|


ngày
đó
Viết cho một ḍng sông nhớ
nguồn
và cho những cây thông ngày
đó nay đă thành rừng kỷ niệm.
Khác với Vi Cố ngày xưa có
ông Tơ hồng Nguyệt lăo xe duyên với cô bé hàng xóm, ngày
nay tôi được mấy gă Ngưu lang trên đồi thông Từ Hiếu “vô
duyên” chiếu cố. Trong cuộc hẹn ḥ đầu tiên để mở trang t́nh
sử với cô em Đông Ba, mấy chàng mục tử đă “ác nhơn” mở bánh
xe trước, cùng mượn tạm cái đèn pha và cục “dynamo” từ chiếc
xe đạp mà cô em vừa mới mượn của Ba.
H́nh như Huế là nơi
không có chuyện t́nh lăng mạn và sướt mướt kiểu Romeo và
Juliette v́ khi chàng Romeo chưa men theo được bờ tường, dù
trong nhà Juliette chưa rơ th́ ngoài ngơ cũng đă hay rồi.
Bởi vậy, sau biến cố đồi Từ Hiếu th́ chuyện t́nh Đông Ba đi
qua một khúc ngoẹo khác. Cô em Đông Ba đă để lộ bí mật “có
bồ”, nên lập tức bị phong tỏa. Các bà mẹ Huế ỏ gần Tử Cấm
Thành nên cũng chịu hơi hưởng ít nhiều của nội phủ mà giữ
con gái ḿnh một cách cẩn mật như thái giám giữ cung phi!
Sáng em đi học có anh trai đi kèm, trưa về có ba hộ tống và
cuối tuần th́ ra chợ Đông Ba coi hàng giúp mạ. Có lẽ nhờ
vậy mà các nàng con gái Huế tuy không học kinh Dịch nhưng
rất thuộc ḷng nguyên lư “cùng tắc biến, biến tắc thông...”.
Nhân vật làm phép biến hóa
trong câu chuyện t́nh Đông Ba là o Thiệt giúp việc không
biết lấy một chữ mô tê làm thuốc. O t́nh nguyện làm công
việc chim xanh với tinh thần năng nỗ và đam mê như chính
ḿnh đang nhập cuộc. Cô em Đông Ba và tôi viết thư cho nhau
“dày” đến mức o Thiệt phải lên tiếng, “Viết sưa sưa cho tui
thở với!”. Sau gần một tháng, cuốn tập vở ca-rô 200 trang
hiệu “Cyclo Máy” của tôi gần sạch láng. Để bù trừ cho sự xa
mặt mà chẳng cách ḷng, lời lẽ trong thư đủ mùi vị ngọt ngào
pha chút chua chua, chát chát, công thêm phần…... nhỏng nhẻo.
Chạy chưa giáp ṿng con đường t́nh sử, phía Đông Ba bỗng cảm
thấy ḿnh “hư”! Cô em viết: “Em hư quá, dạo nầy làm bài tập
ở nhà cứ trật lên trật xuống hoài. Ḷng dặn ḷng là cứ 3
ngày mới viết thư một lần, chừ thành ra viết 3 lần một ngày...”
Tôi cũng chẳng hơn ǵ, nhưng phải ráng ra uy tập làm “cao
thủ”, bèn khuyên: “Th́ cứ để dành viết mỗi tuần một lần cũng
được. Cũng hơi buồn đó nhưng ráng đi rồi sẽ quen. Học đi
nhé. Ngoan!” Ai dè gậy ông đập lưng ông. Em tức ḿnh làm
thiệt. Vắng thư đến ngày thứ ba, tôi bắt đầu lên cơn sốt,
nhưng với tinh thần nam nhi đại trượng phu – đánh Tây bằng
trái mù u – của Huế dễ mấy ai chịu vạch áo cho người xem
lưng nên tôi viết “mánh” hỏi bâng quơ để mong được trả lời:
“Nhà chú Út số mấy, quên rồi! Cần biết gấp để gửi thư. Giỏi,
học đi!” Chờ mơi mắt đến gần một ngày trời tôi mới được hồi
âm. Lần nầy không phải là thư mà là “thơ”... tứ tuyệt song
ngữ, rất chi là TTKH:
Người ấy thường hay bảo: “học
bài”
Học hoài, học hủy, học gần
“die”
Xi-nê, nhạc kịch không xem
nữa
Thư từ, viết lách cũng gần
“bye”
Nghe tối hậu “thơ” cũng gần
“bye”, tôi hơi ớn lạnh, bèn cất giọng trần t́nh, viết lại:
Người ta khuyên học có ǵ sai
Chỉ cần làm chủ được “your
mind”
Học xong xem tiếp ai mà cấm
Thôi được, khi nào ưa cứ
“write”
Lịch sử thế giới có nhiều
ngọn lửa nhưng chỉ có hai ngọn lửa nghịch chiều nhau là lửa...
bếp và lửa t́nh: Lửa bếp th́ dễ bốc cháy khi đói ḷng nhưng
cũng dễ lụi tàn khi nồi cơm đă chín. Nó bừng lên đều đặn
mỗi ngày trong tiếng sôi song sanh theo những giờ nấu nướng
qua mau rồi tắt ngấm khi xong việc. Nhưng lửa t́nh là lửa
“tam muội”. Nó âm ỉ, vô h́nh, lung linh, sưởi ấm và luân
lưu từ thuở hồng hoang cho đến ngày tận thế. Bởi vậy, tôi
và cô em Đông Ba càng không gặp mặt. càng thấy rơ hơn ngọn
lửa trong ḷng ḿnh. Có lần tôi tẩn mẩn làm... thơ: “Khi
không gặp là khi nh́n rơ nhất. Chưa chấm hết ḍng nỗi nhớ
đă thành hai”. Cô em liền hiên ngang trở thành nhà phê
b́nh văn học “trái ấu” liền. Rằng là: “Văn chi, thơ chi anh
làm giờ cũng hay nhất thế giới cả, v́ anh là trái ấu của em
rồi!”. Không lẽ trong văn chương nghệ thuật mà cũng bị méo
tṛn theo cảm tính “Khi thương trái ấu cũng tṛn, khi
ghét trái bồ ḥn cũng méo” đến thế sao?!
Dưới ánh sáng mặt trời chỉ có
một điều bí mật là tại sao không có ǵ bí mật cả. O Thiệt
là chim xanh đă ngă màu thành trắng th́ cũng là chuyện đời
thường, v́ o cũng muốn nếm những trái cấm trong tay o nó
đắng ngọt ra làm sao mà những kẻ đam mê cứ đuổi bắt hoài một
cách tận t́nh không mơi mệt. Cô em và tôi đă khám phá ra
tṛ “ăn vụng trái cấm” của o Thiệt v́ những nét mực nḥe và
dấu rách giành giựt trên mấy tờ thư về sau nầy. Những ḍng
thư vội vàng tưởng như chỉ có một thế giới riêng giữa hai
đứa, không ngờ lại được o Thiệt và những người trẻ tuổi
trong xóm chiếu cố nhiệt t́nh đến độ chuyền tay nhau để chép!
Chuyện t́nh Đông Ba lại
chuyển qua một khúc ngoẹo thứ hai. Chưa phải là đoạn cuối
cuộc t́nh của Hồ Dzếnh “Đời mất vui khi đă vẹn câu thề”!
Nhưng cung nhạc dạo dưới màn đang chuyển điệu dập dồn hay
lơi lă những nốt cuối cùng để nhường sân khấu lại cho gă kéo
màn, người nghệ sĩ, và ánh đèn màu.
Thế rồi một ngày cuối Đông,
tôi đang nh́n mưa Huế và hát nghêu ngao “Ai có về trên bến
sông Tương...” th́ o Thiệt đội mưa qua nhà tôi ở trọ bên
đường Vơ Tánh, cạnh chùa Phước Điền báo hung tin:
- Thôi! Không thư không từ
chi hết nữa! Chừ chuyện búi xờm xờm rồi! Chiều mai gần chạng
vạng gặp chỗ cây Đa sau miễu Âm Hồn.
Tôi chới với chưa biết chuyện
ǵ, hỏi lắp bắp:
- Mà chuyện chi? Gặp ai?
O Thiệt nói làm đày chưa hết
câu th́ đă sấp lưng bỏ về:
- Thôi, mệt lắm nờ! C̣n ai
vô đó nữa mà hỏi!
Chiều mùa Đông xứ Huế, mưa và
lạnh nứt da, chỉ c̣n những cột đèn là chịu khó kiên gan đội
mưa đứng đường. Cái bóng nhỏ nhắn trong chiếc áo măng tô
màu xanh thấp thoáng dưới tàng cây Đa mọc từ thời vua Đồng
Khánh cho tôi biết cô em Đông Ba đă ở đó. Nh́n trước nh́n
sau không thấy ai, tôi băng qua đường. Hai chiếc bóng gần
lại. Hàm răng trắng đều của em cắn chéo khăn thêu màu tím
chỉ c̣n là một vết thẩm trong đêm mưa. Cắn chéo khăn tay có
nghĩa là sắp khóc. Chờ hoài không lên tiếng, tôi giục:
- Nói đi!
Phải khóc một tí cho ḷng đỡ
nặng, em mới nói được:
- Cũng tại cái o Thiệt “lanh
chanh” đó mà cả xóm biết chuyện ḿnh làm mẹ giận. Chiều
qua, mẹ biểu thôi nghỉ học đi lấy chồng!
T́nh buổi đầu của Huế vẫn
thường rất hà tiện những tiếng “anh”, “em” ngọt lịm như thế.
Có lẽ v́ những cặp t́nh nhân muốn dành dụm thật nhiều tiếng
ngọt ngào để dùng cho hết một đời sau, khỏi qua vay hàng xóm.
Một cảm giác ngỡ ngàng chợt
đến. Tôi không cảm thấy buồn hay lo trong phút đó. Tôi
nghe như là chuyện của ai. Chuyện vợ chồng là chuyện người
lớn. Tôi c̣n trong ngưỡng cửa nhà trường nên h́nh ảnh một
mái ấm gia đ́nh c̣n ở ngoài kia xa lắc xa lơ. Nghĩ đến viễn
ảnh “Tôi đưa em sang sông, chiều nay mưa rơi âm thầm...” tôi
thấy thích hát và mỉm cười. Cái cười ngờ nghệch của anh
chàng đa t́nh nhưng thiếu kinh nghiệm đời thường không qua
nổi tia nh́n mờ nước mắt mà lại sắc như gương của cô bé Đông
Ba. Cô em nín khóc, cười khẩy:
- Người ta chết ruột mà anh
sướng hỉ! Thôi, rứa là đủ biết ḷng dạ của “ai” đối với “ai”
rồi đó. Về đi!
Cũng thấy nhói một tí, nhưng
sự khù khờ trong tôi lại dày đặc hơn nên nói thẳng mực Tàu
điều đang nghĩ:
- Ngày nào th́ đám cưới Đông
Ba?
Một giọng đanh, khác lạ trả
lời:
- Trời đất! Đùi lây như rứa
mà cũng làm sinh viên văn khoa. Chuyện riêng của tôi anh
hỏi làm chi. Anh có chờ tới bạc đầu th́ cũng không thấy ngày
cưới của tôi đâu. Ngày mai tôi sẽ đi, đi thật xa. Có chết
bờ chết bụi cũng không thèm để ai thấy...
Tôi không màng đến chuyện lấy
chồng lấy vợ, nhưng một câu nói rất “Tự lực Văn đoàn” lại đủ
sức lay động cả gốc rễ tâm tư làm tôi tối tăm mặt mũi. Tôi
đau khổ. Tôi thương cô bé. Tôi sẵn sàng hy sinh v́ t́nh
giống như bất cứ một nhân vật tiểu thuyết nào mà tôi đă đọc.
Tần số xă hội là tần số trơ, không bắt trúng đài của tôi.
Tần số văn chương mới đưa tôi bay vút về cơi lung linh và hư
ảo của t́nh cảm. Tôi năn nỉ một cách chân thành và rơ ràng
tần số của cô em Đông Ba và tần số của tôi là một. Cô em
trở lại với giọng sũng nước mắt, nói nhỏ nhẻ:
- Anh tới gặp Mẹ th́ may ra
gỡ đươc. Em ghét nhất là cái gă cù lần nào đó trong xóm,
thích người ta mà không có gan nói thẳng phải đi nhờ mấy mụ
mối lái tới nhai trầu bỏm bẻm, nói dai nhách nghe mà phát
sốt. Em giận đời, chán tuốt luốt, ghét hết cả...
Tôi không tin một người hiền
như Đông Ba mà lại ghét nhiều dữ vậy. Không lẽ, không lẽ...
? Tôi hỏi:
- Bộ Đông Ba cũng ghét cả anh
luôn?
Cô bé càng làm già:
- Ghét luôn! Ai cũng ghét
hết! Mà thôi, chiều mai sau giờ băi học tới lại chỗ cũ.
Ai tới trước, cứ ngồi dưới gốc cây thông cao nhất bữa hôm mà
đợi đó.
Hoa hồng thường có
gai, nhưng đàn bà Huế là cây gai mà lại có hoa hồng, nên
muốn được đóa hồng th́ cũng phải trầy vi tróc vảy.
Đường lên Nam Giao rẽ qua đồi
Từ Hiếu, hai đứa cùng quẹo xe đạp vào một lần nhưng làm bộ
như không thấy nhau. Đông Ba kéo rộng dăi nón lá che kín
miệng và cằm. Tôi lùi lại, bóp chuông “koong-kanh” và nghe
đáp lại “koong-kanh” mà không nh́n, cứ sợ biết đâu có đôi
mắt nào đang theo dơi.
Rồi dưới gốc cây thông già
phía sau đầy vẻ hoang sơ của đồi Từ Hiếu, tôi nghe cô em
duyệt xét t́nh h́nh một cách nghiêm trọng như tư lệnh chiến
trường nghe báo cáo diễn tiến mặt trận! Theo em cho biết
th́ có một gă Sơn Tinh hay Thủy Tinh nào đó, nghe nói là
đang “học trường dạy tú tài” lâu nay nhờ mai mối đến “dạm
bỏ trầu” để xin đổi đại lộ t́nh sử của cô em Đông Ba thành
con đường kiệt một chiều. Cô em tóm lược t́nh thế:
- Me lo em có bồ, nên cười
nói với bà mối có vẻ đắc ư lắm!
Tôi e dè đặt câu hỏi để làm
sáng tỏ thêm t́nh thế:
- Chỉ có chừng đó thôi à?
Cô em bèn đưa mắt “nguưt” tôi
một phát có đuôi dài như xi-nê:
- Th́ chừng đó cũng đủ lâm
nguy rồi. Bộ ḿnh ngồi đợi họ đem lọng đèn tới mới lên
tiếng th́ c̣n nói năng chi được nữa.
Thấy cô em lo xa như Khổng
Minh, nên tôi chẳng những đă không lo lắng ǵ mà c̣n thấy
tức cười nữa, nên cười thiệt t́nh. Nụ cười chưa mở hết trớn
th́ đă gặp băo tuyết tơi bời. Tôi vụng về ngồi im để nghe
em khóc lóc rả rích như mưa ngâu. Khóc và cười đều là những
bệnh hay lây nên tôi cũng nhẹ dạ để ḷng ḿnh “rơm rớm” theo
tiếng nấc của Đông Ba, Cô em chưa chi đă lo hát “tuyệt t́nh
ca” làm tôi rối ruột:
- Tôi biết mà. Người ta “trơ
như đá, vững như đồng”, chẳng “mind” và cũng chẳng “care” ai
hết!
Giọng em nghiêm trọng quá,
lại có cả phụ đề tiếng Anh hội Việt Mỹ nữa làm tôi phát
hoảng. Nhớ mẹ tôi thường nhận xét về mấy chị là “con gái
Huế th́ trái tim mềm như bún, mà cái đầu th́ cứng như cḥ”.
Tôi sợ cô em hết “bún” rồi qua “cḥ” nên đành thỏa hiệp với
em vô điều kiện. Chỉ c̣n một mắc mớ sau cùng mà tôi cần
“tham khảo” với em là tại sao em chỉ nhắc tới mẹ mà không
nhắc ba, trong lúc ba là chủ của gia đ́nh. Cô em tươi nụ
cười giải thích:
- Ba nh́n có vẻ “râu hùm hàm
én” oai vệ vậy chứ rất tội, tính ba hiền như chim bồ câu dễ
“dụ” lắm, nên em “xúi” ǵ ba cũng nghe. Mẹ th́ nhỏ nhắn như
chim hoàng oanh, nhưng là chim hoàng oanh bằng thép nguội
đó. Cái ǵ trong nhà mà “mẹ nói rồi” th́ khó mà thay đổi
lắm. Bởi vậy, em thường chọc ba là kiện tướng cầm cờ đi
đầu, nhưng ba chỉ cầm được cái cán thôi, c̣n mẹ mới là người
giữ lá cờ. Khi mẹ không thích là xếp lá cờ đem cất vào túi
chơi. Ba chỉ c̣n biết cầm cái cán trơ, phất qua phất lại
cho đỡ buồn “tàn thu” mà thôi!
Tôi mang đầy tinh thần “Lương
Sơn Bạc”, ôm lư tưởng đấu tranh cho công bằng xă hội nên
cũng “ra đường thấy việc bất bằng chẳng tha” giống chàng Lục
Vân Tiên ngày xưa. Tôi lên gân b́nh luận thời cuộc:
- Phụ nữ mà hành xử “trên cơ”
chồng là không hợp với truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam
ta. Vậy mà Đông Ba không làm ǵ để đấu tranh quyền b́nh
đẳng nam nữ cho Ba sao?
Cô bé chớp mắt nh́n xuống,
khuôn mặt gầy, trắng mịn ẩn sau vầng tóc mây dài và rậm phủ
cả bờ lưng một cách huyền hoặc. Rất dịu dàng, em nói:
- Có mà không, không mà có.
Bởi nhiều khi em thấy mẹ cũng có lư của mẹ chứ bộ.
Tôi ước chi ḿnh có được cái
oai của Trương Phi, hét một tiếng sập cầu Đương Dương Trường
Bảng, nhưng thực tế tôi gắng lắm th́ cũng chỉ nói được:
- Không thể được!
Cô bé nh́n lên, đôi mắt to,
trong vắt vén cả vùng trời xanh. Mĩm cười, tiếng rất khẽ và
ngập ngừng gợi một ước mơ:
- Nếu ví thử mai kia em cũng
sẽ thương anh một đời như mẹ thương ba và... em hy sinh tất
cả cho con như mẹ đă hy sinh cho tụi em th́... có thể được
không anh?
Từ thuở mẹ đẻ tôi mới được
nghe lần đầu lời hứa cho một cơi đam mê: “em cũng sẽ thương
anh một đời” (Lại có thêm hy sinh cho con nữa mới nhức nhối
chứ!), bỗng dưng tôi cảm động đến bủn rủn chân tay. Tôi xoa
hai tay vào nhau để t́m hơi ấm của tinh thần chiến đấu Lương
Sơn Bạc, nhưng hào khí tưởng chừng như mười thành chất ngất
đă nhát gan rủ nhau trốn ngă sau mất dạng. Tôi im lặng.
Chiều trên đồi Từ Hiếu chỉ c̣n tiếng gió. Tôi ngoan ngoăn
gật đầu khi em định ngày cho tôi ra mắt mẹ.
Mới sớm mồng ba Tết, tôi đă
phải xuất hành đạp xe lỏng cỏng từ làng lên Huế “tŕnh diện”
hay nói theo ngôn ngữ thuần Việt là ra mắt. Tôi không quên
điều ḿnh đă gật đầu. Dù được em tập dợt đôi ba lần, tôi
vẫn chứng đâu tật đó, không tài nào che được cái gốc nông
dân của ḿnh để tập sống theo nếp văn minh quư phái của
người “xứ Dinh”. Tôi bê nguyên chiếc xe đạp đă quá tuổi
thượng thọ và đôi giày bê bết bùn vào cửa ngơ nhà em. Phải
mất cả giờ mới rửa sạch để qua ngưỡng cửa nhà trong.
Trời Huế buổi giêng hai lạnh
cóng mà tôi chỉ có cái áo sơ mi Mẫn Tử Khiên mỏng manh.
Đông Ba hỏi nhỏ, ái ngại: “Áo ấm mô rồi?”. Tôi nói mà sợ
người nghe: “Th́ hôm đó bỏ quên trên đồi Từ Hiếu rồi!”
Đông Ba chỉ cho tôi đi ngơ
trước để đi vào nhà chính, trong khi loáng một cái, cô em đă
biến mất phía ngơ vườn sau.
Tôi chưa bước vào pḥng
khách, đă nghe tiếng cô bé phân trần với mẹ:
- Th́ tại tụi con c̣n trẻ nên
chưa thấy lạnh chi cả. Mặc áo ấm vào “nực nội” khó chịu
lắm!
Tôi bước chân vào pḥng
khách, sau màn chào hỏi thật thân t́nh nhưng cũng đầy cung
cánh ngoại giao Huế ơi là Huế, cô bé Đông Ba đă biến tôi từ
anh hàn sĩ thành ra con người mẫu:
- Đó! Hồi năy con nói là tụi
con c̣n trẻ không thấy lạnh mà mẹ không tin. Coi tề, anh ấy
đi xe đạp từ dưới làng lên mà cũng mặc áo mỏng giống con ở
nhà thôi.
Nh́n chiếc áo sơ mi lụa mỏng
manh tôi mới biết cô em đă chạy vào nhà trong và cởi chiếc
áo len màu rượu chát rất hợp với khuôn mặt thanh tú của em.
Đây quả là một “Đông Ba hư chiêu” để hoà điệu với chiếc áo
sơ mi đơn chiếc giữa mùa đông tháng giá của tôi.
Trong pḥng khách đă có sẵn
bà mẹ ngồi phong lưu bên cơi trầu chuyện tṛ với “d́ Mái”,
người mà Đông Ba đă rỉ vào tai tôi “Cái mụ Mối dễ ghét đó!”
Trên ghế bố không xa, ông cụ thân sinh “dễ dụ” đang đọc nhật
tŕnh, lâu lâu mới nhướng đôi kính lăo góp chuyện đời gọi là
cho có chuyện. Cô bé cũng làm quanh nhà cho có làm để có cớ
quanh quẩn mà “cứu khổn pḥ nguy” lỡ tôi có bề nào.
Bà mẹ mở màn phỏng vấn trong
lúc “mụ Mối” nh́n tôi từ đầu tới chân như thầy bói xem gị
gà. Qua giọng nói gần gũi và cái nh́n ấm áp của bà mẹ, tôi
cảm thấy câu chuyện chảy dài êm ru. Giữa chừng, bỗng d́ Mái
bắt đầu mở đợt phản công xoay qua chuyện học:
- Nghe nói cậu cũng học
trường Hàm Nghi cùng lứa với cậu Ái trong xóm. Chắc cậu
cũng biết cậu Ái xóm Thượng Thành nổi tiếng học giỏi chớ?
Rứa cậu có khi mô (nào) được phần thưởng nhứt nh́ như cậu đó
chưa hè?
Tôi t́nh thiệt trả lời:
- Dạ, con chưa hề lănh phần
thưởng nhứt nh́ năm nào hết!
Sau câu trả lời đó, d́ Mái
cười khẩy. Cô em Đông Ba lập tức phản ứng như điện giật:
- Úi da!
Bà mẹ hốt hoảng:
- Út, có chuyện chi rứa con?
Tôi nh́n qua phía Đông Ba,
thấy cô em tái mặt và mím miệng thảng thốt nh́n sâu vào mắt
tôi. Tôi hiểu rồi, (Anh chưa nói hết mà)! Tôi thiệt thà kể
lể, ngây thơ đến độ mấy chục năm sau khi nhớ lại tôi vẫn c̣n
thương cái ngây thơ ngày đó:
- Dạ, con học điểm
cao hơn cả thằng Ái nữa thưa bác. Bốn năm học ở trường Hàm
Nghi, năm nào con cũng chỉ được phần thưởng danh dự toàn
trường nên mẹ con khỏi tốn tiền mua sách.
Giữa thoáng im lặng bối rối,
ông cụ cất tờ báo đang xem, cười cười giải thích:
- Phần thưởng giỏi
nhất là danh dự, thứ nh́ là ưu hạng rồi mới tới thứ nhất,
thứ nh́, thứ ba... Thời nầy người ta xếp hạng theo cách khác
chớ không giống như thuở tôi với bà c̣n đi học, hễ đứng nhứt
là giỏi nhứt đâu.
D́ Mái hơi ngẩn ra một tí,
trong khi bà Mẹ gật gù b́nh luận:
- Thím coi, học tṛ dưới làng
lên phố học giỏi không!
Hạnh phúc không c̣n là một
khái niệm trừu tượng nữa mà thể hiện rỡ ràng trên khuôn mặt
cô em Đông Ba vào phút nầy.
D́ Mái bỏ lơ chuyện phần
thưởng, coi đồng hồ ra vẻ sốt ruột, rồi dơi mắt ngó ra ngoài
đường như đang t́m ai. Có tiếng xe Honda dừng lại trước ngơ
và một người quen quen đi vào. D́ Mái “nổ” liền:
- Cậu Ái đó. Cậu ấy đang học
trường đại học để ra dạy toàn học sinh thi tú tài bán phần,
toàn phần hết chớ không phải là “sinh viên thường” mô nà!
Chắc bà Mối cao hứng tự động
xếp tôi vào làng “sinh viên thường” để đưa “gà” ḿnh lên cao
mấy cấp.
Thằng Ái chưa vào tới cửa,
tôi đă hồn nhiên hét lên:
- Ê, thằng “Ả Thợ Mái”, rứa
mà tao cứ tưởng ông sếp lớn nào đi chúc Tết nữa chớ. Cái
thằng, bộ mi khùng hả? Tết nhất mắc mớ chi mà xách cái cặp
lè kè theo như mấy thằng Tây nhà đèn đi đ̣i nợ không bằng.
Máu nghịch ngợm "văn khoa"
của tôi bất chợt nổi dậy, quên mất ḿnh đang ở chốn “thâm
nghiêm” làm mọi người ngạc nhiên.
Th́ ra đây là “con gà” của
“mụ Mối”. Ái thi vào ban sư phạm Văn chương một năm với
tôi. Trong lớp nó ngán tôi và thằng “Tường X́ Ke” nhất v́
tôi đă cúng mụ, đặt tên cho nó. Thời tôi học Sư Phạm Huế,
dưới triều đại thầy Lê Thanh Minh Châu làm viện trưởng, tất
cả các nam giáo sinh đều phải thắt cà vạt đi học hàng ngày.
Tụi tôi phần lớn đứa nào cũng chờ tới cổng trường mới đeo
“gông” vào cổ. Riêng anh chàng Ái th́ thiếu đường đeo lủng
lẳng cà vạt ...đi ngủ luôn. Nó điệu không thể tả. Lúc nào
cũng xách lè kè một cặp táp dày cộm. Có lần tôi “khám” cặp
nó và phát hiện ra hơn nửa cặp nhét đầy giấy màu thợ mă. Nó
lại c̣n mang riết kính “cận thị không độ” cho tăng thêm
phần... trí thức! Tôi lại là chuyên gia đặt tên giễu, nên đă
tặng không cho nó cái tên “Ái Thợ Mă”. Liền sau đó thằng
“Tường X́ Ke” (cũng là nạn nhân bị đặt tên, v́ tính luôn cả
giày dép nó cân chưa tới 32 kí lô) ưu ái nói lái lại thành
“Ả Thợ Mái”. Ái rất đau khổ v́ cái tên “lại cái” nầy. Có
lần nó làm một danh sách đề nghị dài hơn chục tên tầm phào
đặt cho tôi để trả thù, nhưng không có đồng minh hưởng ứng,
nên đành bó tay chịu trận.
Nay không ngờ Ái lại gặp tôi
ở nhà em Đông Ba. Có lẽ sợ đầu năm đầu tháng gặp tôi sẽ
được lănh thêm một cái tên cúng cơm nữa nên nó hỏi qua loa
năm điều ba chuyện rồi vội vàng rút êm. D́ Mái ngồi im
nhưng vẻ mặt bồn chồn như đang chịu trận hỏa công, bèn đổi
chiến thuật hỏi tuổi:
- Rứa chớ cậu đây tuổi chi?
Tôi thưa: “tuổi
Tuất”. D́ tính một hồi rồi tung chưởng “điệu hổ ly sơn”
rằng:
- Cậu nầy tuổi con chó, cô
nầy tuổi con cọp, lấy nhau chó sẽ bi cọp... đè!
Bà mẹ thấy có vẻ
đă đến hồi rút chân ra khỏi khối đồng minh cùng xóm nên đáp
lại:
- Chó cũng ba hạng
chó chớ thím. Chó mà gặp chó sói th́ voi cũng không đè nổi
chớ cọp mà ăn thua chi.
Tôi mở cờ nói thầm
trong bụng: “Cám ơn bác, vậy là đời con sau nầy, nếu có
thành đôi với em Đông Ba, chắc cũng sẽ khỏi bị... đè phải
không bác?!”
Và tuồng như để
“giem thèm” bà Mối đang hồi bị thất sủng, bà mẹ liền “chê”
tận t́nh cái “dại” của cô con gái cưng:
- Thím coi, con
người ta lớn bằng chừng đó tuổi mà không “khôn nhà dại chợ”
th́ cũng “khôn chợ dại nhà”, c̣n con Út nhà tôi th́ “dại
đều”. Cuối tuần nghỉ học cho ra chợ coi hàng một ḿnh lại
dám cả gan bốc hụi, rồi lấy tiền mua hết hàng hiếm đóng vô
Sàig̣n, làm cho bạn hàng cả chợ kiếm hụt hơi không có mặt
hàng hiếm…
D́ Mái hy vọng có
cơ hội chen vào lung lạc tinh thần đối phương, liền diễn
dịch:
- Học tṛ ra chợ
buôn bán làm sao đủ khôn ngoan theo kịp người ta mà dám
liều. Chuyến đó chắc bị lỗ nặng?
Bà mẹ trả lời nhỏ
nhẹ nhưng không dấu được vẻ tự hào:
- Thôi thím ơi, đừng nói nữa;
hàng chuyến đó lời xấp ba xấp bốn mới ngộ chớ!
D́ Mái cố đánh chiêu vớt vát
cuối cùng:
- Cả đi học, rồi ra chợ bán
hàng giúp mạ kiểu đó th́ chắc là việc nhà hết biết luôn.
Bà mẹ liền lật lên con bài
ẩm... đỏ chót:
- Tôi la hoài mà cháu không
chịu nghe. Ở nhà việc chi khó cũng dành làm, coi bộ con nhỏ
nầy ưa để cho người giúp việc ngồi chuốt móng tay là cái
chắc!
Bên kia cô bé cười chúm chím,
nói chỉ đủ cho hai đứa nghe: “Để người làm như o Thiệt đưa
thư mệt nghỉ!”
Đông Ba quay qua mẹ cười ngặt
nghẽo:
- Mẹ ơi mẹ, để con qua bên
bác Đồng mượn thêm cái trống nữa cho đủ bộ “Tây Du Kư” mới
được.
Bà mẹ ngạc nhiên:
- Để làm chi?
Cô bé tới ôm lưng mẹ:
- Th́ để mẹ quảng
cáo cô Út của mẹ là khôn toàn ṛn, “khôn từ nhà, khôn ra tới
chợ” đó mà. Rồi con đánh trống thùng thùng la “Mại dô! Mại
dô!” cho khỏi ế chồng mẹ hỉ!
Tiếng cười ḍn đầu năm làm
mọi người nhớ ra là đă quá trưa. Tôi đói cồn cào nhưng không
dám ở lại ăn cơm theo lời mời của gia đ́nh v́ sợ bị “coi
thường”. Sau lũy tre xanh, người dân quê như tôi chỉ cảm
thấy tự nhiên và yên ổn với thế giới núp dưới bóng tre của
ḿnh. Ánh sáng của thành phố, dù sáng sủa như ban ngày, vẫn
c̣n lơ mơ nhiều… cạm bẫy!
Bà mẹ chừng như cũng đoán
được cái “điệu” của tôi nên tự tay mở thẩu me dầm và thẩu
mứt me ngào đường ra. Bằng một giọng ân cần, bà mời:
- Thử me của Út làm đi con.
Chắc me dầm chua chua ngọt ngọt hạp với mấy đứa con hơn. Đồ
chua “kiêng răng” mấy bác không ăn được.
Đến lượt Bà Mối nh́n quanh
với đôi mắt hoài nghi của người thất thế. H́nh như không
biết trút nỗi bực dọc vào ai, nên nh́n tôi như “nước chảy lỗ
thấp” v́ vẻ thật thà chất phác của tôi. Bà lên giọng kiêu
kỳ, nh́n chằm chằm vào tôi, hỏi trống không?
- Ờ, mà không biết cái dân
nhà quê quen ăn cơm độn mắm cà có biết ăn mứt me không hè?
Chỉ cần ba chữ “dân nhà quê”
ném lửng lơ đâu đó thôi th́ cũng đủ cho Bà Mối t́m ra cái
ch́a khóa để mở chuồng cho con mèo hiền lành trong tôi biến
thành con cọp – giống cọp đan bằng những lũy tre làng vốn sợ
cái mũ “nhà quê” như thần đèn sợ gió – Tôi liền hiện nguyên
h́nh là gă sinh viên ban văn chương bay bướm và có khiếu nói
“xóc nghịch” đến gỗ đá cũng hết nằm yên. Cười mũi, tôi giải
thích bằng một giọng lễ phép:
- Thưa thím Mối (không phải
là Mái), dân nhà quê chỉ thích ăn me thiên nhiên trời sinh
thôi, nên họ thường ăn me chua hay me rốp. Có ai mà dại dột
đi ăn me bọc đường đâu thím!
Bà Mối cũng là tay lăo luyện
giang hồ nên cười lạt rất điệu, rồi hỏi khích:
- Chỉ có lũ mọi cà răng căng
tai trên rừng mới thích ăn tươi nuốt sống, c̣n dân thành thị
văn minh th́ ăn uống phải có biến chế chớ sao lại gọi là dại
cậu nớ hè?
Tôi lại tủm tỉm cười, giọng
khúm núm một cách ngông nghênh:
- Dạ, dại là v́ có của quư
trời cho trong tay mà không biết xài đó thưa thím. Ai đời
cây trái thiên nhiên tươi tốt lại phải mượn đường, mượn mật
bao quanh làm cho ngọt lịm. C̣n con người ta th́ trời sinh
ra đẹp đẽ, có miệng có mắt đàng hoàng, nói đâu thấy đó, sao
lại phải mượn mấy bà mối lái tới nói chuyện bẻm mép, tam
khào xị đế mới dám thương nhau th́ khôn ngoan để chỗ nào mới
được chớ?
Thím Mối cũng so dây đàn cho
ngang cung bậc:
- Nè, đây nói cho căng tai mà
nghe. Không thầy đố mầy làm nên. Không có cái khôn ngoan,
khéo léo của ông mai, bà mối mà cứ vác mạng tới “ve ẩu” con
gái người ta, không chừng bị “đần” găy gị chớ đừng giỡn mặt
với mai mối nghe bà con!
Tôi lại tiếp tục nói cà rỡn
để chọc giận:
- Chà mai mối hay quá thím
hỉ! Vậy mà không hiểu sao mấy cụ xưa lai dạy: “Ở đời có 4
cái ngu: Làm mai, đứng nợ, đánh cu, cầm chầu”. Ơ, mà có lư
nào làm mai lại đứng đầu sổ cho bốn cái “thiếu thông minh”
rứa thím hè?
Như vơ sĩ bị đánh trúng điểm
huyệt, thím Mối nhíu trán cố t́m cho ra một câu đối đáp,
nhưng h́nh như người xưa cũng chẳng ai ưa nghề mai mối nên
không ai chịu đặt những câu giúp thím làm thuốc. Thím nhổ
toẹt băi nước trầu vào ống nhổ cho hả tức và mang đôi dép
lẹp kẹp ra ngoài, miệng lầu bầu những ǵ không rơ, trong khi
ông cụ cười khoái chí và nói bâng quơ:
- Mới sơ giao mà coi bộ ớt
đồng đă cay hơn ớt dinh rồi đó!
Tôi kiếu về, không thấy Đông
Ba ở đâu. Tôi có cảm tưởng ḿnh là khách quư đă đỗ kỳ thi
“ra mắt” v́ mọi người ưu ái đưa tôi ra tới đầu ngơ. Sắp lên
xe đạp đi, cô em từ nhà chạy ra kêu với theo, đưa cho tôi
gói đồ, lên giọng khẩn khoản nhờ vả để mọi người đều nghe
được:
- Luôn tiện anh về đường An
Ḥa nhờ giúp em đưa gói nầy cho con bạn Phi Anh. Nhớ đọc
liền địa chỉ nhà nó ghi rơ trên miếng giấy nầy cả lạc.
Cô bé nháy mắt. Cái nháy mắt
mà người đối diện dù có thiên lư nhăn cũng không đỡ nổi.
Thế mà tôi hiểu. Hiểu như câu hát học tṛ mà cô em thường
hát nhè nhẹ một ḿnh cho tôi nghe: “Chỉ hai đứa ḿnh thôi
nhé! Đừng cho trăng nép sau hè...!”
Vừa ra khỏi cửa Đông Ba, cơn
gió Bấc hắt vào người lạnh thấu xương. Lạnh là kẻ thù của
đói nên tôi muốn đi hết nổi. Lại c̣n gói đồ và mảnh giấy,
tôi mở ra đọc: “Em vừa ‘se’ tạm cái áo ấm của Ba. Mặc vào
liền cả lạnh đóng băng đi chừ! Dĩa xôi ṿ với món thịt chấy
anh thích em vắt lại cho anh đó. Vừa đi vừa ăn cả đói
nghe. Ăn liền kẻo nguội! Nhớ đó! Eta.” Đông Ba sáng chế ra
hai kư hiệu: “Eta” là “Em thương anh” và “Ena” là “Em nhớ
anh” mà chỉ có hai đứa sống trong cùng cung điệu ân t́nh mới
biết.
Những cơn gió bấc trên đường
về làng đă chào thua chiếc áo dạ dày cộm và nắm xôi nóng đă
chuyển lửa vào ḷng tôi. Tôi h́nh dung đến cái cán cờ trơ
trong tay ông Cụ. Một ḿnh dường như cô độc, ông ôm trong
tay và phất qua phất lại cái cán một ḿnh ngỡ như trơ trụi,
nhưng thật ra, c̣n có một lá cờ không màu không sắc, có lẽ
đẹp như mê cung, tung bay giữa những vầng mây ấm mà có ai
thấy đâu. Chỉ một ḿnh ông thấy: T́nh Yêu.
trở về
CON YÊU BÁNH NẬM
trở về tập
truyện
|