹ, Nhựt có vô đây th́ ḿnh
cũng đi làm cu li kiếm sống thôi. Ai có lên cầm quyền đi
nữa th́ sáp dốt như tui cũng chỉ thủ phận làm tôi làm mọi
lau xe, xách cặp cho họ măn đời. Mẹ kiếp! Cong lưng mà
chạy cực c̣n chạy theo. Tui già rồi, chết c̣n chưa sợ th́
c̣n sợ ai mà phải trốn tránh cho mệt xác hè!
Ông Đối kềm sát chiếc đ̣ con
vào bờ hàng rào thép bao quanh một chân cầu Trường Tiền bị
găy từ gần 10 năm trước. Ông lăo nói như lên giọng trần
t́nh:
“Đời tui chỉ mơ được neo đ̣
nằm ngủ dưới chân cầu Trường Tiền một đêm thôi. Tui ở vạn
đ̣ hơn 60 năm mà chưa có lần nào được dừng lại đây cả. Phe
nào lên cầm quyền cũng sợ kẻ thù của phe kia đặt bẫy gài ḿn
giật sập cầu, nên không ai được phép lảng vảng quanh đây cả.
Thù chi mà thù dai dẳng ác ôn rứa không biết?! Chừ th́ khỏe
rồi. Trên có trời, dưới có nước, giữa có ta... tha hồ nằm
ngủ...”
Tâm trạng hiêu hiêu an hưởng
một chút thanh b́nh của ông già suốt một đời lầm lũi trong
chiến tranh thoáng qua rồi chững lại và chợt tắt. Bên nầy
ông Đối vừa bật lửa thắp thuốc th́ phía bên kia bờ sông
Hương cạnh Câu Lạc Bộ Thể Thao lửa cũng chớp lên theo tiếng
nổ ầm ầm. Măn là dân sử địa nên có vẻ đă quen với chiến
chinh, dù là chiến chinh trong sử sách. Măn hét lên:
- Pháo kích! Pháo kích! Nằm
rạp xuống hết!
Lăo Đối cũng như hai chúng
tôi, những khái niệm mơ hồ “khôn” hay “dại” có ích ǵ cho
phút nầy. Dường như chỉ c̣n “biết là sống” nên lập tức nằm
bẹp xuống sàn đ̣.
Tiếng đạn pháo kích chợt xa,
chợt gần, rồi ngưng hẳn. Tiếng Măn báo động:
- Không biết bom đạn từ phía
nào tới, nhưng chắc chắn mục tiêu pháo kích là để đánh sập
cầu Trường Tiền. Ḿnh c̣n nằm đây là chết cả đám. Không
khéo lại mang tiếng chết v́ đi ngủ đ̣ nữa th́ lại càng bị
tai tiếng cả đời. Bác Đối ơi! Dọt lẹ ra khỏi vùng nguy
hiểm nầy càng nhanh càng tốt đi bác!
Lăo Đối, miệng th́ lầm bầm
“Sống chết có số. Trời kêu ai nấy dạ!” Nhưng tay chân th́
lẹ làng mở giây, chống đ̣, cố thoát ra khỏi ṿng nguy cấp,
không dám ngoái đầu trở lại, có lẽ v́ sợ trời cao kêu ẩu ...
trúng tên!
Tiếng pháo kích đâu đó vẫn ́
ầm như tiếng chày nện trong sương giữa thành phố nín thinh.
Đêm cuối cùng ở Huế. Dù Huế đăvắng bóng con người, đă nằm
im thin thít phía Đông Trường Sơn như cô bé ngoan hiền núp
sau áo mẹ mà thù hận từ đâu vẫn luông tuồng kéo tới.
Bác Đối neo thuyền ven bờ Cồn
Hến. Thiên nhiên chỉ chực chờ con người rút lui khỏi mặt
đất là vùng lên chiếm quyền ngự trị. Sông Hương, Đập Đá,
Cồn Hến Đông Ba... không c̣n tiếng người xao động. Dù chỉ là
tiếng guốc mộc đă ṃn, kéo lê lẹc xẹc trên đường; tiếng sanh
lóc cóc rao phở, tiếng rao chè đậu xanh đậu váng trong đêm
khuya cũng không c̣n. Thay vào đó, tiếng vọng của vũ trụ,
tiếng muôn loài sinh vật, tiếng gió, tiếng sóng, tiếng cây
xào xạc... dấy lên rộn ràng trong bóng tối. Tôi có cảm
tưởng như ḿnh bị nhốt giữa ḷng thuyền để chờ ngày khai
thiên lập địa lần thứ hai. Cảm giác êm đềm ngủ đ̣ trên
gịng sông không c̣n nữa. Tưởng đêm không người im vắng sẽ
ngủ ngon, ai ngờ cả ba chúng tôi đều thức trắng để đối diện
với một thứ uy vũ vô h́nh nhưng mănh liệt pha một chút huyền
bí gần như đe dọa của Huế về đêm.
Gần sáng, bác Đối tâm sự:
- Sáng mai, hai cậu đi về Nam
c̣n tôi ở lại. Hai cậu cũng là những đứa con Nguồn Bồ như
tôi thôi. Suốt 15 năm qua, tôi chứng kiến từng đoàn những
đứa con Nguồn Dinh ra đi và những đứa con Nguồn Bồ ở lại.
Không khéo rồi đây những đứa con Nguồn Bồ sẽ kéo về đây cầm
cương, thúc ngựa điều khiển Huế cho mà coi!”
Măn và tôi vẫn chưa hiểu rơ
khái niệm “Nguồn Dinh” và “Nguồn Bồ” của ông Lăo có nghĩa
như thế nào. Lăo Đối giải thích:
- Con Nguồn Dinh cá ḱnh cá
chép
Con Nguồn Bồ con tép con cua
Con Vua th́ lại làm vua
Con săi ở chùa th́ quét lá đa
Bao giờ đất nổi can qua
Con vua thất thế lại ra quét
chùa...!
Theo khái niệm của Lăo Đối
th́ “con Nguồn Dinh” là những người Huế “cột cờ”, sinh ra và
lớn lên tại thành phố Huế. C̣n “con Nguồn Bồ” là những
người gốc Huế nhưng sinh đẻ ở nơi khác, xứ khác ví như ḍng
sông Bồ từ Lại Bằng, Phú Ốc chảy quanh co bao bọc phía Đông
Bắc thành phố Huế mà vẫn không chảy vào ḷng xứ Huế.
Và sáng hôm đó, ba đứa con
Nguồn Bồ của Huế bịn rịn chia tay nhau trên bến sông Hương.
Kẻ ở lại chẳng mong ǵ ngày đi và kẻ ra đi cũng chẳng hy
vọng có ngày trở lại... Khi Huế sắp mất trong đời là khi Huế
hiện về trong ḷng chan chứa nhất. Tôi muốn thu hết h́nh
ảnh Huế lần cuối nhưng Huế bỗng vỡ tan và chẳng c̣n chi cả.
Ḷng tôi, trong phút chia tay với Huế, chơi vơi như ḍng
nước có những mảnh Huế là bóng trăng tan.
r
Ngày 26 tháng 3 năm 1975,
quân đội miền Bắc làm chủ t́nh h́nh từ phía Nam đèo Hải Vân
trở ra. Huế hoàn toàn trở thành “Bờ Bắc”.
Không lâu sau đó, “Bờ Bắc”
lan rộng vào Đà Nẵng và các tỉnh phía Nam trước khi Sài G̣n
thất thủ vào ngày 30 tháng 4.
Tôi trở lại Huế khi thành phố
chỉ mới có lơ thơ những gia đ́nh hồi cư lẻ tẻ. Vẻ hoang
vắng và xơ xác chạy dài theo dăy đường phố vắng vẻ với những
căn nhà lầu, nhà trệt đóng cửa im ĺm từ cầu Mới đến cầu Gia
Hội. Những con đường xứ Huế bỗng lạ đi với sự hiện diện của
những người bộ đội. H́nh như mắt tôi chưa quen với màu xanh
rừng của những chiếc mủ cối, nón tai bèo, bộ quân phục rộng
và đôi dép lốp xe của một thời xa xưa hiện về. Họ trông có
cái vẻ chất phác của“lính làng” hơn làdáng nhanh nhẩu của
“lính phố”. Có dịp bắt chuyện với một vài người lính và cán
bộ, tôi vẫn không cảm thấy gần gũi hơn. Cách nói và thế nói
của họ nghe có vẻ lạ tai đối với tôi thời đó v́ không phát
xuất từ cái “tôi” riêng tư mà hầu hết từ cái “ta” tập thể.
Tôi t́m về trường cũ, Đại học
Sư phạm Huế, gặp lại nhiều người bạn học cùng khóa vắng bóng
lâu ngày. Một số thoát ly lên núi mới trở về, một số chuyển
nghề, một số c̣n ở lại với nghề cũ như tôi. Trong những ngày
xôn xao trong cảnh tranh tối tranh sáng như thế nầy, tôi
nghe người ta sôi nổi nói về ủy ban nầy, lực lượng kia, cơ
sở nọ nhiều hơn là nói chuyện sách đèn. Trong một vận hội
và một số phận mới, h́nh như rất hiếm người nghĩ đến chuyện
trở về đứng trên bục giảng.
Sau mấy ngày “chiến đấu” mướt
mồ hôi để giành giựt một số sách quư trở lại cho thư viện
Đại Học Huế từ tay của một số bà con ở dưới đ̣ ven sông
Hương ôm sách thay cho củi đốt nấu ăn đang khan hiếm, tôi
nhận đi dạy học lại. Học sinh tấp nập hồi cư mà thầy cô các
trường ở Huế vẫn c̣n cao chạy xa bay đâu hết. Buổi họp hội
đồng giáo sư “Bắc Nam” đầu tiên sau ngày hồi cư do anh Dương
Văn Lộc, vừa là cựu sĩ quan miền Nam biệt phái về trường dạy
học trước 75, vừa được coi là “quần chúng tốt của cách mạng”
điều khiển. Một nửa thầy cô giáo hiện diện trong buổi họp
là giáo sư miền Bắc gọi là “giáo viên chi viện”. Anh Lộc có
vẻ ngượng nghịu với danh xưng “đồng chí” thay cho anh chị
hay quư vị như thường lệ. Người ăn nói lưu loát và phát
biểu mạnh dạn nhất trong buổi họp nầy là anh Lê Huy Linh,
một “giáo viên chi viện” từ HàNội với một giọng Bắc sắc và
chuẩn như xướng ngôn viên đài phát thanh. Linh cũng khoảng
cùng tuổi với tôi, thuộc gịng dơi Lê Huy tiếng tăm ở Huế
nhưng lại ra đời và lớn lên ở Hà Nội và nói theo danh từ của
Lăo Đối th́ đối với Huế, Linh cũng là “đứa con Nguồn Bồ” như
tôi thôi. Tôi nhắc đến Lê Huy Linh v́ hơn 10 năm sau, Linh
trở thành thầy hiệu trưởng thứ hai của trường Đồng Khánh.
Một đứa con Nguồn Bồ khác của
Huế là Hà Thúc Định. Định cũng trạc tuổi với tôi, thuộc
gịng dơi Hà Thúc thế gia vọng tộc của Huế. Định cũng sinh
ra và lớn lên ở Hà Nội, nói giọng Bắc dẽo quẹo như chè đậu
váng cáng bột lọc. Định hát hay, đàn giỏi, chơi bóng tṛn
xuất sắc với cú sút góc tung lưới rất điệu nghệ nên thường
đứng cánh phải (anh Châu Trọng Ngô đứng cánh trái) trong đội
banh Đồng Khánh. Tôi nhắc đến Định v́ anh là một hiệu trưởng
“con trai” đầu tiên của lịch sử 85 năm trường Đồng Khánh.
Tôi chơi với cả Linh và Định
nhưng gần gũi với Định hơn v́ bản chất nghệ sĩ và tính lăng
tử của chàng ta. Ngay sau khi tôi và Hồ Hữu Hạnh, hai gă
thầy giáo miền Nam duy nhất bị đuổi ra khỏi trường Đồng
Khánh trong đợt “biên chế” cuối cùng của ty giáo dục B́nh
Trị Thiên năm 1977, th́ mối giao t́nh phóng khoáng của chúng
tôi và Định vẫn không có ǵ thay đổi, mặc dầu trong buổi
giao thời khó khăn, nhiều đồng nghiệp, nhất là đồng nghiệp
miền Nam, đă tạm lánh xa chúng tôi v́ sợ họa lây. Định dạy
toán nhưng lại nói chuyện văn chương giàu suy tưởng. Tôi
c̣n nhớ là Định thích thơ Hoàng Cầm, Nguyễn Bắc Sơn và tŕnh
diễn trên sân khấu bài “Quê Em miền Trung Du...” rất đạt.
Sau khi cô “dâu Bắc” Nguyễn
Thị Ngọc Bích của Huế làm hiệu trưởng Đồng Khánh, theo chồng
về Kinh Bắc nhận chức to hơn th́ Hà Thúc Định lên làm hiệu
trưởng Đồng Khánh. Tính từ thời ông Tây bà Đầm c̣n xi lô,
xi la ở trường Đồng Khánh th́ đây là thầy giáo đầu tiên lên
làm hiệu trưởng thay cho các cô giáo có truyền thống lâu đời
ở chức vụ nầy.
Trong một bầu không khí hết
sức đặc biệt của miền Nam sau năm 75, Định được xem là một
người có phong cách rất thích hợp được hầu hết các giáo sư
trong trường quư mến. Với lối ăn nói nhỏ nhẹ và cách cư xử
khéo léo, tế nhị, Định đă kéo tập thể các thầy giáo và cô
giáo Bắc Nam gần lại với nhau (ít nhất th́ cũng trong môi
trường vật lư!). Định thường dùng danh xưng anh, chị thay
cho tiếng “đồng chí” c̣n xa lạ đối với dân miền Nam thời bấy
giờ.
Rồi sau 10 năm xa Huế, tôi
về lại Huế trong mùa Tết 1992. Tôi ghé đến trường Đồng
Khánh thăm Định và các đồng nghiệp cũ. Định và gia đ́nh vẫn
ở trong căn nhà hiệu trưởng bên phải cửa vào của trường Đồng
Khánh. Điều thú vị là hai đứa đều không hẹn mà gặp trong hai
chiếc áo vét nỉ “Made in Taiwan” cùng màu, cùng cỡ, cùng một
kiểu như nhau. Định tâm sự:
- Thời chiến tranh, ḿnh ở
trong t́nh thế vào sinh ra tử cũng đă nhiều, nhưng vẫn thản
nhiên bước tới, không hề có cái cảm giác là lạ như ở trong
ngôi trường nầy, nhất là ban đêm...
Tôi không hỏi thêm “là lạ”
là như thế nào và hai đứa chở nhau qua Thành Nội uống cà phê,
nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất cho đến khi chia tay.
Sau nầy, khi nghe tin Định thọ nạn ngay phía trước cổng
trường Đồng Khánh, tôi chợt liên tưởng đến một khung cảnh
Đồng Khánh về đêm: Vắng lặng, thâm u, với những mảnh đèn
điện lắt lay v́ lọc qua những tàng cây xanh đong đưa với gió
núi Trường Sơn thổi về. Có chăng những mảnh Liêu Trai trong
mắt nh́n hay trong ư nghĩ đă làm Định mang cảm giác “là lạ”
với ngôi trường có rất nhiều “con yêu bánh nậm” nầy?!
Hai năm sau kể từ lần cuối
tôi gặp Định, tính cũng khoảng 10 năm từ ngày lên làm hiệu
phó và hiệu trưởng, Định bị tai nạn xe Honda khoảng 8 giờ
tối và chết trong bệnh viện. Lê Huy Linh lên làm hiệu
trưởng Đồng Khánh thay cho Định và cũng non 10 năm sau kể từ
khi giữ chức hiệu phó và hiệu trưởng, bị tai nạn xe Honda
khoảng 8 giờ tối và chết trong bệnh viện.
Vài chi tiết trùng hợp ngẫu
nhiên giữa hai cái chết của hai vị hiệu trưởng Nam giới đầu
tiên trong 85 năm lịch sử trường Đồng Khánh đă làm cho những
người thường quan ngại đến chuyện thần linh ma quái phải vất
vả suy diễn và kháo nhau về sự “huyền bí” trong ngôi trường
“Âm thịnh Dương suy” nầy.
Thời c̣n dạy học ở trường,
có những lần họp hành về muộn, nghe những nhân viên lâu năm
của trường như anh Hường, anh Phẩm, chị Cúc, chị Mơ... kể
“chuyện ma Đồng Khánh”, tuy tôi cố không tin nhưng vẫn có
một cảm giác rờn rợn khi một ḿnh nh́n quanh những bức tường
mầu hồng chuyển thành màu tím sau màn mưa. Dưới tàng cây
xanh trở gió và ánh đèn vàng hắt bóng tạo ra một ảo giác như
có những người con gái áo trắng xỏa tóc nói chuyện ŕ rầm
với bóng đêm từ trong các pḥng học cửa khép kín.
Anh Hường, nhân viên phụ
trách âm thanh và ánh sáng của trường Đồng Khánh lại giàu
tính hoạt kê hơn khi anh cho rằng những cô, thầy độc thân
lâu ngày như cô Lưu Ty, cô Kim Cúc, cô Minh Tuyết, cô Huy
Hoàng, thầy Châu Phan, thầy Đ́nh Niên, thầy Hữu Hạnh... đều
“có tà”. Có tà, nghĩa là được hay bị những người ở thế giới
vô h́nh yêu thương. Muốn “xả tà” th́ phải có chồng hay có
vợ. Tôi hân hạnh dự lễ “xả tà” của người bạn là thầy Hữu
Hạnh không lâu sau đợt “kiểm tà” của anh Hường... C̣n những
thầy cô khác, đă 30 năm rồi, kẻ c̣n người mất, không rơ ai
đă có cơ hội “xả tà” ở thế giới nầy hay thế giới bên tê!
Huế là thành phố cổ
duy nhất ở Việt Nam có đến hàng trăm ngôi chùa cổ. Cái giao
t́nh của quá khứ và vị lai tuy không có h́nh thù rơ rệt
nhưng vẫn trôi chảy luân lưu bằng cảm nhận qua giọng nói và
điệu sống trầm và lặng của Huế. Chỉ cần ra khỏi thành phố
Huế chừng mười cây số là đă nghe giọng nói khác, lối sống
khác từ làng nầy qua làng kia nhưng nét nổi bật vẫn là sự
ngự trị của đ́nh chùa, am miếu. Dù là đạo Phật, đạo Chúa,
“đạo” thờ cúng Ông Bà hay là một h́nh thức sùng bái tâm linh
nào khác ở Huế th́ cũng đều có vẻ “thật” và sâu hơn các nơi
khác có lẽ v́ Huế thường xuyên nhận chịu những tai trời ách
nước. Sự bất hạnh là động cơ tâm lư mạnh nhất mang thần
linh xuống cơi trần trà trộn bàng bạc với con người. Hai
trường Đồng Khánh và Quốc Học “nổi tiếng” nhiều ma: Tinh
le, tinh đèo đèo, đồ yêu, đồ quỷû, yêu bánh nậm, ma t́nh, ma
hận ... của Huế đều mang đậm tính người và có vẻ... lăng mạn
rất nên thơ! Ma Huế “hiền” v́ không mang bản chất ác quỷ
như ma cà rồng, thích trêu ngươi như ma trơi hoặc mang tâm
địa tối tăm như ma xó, ma bùn.
Ma Huế trẻ nhất trong giới ma
quỷ địa cầu, v́ đa số những con ma được liệt vào hàng linh
hiển nhất thường thuộc lứa tuổi vị thành niên hoặc ít nhất
th́ cũng là độc thân chưa bị "đọa" vào đường t́nh sử ở trần
gian. Có lẽ v́ thế mà điệu hát chầu văn để gọi hồn ở Huế
cũng giật gân như điệu Rock’n Roll và điệu nhảy múa lên đồng
cũng mang vẻ rậm rật, bứt phá rất trẻ trung của điệu nhảy…
Disco. Ma Huế cũng có giai cấp xă hội như người sống: Ma
quư phái, ma b́nh dân và ma đồng bóng. Ma “quư phái” xuất
thân là những cô gái gịng dơi “con nhà”. Tất nhiên là phải
vừa đẹp, vừa lăng mạn, vừa chưa chồng và cũng chỉ xuất hiện
rất chọn lọc tại những nơi xa mùi tục lụy như trường Đồng
Khánh, Thành Nội, Jeanne d’Arc... Ma b́nh dân dễ tính hơn
nên xuất hiện một cách xà bát tại bất cứ nơi nào có âm binh
tùy thích. Ma chuyên nghiệp th́ chỉ xuất hiện tại những am
đền đồng bóng. Ma đồng bóng nổi tiếng như bà chúa Thiên Y A
Na, cô Ba Âm Hồn, cô Tư Mả Trạng, cô Chín Thượng Ngàn...và
về phía ma nam là những ông “Trạng” vốn là những thai nhi và
những cậu Tài, cậu Quư khi nhập xác đồng c̣n nói ngọng!
Ma Đồng Khánh vẫn mặc áo dài
tha thướt trong đêm khuya, vẫn làm dáng, xỏa tóc khiêu vũ
giữa sương trăng. Nếu cùng lắm th́ cũng tới mức khóc nỉ non
trong đêm vắng hay hát khúc Nam B́nh đầy thương cảm như
“chuyện ma” của người đời kể lại... Bởi vậy, tôi không tin
ma Đồng Khánh “ác nhơn” tới mức là thủ phạm lôi kéo hai
chàng hiệu trưởng lưu linh đầu tiên của trường Đồng Khánh về
cơi “bên tê” với ḿnh như kiểu tin đồn tùy hứng của nhân
gian.
Có người lại đi xa hơn cho
rằng, sợ những đứa con “Nguồn Bồ” của Huế không đủ oai lực
để thắng những tà lực yêu quái đang ẩn nấp trong bóng tối
trăm năm của trường Đồng Khánh - Quốc Học nên cần có một
chàng trai Huế toàn ṛn – nghĩa làø phải sinh đẻ tại Huế như
kiểu muốn làm tổng thống Mỹ th́ phải sinh đẻ tại Mỹ – lên
làm hiệu trưởng th́ mới đủ nội lực thâm hậu đển chiến thắng
“nữ âm binh”! Hoặc muốn cho an toàn hơn th́ không ǵ bằng
mời nữ nhân làm hiệu trưởng để cho “âm lực trị âm binh” th́
cảnh thái b́nh thịnh trị trên sân trường phượng hồng Đồng
Khánh mới trở lại êm đềm như non một thế kỷ đă đi qua.
Cũng có thêm giả thuyết h́nh
thành bởi thế hệ Đồng Khánh “60” cho rằng, đă gần 100 năm
sau, cái tên Đồng Khánh vốn gắn liền với ngôi trường áo dài
tím-trắng nhiều hơn là mang biểu tượng cho một vị vua triều
Nguyễn. Danh xưng Đồng Khánh đă trở thành một mỹ danh của
Huế, một thế giới tươi mát với những pḥng học đầy Con Yêu
Bánh Nậm. Đồng Khánh cũng là niềm tự hào của học tṛ Huế
và giới sách đèn bút nghiên trong cả nước, thế th́ tại sao
phải thay đổi nó đi thành “Trưng Trắc” như thời sau 75 và
“Hai Bà Trưng” thời hiện tại. Sự khai sinh cái mới chỉ v́
vụ h́nh thức và định kiến, bất chấp nếp cũ và nhân tâm sẽ
làm cho con người buồn ḷng và thần linh nổi giận. Kiểu nổi
giận của thần linh ở Huế là nếu nhẹ th́ “ngài quở” mà nặng
th́ “thần vật chết tươi...”! Khi tâm lư suy diễn trở thành
một phần đức tin th́ lư luận sẽ trở thành phù phiếm. Với
t́nh cảm thuần túy, họ chỉ muốn cái tên trường Đồng Khánh
được khôi phục một cách tự nhiên như mua vôi chợ Quán, chợ
Cầu; như châu về Hiệp phố.
Ham thay đổi như người Mỹ,
khoái bắn súng như cao bồi Texas, đại ngôn và thích dùng
danh từ đao to búa lớn quảng cáo như giới chính trị và kinh
doanh tài nguyên ở California thế mà khi chiếm được đất đai
từ tay người Pháp, người Mễ Tây Cơ, người Da Đỏ rồi, họ vẫn
để nguyên tên những thành phố, ḍng sông, rặng núi, di tích,
trường học mang tên Tâây, tên Mễ, tên người Da Đỏ vốn có từ
muôn năm cũ, có khi lại là tên của kẻ cựu thù. Đi từ thành
phố Baton Rouge, Del Paso, Los Angeles, San Francisco; qua
những vùng Cheyennes, Apache, Chippewas người ta sẽ thấy
ngay điều đó. Chính nội dung và lịch sử làm vinh danh cho
cái tên chứ không phải điều ngược lại! Bởi vậy, trả lại tên
Đồng Khánh cho ngôi trường xưa sẽ là một việc làm rất có ư
nghĩa mang đậm tính văn hóa, phát huy tinh thần giáo dục và
kết hợp hài ḥa về tâm lư.
Khái niệm về ma có khắp nơi,
nhưng Ma Huế hay ma Đồng Khánh là sản phẩm của tâm lư ẩn ức
lâu dài từ nếp sống đều đặn trong một khung cảnh đượm màu
lăng mạn. Đó là một phản ứng tâm linh giữa ước mơ và hiện
thực. Ma, quỷ, yêu, tinh cũng là phương tiện du lịch đầy
viễn mơ của tâm lư ức chế, là cái bóng ảo ảnh của con người.
Ma Đồng Khánh có khi cũng chỉ là cái bóng lưu li của cô nữ
sinh Đồng Khánh. Cái bóng đó sẽ thành nỗi ám ảnh dằng dặc
để tùy theo sự suy diễn hay tưởng tượng phong phú của từng
người mà phóng chiếu thành “ma”. Thầy hiệu trưởng tương lai
của trường Đồng Khánh hẳn sẽ có lần tự hỏi ma Đồng Khánh là
chuyện đùa hay thật ?! Nếu đùa th́ sao lại có người thấy
ma, mà nếu thật th́ ma đâu không thấy; nếu thấy th́ không
c̣n là ma, nếu ma th́ không c̣n thấy được? Những câu hỏi
“xàng quay” như thế sẽ làm cho ḍng suy tưởng của con người
sôi động hơn, v́ ít ra, th́ dù có một thực tế ảo để tựa vẫn
c̣n hơn chơi vơi hoài giữa khoảng hư không.
Có lẽ Huế cũng cần có “ma” để
làm hương hoa trang điểm cho ḍng tưởng tượng. Nhưng Huế
lại không cần có “quỷ”, v́ quỷ là những con ma không ra hồn…
ma nên phải làm quỷ để chọc phá cuộc đời! Ghé Huế là ghé
lại cố quận của Huyền Trân Công Chúa trên một xứ Hời Chiêm
quốc, nên dẫu sao th́ ma xuất hiện như những đốm vui giữa
một Huế buồn chi lạ.
trở về
CON YÊU BÁNH NẬM
trở về tập
truyện
|