Con yêu bánh nậm

 

cầu trường tiền

sáu vài mười hai nhịp

****

 

Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp

Em qua không kịp tội lắm anh ơi

 Thà rằng không biết th́ thôi

 Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn 

(Ḥ ru em của Huế)

 

Văn hoá những chiếc cầu

Có một khái niệm tưởng như gần gũi và đơn thuần nhưng lại rất xa vời và trừu tượng, đó là khái niệm về Văn Hóa.  Thời nhỏ, tôi thường nghe giới đàn anh hỏi thăm  “Tŕnh độ văn hóa” của một người bằng cách đem chữ nghĩa thánh hiền ra đo, như  “tŕnh độ văn hóa:  Mù chữ, trung học, tiểu học, đại học...”.  Lớn lên, tôi mới khám phá ra điều thú vị rằng:  A th́ ra!  Việt Nam ta là nơi duy nhất trong vũ trụ có “tŕnh độ văn hóa mù chữ”! Thế mà mấy bác Tây học như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh lại phán: “Văn: Là vẻ đẹp, vẻ sáng...”.  Mù chữ mà lại đ̣i đẹp và sáng th́ cũng như đêm ba mươi tối hù, dẫu Văn có đi ṃn trăm đôi guốc gỗ cũng khó ḷng mà Hóa được thành… trăng. 

 Trong khái niệm Đông Phương, văn hóa tiềm ẩn một vẻ đẹp mơ hồ và một thiên năng cao cả, th́ Tây Phương thực tế hơn, văn hóa là cách thể hiện kinh nghiệm sống.  Nhất là Mỹ, những nhà hoạt động văn hóa đă đập vỡ và vun quén lại khái niệm văn hoá cổ điển từ thời tiền Victoria để đưa văn hóa xuống đường.  Nhiều khái niệm văn hóa ra đời đến nỗi chẳng ai c̣n thấy “chướng” trước những khái niệm “văn hóa bên lề” (subculture) như văn hóa của giới đồng tính luyến ái, văn hoá những người sống vô gia cư, văn hóa giới nghệ sĩ, văn hóa giới quyền quư tiếng tăm, văn hóa vùng thường xuyên bị động đất, văn hóa khu cao ốc chọc trời...

Đi từ những bước nghênh ngang cao chênh vênh trong khái niệm “Văn Hóa Cao Sang” (High Cuture) của Matthew Arnold (1869) đến dáng là đà trong mớ hành lư bụi đời “Văn Hoá B́nh Dân” (Ordinary Culture) của Raymond Williams (1958), tôi bỗng hứng chí nhớ về và dừng lại bên những chiếc cầu từ thuở cây đa bến cũ rồi tự hỏi: “Có chăng Văn Hóa Những Chiếc Cầu?”.   Rồi cũng hồn nhiên như anh Xă Xệ tin mặt trăng làng ta là sáng nhất, tôi trả lời rằng, “Có!”.  Tôi tin là mỗi chiếc cầu đều có một ḍng đời, một lịch sử, một nếp sinh hoạt tương tự như một dáng vẻ, một kiểu cách văn hóa riêng.  Những chiếc cầu khỉ đă nằm vắt qua suốt chiều dài của lịch sử.  Rồi cầu tre (Anh thương em mấy nhịp cầu tre), cầu ván, cầu ao (Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi) .  Cho đến cầu phao, cầu nổi, cầu sắt, cầu đá, cầu xi-măng, cầu chuồi, cầu gác, cầu treo... đă ghi dấu bao nhiêu thế hệ lịch sử, văn hóa.

Thuở c̣n bé ở quê nhà, mỗi chiếc cầu từ đầu làng đến cuối xóm đều gợi cho tôi một thế giới riêng tư nho nhỏ.  Như Cầu Lừ, chiếc cầu khỉ èo ọp bằng tre đă chứng kiến bao nhiêu là tai biến của dân làng.  Cầu Vượn, cầu Banh một đời chở đầy những mùa trăng lúa mới.  Những chiếc cầu Việt Nam quản chi khó nhọc để quặn ḿnh nối hai bờ anh em hay thù nghịch.  Có những chiếc cầu nằm xuôi mái lặng lẽ mà sao đứng nh́n, tôi lại có cảm giác như mỗi thanh sắt vô tri và chiếc bù loon đang run lên bần bật.  Đó là cảm giác thuở học tṛ được thầy giáo dắt ra thăm cầu Bến Hải nối liền – mà chia cắt – hai bờ sông Hiền Lương soi bóng hai màu cầu... lạnh lùng, rờn rợn.  Cầu không dắt ta đi mà cũng chẳng đưa ta về.  Có khi đi th́ c̣n, mà về lại mất.  Mất khi trở về có nghĩa là đi không bao giờ trở lại.

Khái niệm văn hóa những chiếc cầu lớn hẳn trong ḷng tôi như một niềm thâm tín khi mùa Hè năm 2000 tôi ngỡ ngàng qua nhánh Tiền Giang sông Cửu Long bằng chiếc cầu treo “Bắc” Mỹ Thuận.  Có lẽ cả nước đều mang chút tâm trạng ngỡ ngàng như thế khi đối diện với chiếc cầu treo tân kỳ mở màn đi vào thế kỷ 21 với nỗi ḷng Tú Xương:  “Đêm nghe tiếng ếch bên tai; giật ḿnh c̣n tưởng tiếng ai gọi đ̣!” Nh́n từ xa, tôi bỗng thấy cây cầu giống như cây đàn 128 sợi dây, một cây đàn đầy biểu tượng cho ngón đàn tài tử của dân Nam bộ.  Đứng trên chiếc cầu lộng gió dài gần hai cây số với hai trụ tháp cao vút, khách vẫn c̣n mường tượng nghe tiếng máy phà mới hôm nào đây c̣n kḥ khè cuộn nước.  Mùi nắng gió và phù sa lồng lộng thổi qua cầu vẫn chưa làm ai quên được mùi chim mía nướng than, mùi những xách hàng rong đủ vị và và khối âm thanh không tên tuổi nhưng thật thân quen trên bến phà thuở nọ.  Chiếc cầu mới đang khởi sự một nguồn sống mới.  Tôi cảm nhận được rằng, dù con người có muốn hay không, cây cầu với ngôn ngữ văn hóa lặng thinh hay lao xao riêng một cơi, vẫn đang tự nó ghi những ḍng đầu của cuốn sử đời ḿnh... như chuyện chiếc cầu trên sông Drina, trường ca cầu sông Kwai đă trở thành bất tử.

 Tôi đă đi qua những chiếc cầu xa xứ với cái nh́n hiếu kỳ của người du khách và với một cảm giác thán phục bàn tay và khối óc tuyệt hảo của con người.  Nhưng giữa cầu và tôi vẫn là hai thế giới, đi về không một chút vấn vương.  Như h́nh ảnh nhà quư tộc cổ kính đi xe song mă, chiếc cầu treo của thế kỷ 20 là con đẻ của nền văn hóa cao ốc chọc trời.

  Những chiếc cầu vang bóng như Golden Gate Bridge, Bay Bridge, Brooklyn... của Mỹ đều vươn những vài cầu cao vút tới những vùng giàu sang như San Francisco, Manhattan.  Cầu Mirabeau của Pháp bắt qua ḍng sông Seine soi bóng tháp Eiffel uy nghi mà kiêu sa giữa ḷng kinh thành Ba Lê ánh sáng.  Cầu Mỹ Thuận – chiếc cầu treo trẻ nhất của thế kỷ nầy– đă được thai nghén và h́nh thành trong một bối cảnh văn hóa khác hẳn với những chiếc cầu kia.  Chiếc cầu đă vươn ḿnh qua sông phù sa vạn lư như con rồng chín khúc uốn ḿnh từ Tây Tạng về tới biển Đông.  Ḍng sông vẫn c̣n nguyên nét sơ khai.  Tôi qua cầu với tâm trạng đi vào cửa ngơ ngày mai của đồng bằng sông Cửu Long đang c̣n ngủ say trong màu xanh phủ hết chân trời của ruộng lúa, bóng dừa, vườn cây, kinh rạch và điệu lư qua cầu.  Dáng nổi bật của cây cầu giữa một vùng mênh mông làm cho cây cầu chưa thuần với ḍng sông mà gợi lên một cảm giác thách thức.  Đó là một cảm giác mạnh mà du khách thường nhắc tới khi đi qua cầu Akashi Kaikyo, chiếc cầu treo dài nhất thế giới – gấp ba lần cầu Mỹ Thuận – của Nhật bắc qua eo biển Akashi.  Nhưng sự thách thức của cầu Akashi là những luồng sóng dữ, là sự đối mặt với cái uy vũ tàn bạo của thiên nhiên.  C̣n sự thách thức của cầu treo Mỹ Thuận là sức bật khai phá của con người tương lai trên lối vào thế kỷ.

Từ khi chưa có bóng người trên trái đất th́ đă có hàng vạn ḍng sông.  Và lịch sử con người lớn lên với những cây cầu cho bớt ngăn sông cách núi.  Nhưng có được bao nhiêu ḍng sông thuộc về một vùng đất ở và có được bao nhiêu chiếc cầu thuộc về một ḍng sông trôi.  Chiếc cầu chỉ thuộc về ḍng sông khi nào cầu không chỉ là phương tiện để vượt qua sông mà cầu chở ḷng người đến với ḍng sông.  Hơn 2000 năm, cầu Luân Đôn trên sông Thames; 500 năm, cầu Mirabeau trên sông Seine; và 100 năm cầu Trường Tiền trên sông Hương không chỉ đưa chân người qua cầu mà c̣n đưa ḷng người trôi chảy dưới ḍng sông.  Nguyễn Du, trong mắt nh́n Đông Phương, thấy cây cầu như là điểm hẹn của thiên nhiên, “Dưới cầu nước chảy trong veo, bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”, màø Appolinaire, trong cảm nhận đầy đam mê với chút váng vất siêu thực Tây Phương th́ thấy cây cầu trăm năm vẫn đứng đó nhưng bóng nó là khởiø điểm của từ ly: “Dưới cầu Mirabeau, sông Seine thầm lặng chảy. T́nh chúng ta đi măi, vui với sầu theo nhau.”

Có đứng trên những chiếc cầu với lịch sử hàng trăm năm của thế giới, mới cảm nhận hết h́nh ảnh đan thanh, xa vắng “em qua không kịp tội lắm anh ơi…” và khái niệm cầu soi bóng nước của Trường Tiền.  H́nh ảnh một chiếc cầu phải ngắm từ nhiều góc độ và trong những thời điểm ngày đêm khác nhau để cho thiên nhiên góp phần sáng tạo nét đẹp của cây cầu.  Tôi đă qua lại cầu sông Thames ở Luân Đôn.  Chiếc cầu chạm trổ như một lâu đài La Mă đúng với cái tên Tower Bridge (Cầu Tháp). Nhưng khách trông cầu chỉ thấy được những đường nét vuơng giả, kiêu kỳ của chiếc cầu với gịng sông Thames  đục ngầu bên dưới.  Tôi không có một cảm xúc nào khi đứng trên chiếc cầu cứng đơ, ch́m khuất trong khung cảnh của những lâu đài chạm trổ.  Tôi đă cố đến t́m chiếc cầu Mirabeau man mác trong thơ Appolinaire trên bờ sông Seine của Paris lúc về đêm, nhưng chỉ thấy một chiếc cầu vạm vỡ, lăng quên trong hằng trăm chiếc cầu trên sông Seine. Và trong ánh sáng ban ngày chiếc cầu lại trông càng trơ trụi với bức tượng mỹ nhân bên dưới ngước lên như một nỗi buồn vô vọng.  Tôi cố đừng suy nghĩ chủ quan hay mang một thiên kiến bảo thủ để so sánh, rồi tự phong cho cầu Trường Tiền là đẹp, là nên thơ.  Nhưng tôi không thể dừng lại được khi trong mắt nh́n và cảm xúc của tôi, cầu Trường Tiền thật sự có một linh hồn ḥa điệu với gịng sông, thiên nhiên và con người đơn sơ qua về nơi khung cảnh ấy.

Tôi lớn lên ở Huế.

Rồi bỏ Huế mà đi.

Hành lư một đời để dành với Huế mà tôi mang theo cũng có thể là cả một gia tài mang đi không hết, mà cũng có thể chỉ là một búp sen đầu mùa mới nhú lên mà v́ thương màu hồng ngây thơ quá, tôi không nở hái mang theo. Xa Huế, tôi đă mang màu tím trong không gian Huế buổi chiều, mang mùi trầm hương từ mấy trăm ngôi chùa cổ, mang tiếng chuông công phu trong đêm khuya, mang rong rêu của ḍng sông có những bến đ̣ áo trắng mà đi. Mớ hành lư đó cần một chiếc va-li không giới hạn để đựng.  Chiếc va-li không khóa, là trái tim vô ngă của Huế, là chiếc cầu Trường Tiền màu nhũ bạc trên ḍng sông Hương.

 

Chiếc Cầu trong tâm ảnh

Châu Thuận Hóa là ốc đảo của thiên nhiên Việt Nam suốt cả một thời quá khứ. Huế cách trở trong ḷng người xứ Bắc – Thương em anh cũng muốn vô, sợ truông nhà Hồ sợ phá Tam Giang – Và xa xôi lạ lùng quá đỗi với người phương Nam – Đi bộ th́ khiếp Hải Vân, đi thủy th́ khiếp sóng thần Hang Dơi. Thiên nhiên thuở nọ đă bắt Huế nằm im gối đầu Trường Sơn, co chân trên dăi đất hẹp giáp biển Đông như những ḍng sông bị cản chiều dài, cách trở chiều rộng, nên phải chảy vào bề sâu mà về lại trong ḷng.  Bởi vậy cái đẹp của Huế là cái đẹp mang vẻ trầm lặng và cô tịch.  Cái nên thơ của Huế là vẻ nên thơ trong mắt nai rừng lúc hoàng hôn:  Vời vợi, hồn nhiên nhưng cũng trang đài và huyền hoặc.  Dường như người Huế nh́n về quê người th́ thấy thấp thoáng bóng tương lai, mà nh́n về quê ḿnh th́ chỉ thấy toàn quá khứ.  Phải chăng v́ thế mà người Huế thành người tù chung thân của quá khứ, thành kẻ hành hương quanh miếu đền kỷ niệm, những kỷ niệm thuộc về một thời “mô tê” lăng đăng như ca dao. 

          Huế có một ḍng sông và một chiếc cầu như ảo ảnh, đó là ḍng sông Hương đă trở thành ḍng thời gian và chiếc cầu Trường Tiền là bến đ̣ của dĩ văng.  Ḍng thời gian vẫn luân lưu trôi chảy nhưng không già.  Thời gian sẽ đẩy lùi quá khứ để mà quên và kéo dĩ văng trở về để mà nhớ.  Mỗi năm, khi mùa Thu về, ḍng sông ấy vẫn xanh; vẫn trôi chảy âm thầm dưới chiếc cầu cong sáu nhịp có nét e ấp tṛn trăng đầy duyên dáng.  Ḍng sông và chiếc cầu vẫn c̣n trẻ măi mà những hàng cây hai bên đường lại ngă màu.  Thời gian cũng có nét buồn riêng của nó.  Với Huế, nét buồn của thời gian là vết chân chim trên khóe mắt cười đă hết long lanh của cô học tṛ Đồng Khánh một thời áo trắng.

                                                         

 

          Một sớm mùa Hè năm 1954, sau khi rời bến xe Nguyễn Hoàng, tôi theo mẹ về chợ Đông Ba.  Một sớm mai trên hè phố Huế, được ngồi bệt trên chiếc mũ đệm bên gánh cháo ḷng un khói và được ăn một tô cháo nóng hổi đă đời là cả một niềm hạnh phúc lớn lao mà rất ít đứa trẻ ở làng cùng lứa như tôi có được.  Mùa Hè, mới nắng mai đă gắt.  Vị cay và sức nóng bên trong của tô cháo ḷng, bên ngoài của nắng làm tôi ngầy ngật như say.  Tôi chạy lúp xúp theo mẹ qua cầu mà chẳng thấy được ǵ v́ mồ hôi đổ dầm như tắm.  Đến giữa cầu, cơn gió qua sông mát lạnh.  Tôi không cần đưa tay áo quệt mồ hôi mà mắt mũi, mặt mày vẫn ráo hoảnh.  Tôi ngước nh́n quanh.  Cao vút trên đầu tôi là đường cong trắng vàng rực rỡ như thềm núi Trường Sơn có cầu vồng ra ăn mưa.  Trước vẻ ngỡ ngàng của thằng con trai út chưa ra khỏi mấy lũy tre làng, mẹ tôi chợt nhớ ra và lên tiếng:

-  Cầu Trường Tiền!

Cả một cơn sóng kư ức dội về.  Tôi đă quen lắm từ bao nhiêu năm qua tiếng khóc trẻ thơ dịu dần trong tiếng ḥ ru em, vang lên ấm dịu, ngọt ngào từ xóm trên về xóm dưới.  H́nh như tôi đă biết sâu lắm rồi mà vẫn hỏi.  Hỏi như để khẳng định một t́nh yêu đang có mặt, nhưng cũng rất xa xôi:

- Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp đây phải không mạ hè?

          Mẹ tôi thật vô t́nh.  Mẹ không chia sẻ luồng gió mới đang mở phăng cánh cửa ḷng tôi, nên mẹ đă nói bằng ngôn ngữ thản nhiên, làm như tôi cũng đă có hơn nửa đời người quen thuộc với chiếc cầu nầy như mẹ.  Không, tôi có riêng đôi mắt b́nh minh của trẻ thơ để khám phá ra “cái ông cầu” uy nghi vươn tay dài sáu khúc để nối liền bờ bên nớ bên ni.  Tôi như một người nghèo cháy túi v́ không t́m ra được chút vốn liếng kinh nghiệm nào ở làng để so sánh với cả một thế giới lạ lùng, đồ sộ, xinh đẹp, cao sang, nhưng cũng mang vẻ ngự trị và bí ẩn chứa trong từng mảnh nhỏ của “ông” cầu.  Tôi mơ hồ liên tưởng tới đường cong như cánh cung của cặp rồng uốn lượn trên nóc đ́nh làng để ví với dáng cong cong thon thả của những vài cầu lên xuống.  Vài cầu đang ngự trên cao chót vót tận đọt tre lá ngà gần mây trắng, thấp dần xuống để soi ḿnh trên sông và từ từ vút cong lên trở lại.  Tôi đếm thầm những cây quạt trắng khổng lồ ḿnh đă đi qua:  Một, hai, ba, bốn, năm, sáu.  Rồi những tảng mây trôi trên xa cho cây cầu đổi sắc làm tôi nhớ những giọt sương mai trên lưới nhện hoang giăng trên bờ cỏ dại ở đầu làng.

          Có tiếng nổ rất xa, đâu từ phía núi.  Tôi nhớn nhác bấu chặt tay mẹ.  Mẹ tôi cười, nói một cách tự tin:

-  Sáng ni đ́nh chiến rồi, sợ chi nữa!

Tôi nghĩ bụng, “Đ́nh chiến là cái ông nào mà to hơn gan cóc tía.  Súng đạn không sợ th́ c̣n biết sợ ai!”.  Tôi hỏi về cái ông “đ́nh chiến”.  Mẹ tôi cười tội nghiệp rồi giải thích theo lối thông tin “Làng trên xóm dưới”:

-  Th́ đ́nh chiến là họ kư hiệp định Giơ-Neo với nhau.  Việt Minh, Bảo Vệ như chú Dưa, chú Cà không bắn nhau nữa.  Mai mốt, ḿnh lên nhà trên kê phản ngủ.  Rồi mạ tháo cái hầm làm chuồng heo, thả cặp heo tới tháng Chạp kỵ Ba, rồi ăn Tết.  Tôi nín thở tận hưởng nguồn hạnh phúc tưởng tượng là từ nay, đêm đêm ḿnh sẽ thôi ngủ dưới hầm, khỏi ngửi mùi rễ tre lên mốc, khỏi nghe bầy mối nghiến tre trèo trẹo thâu đêm.

Nghe mẹ tôi vẽ bức tranh mơ ước, mấy người gánh gồng cùng chạy bộ qua cầu cũng hớn hở hỏi nhau:

- Ń, Thím nớ về mô?  Đ́nh chiến rồi, hoà b́nh rồi, hết sợ súng đạn, ăn hột muối cũng sướng.  Chừ lo về lại dưới làng cuốc đất mần ăn.

Cây cầu quanh tôi trắng tuyền như ngọc bích.  Từ phút đó, cầu đă viết trong kư ức hoa niên của tôi những trang đầu tiên và kết tụ thành tâm ảnh:  Cầu Trường Tiền đó, chiếc cầu chở hoà b́nh về lại quê xưa.

Rồi đời cứ theo ḍng.  Năm năm, mười năm, hai mươi năm…... tôi đă đi về qua chiếc cầu đó; và hết một đời chiếc cầu đó sẽ soi bóng măi trong ḷng tôi.

Ḍng sông Hương là mẹ nuôi, đă trở thành mẹ hiền và xứ Huế quê ngoại đă trở thành quê hương yêu dấu của cầu Trường Tiền.  Cầu chào đời ở tận bên Tây.  Năm 1899 hăng Eiffel mang về Huế đặt bên cạnh kho đúc tiền nên mang tên là cầu Trường Tiền.  Lên năm tuổi, mới học vở ḷng đường đi c̣n lót ván, trận băo năm Th́n 1904 đă xô ngă bốn nhịp cầu.  Vè dân gian ghi lại rằng,  “Nửa đêm băo tới th́nh ĺnh; cù lăn nổi dậy miếu đ́nh nghinh ngang...” và cù lăn đă “Xô cầu Trường Tiền ngă bốn, đốn cột cờ găy ba!”

Trường Tiền là chiếc cầu định mệnh của Huế.  T́nh yêu chưa bước song đôi qua cầu là t́nh yêu chưa “chín”.  Hận thù chưa giải được trên cầu th́ thù hận chưa nguôi.  Uy vũ chưa tuyệt lộ trên cầu th́ chưa phân thắng bại.  Đến Huế mà chưa đứng trên cầu là chưa vô tới Huế, chỉ mới “tạt” qua Huế mà thôi.  Phải chăng v́ thế mà từ ngày có mặt, tuy nằm yên một cơi, Trường Tiền đă mang những vết hằn lịch sử sâu nặng nhất của một xứ Huế thăng trầm theo thế sự.

Ngày mới lớn lên ở làng, tôi thường nghe thế hệ đàn anh kể chuyện “Chiến sĩ qua cầu”.  Câu chuyện bao giờ cũng bắt đầu bằng cái mốc “Thời Nhật đảo chánh”.  Ngày ấy, thực tế lẫn huyền thoại “chống thực dân Tây xâm lăng” là một khúc anh hùng ca thôi thúc những tấm ḷng yêu nước lên đường kháng chiến.  Mùa Đông năm 1946, những người trai quê và thôn nữ của làng tôi lũ lượt gánh ớt bột, mạt cưa, trấu, rơm rạ, và bùi nhùi để qua Huế đánh đồn Tây Ṭa Khâm.  Nghe kể lại làø khi xông ớt, trấu, rơm rạ, mấy ả đầm và Tây con ở trên lầu cay mắt quá, khóc bằng tiếng Pháp (!), nghe thảm thiết như “mèo kêu” (?!).  Các chiến sĩ chân đất làng ta không biết v́ động ḷng trắc ẩn hay v́ không chống nổi với súng đạn thiệt t́nh của quân Tây nên đă hè nhau chạy bộ qua cầu Truờng Tiền, băng qua đồng, trở về làng cũ hát t́nh ca Phạm Duy “Ngày nao ta phá tan đồn nó đi, sẽ thấy trên đường trở về, áo dài đùa trong nắng hè...” Làng tôi có khoảng mười “Chiến Sĩ Qua Cầu” và tất cả đều có một nỗi niềm chung là đầu hôm khi băng qua sông Hương, cầu Trường Tiền c̣n nguyên vẹn, nhưng khi trở lại sau nửa đêm gần sáng, cây cầu đă găy đôi!  Những người trai quê và gái quê đêm đó đă khóc khi lội qua sông:  Khóc cho một cây cầu thân yêu đă găy và buồn cho một ḍng sông không ấp ủ nỗi một cây cầu.  Lịch sử sau nầy đă ghi lại rằng, nửa đêm 19  tháng 12  năm 1946, dưới sự chỉ huy của Trung đoàn trưởng Trung đoàn Trần Cao Vân, ông Hà Văn Lâu, cầu Trường Tiền đă bị gài ḿn đánh sập để cản bước tiến của quân Tây.  Ớt khô của ḷng yêu nước làm sao thắng được thuốc súng của xâm lăng! Anh hùng ca không chỉ là chiến lợi phẩm thu được trên chiến trường.  Chiến sĩ làng tôi bỏ chạy, thế mà hào khí một thời vẫn c̣n cháy măi trong ḷng họ theo những câu chuyện kể không đầu không đuôi, nhưng bao giờ cũng cảm động khi đến đoạn một nhịp cầu Trường Tiền đă găy lúc nửa đêm...

Tôi là học tṛ từ làng quê lên Huế học.  Thời tôi mới lớn, học tṛ nhà quê lên tỉnh học c̣n ít hơn là học tṛ các thành phố lớn được qua Tây, qua Mỹ du học. 

Tôi ở trọ trong Thành Nội, học trường Quốc Học.  Mỗi buổi sáng đi học, ra cửa Ngăn dọc theo bờ Bắc sông Hương, qua cầu Trường Tiền, đi ngược bờ Nam sông Hương.  Băi học, về cầu Trường Tiền, vô cửa Thượng Tứ... Nhịp điệu đi về trên một chiếc cầu ngỡ như đơn điệu ngày lại ngày cả mười năm đó, thực ra, chẳng có bao giờ giống nhau như con nước bao năm qua trôi chảy măi dưới chân cầu mà vẫn không có một lần lập lại.

Mỗi sáng sớm đi học, qua cầu khi gió ban mai c̣n nhẹ nhàng, mơn man tà áo, vuốt ve mái tóc thề, dỗ dành từng bước đi của người qua cầu, ánh sáng lấp lánh trên mấy vài mấy nhịp uốn cong, tuổi học tṛ thấy cuộc đời như trang vở đầu tiên của ngày tựu trường, con tim hồi hộp vui mừng nơi từng nhịp đi...

Cái ṿm trắng bạc có một chút kiêu sa phù phiếm.  Mỗi bận qua cầu tôi có cảm giác như đi qua một đám mây phù du, một đoạn đường sương phủ hay đi vào một mối t́nh đầu không dài lâu; hoặc bắt đầu một cuộc đời lăng tử cũng không biết chừng.

Bước đi trên cầu trong ngọn gió sông Hương buổi sáng, khi chiếc cầu c̣n ngái ngủ trong khói sóng và màn sương, nh́n về phía Vĩ Dạ, có sóng nước êm đềm xanh một màu lục thủy, những chùm tre lă ngọn nơi phía Cồn Hến ẩn hiện đằng sau như vừa mới gội nước hồ thủy để xanh một màu xanh êm ả có thể làm mướt lại những con mắt suốt đêm thức trắng để “gạo” bài.  Đến giữa cầu, ấy là lúc không thể nào không ngoảnh mặt về phía rặng núi Kim Phụng nổi hẳn lên trong dăy Trường Sơn kéo dài về hướng Tây Nam.  Sông Hương mà không có dăy núi này đứng đợi như một tri âm vĩnh viễn th́ e sẽ là con sông thảm thiết không biết trôi về phương mô.  Dăy núi ấy, xanh một màu xanh “xuân sơn” thăm thẳm, vừa huyền bí, vừa đa t́nh.  H́nh như nhờ bóng núi xa xăm kia mà sông Hương trở thành huyền ảo, như có như không trong một nỗi thầm lặng miên man của ḍng nước chảy.” (Thái Kim Lan)

Giờ đến trường và tan học, cả con đường, chiếc cầu và ḷng sông soi bóng đều sáng lên theo ḍng nón lá và áo trắng học tṛ.  Ḍng suối trắng đó có lúc đầy giữa mùa Thu tựu trường, mùa Xuân nắng ấm; vơi dần giữa mùa thi sang Hè, và xám lại giữa mùa Đông co ro trong những chiếc áo mưa.  Thế nhưng cũng có khi ḍng suối ấy khô quắt khô queo theo nhịp cầu găy đổ.

Chiếc cầu sáu nhịp nối liền hai bờ sông bên phượng, bên me.  Huế cùng ḍng sông bên dưới và ḍng người bên trên th́ trôi chảy mà chiếc cầu th́ vẫn lặng im trong nắng trong mưa có vẻ như thường hằng, bất biến.  Huế đă trải qua không biết bao nhiêu cuộc bể dâu, thế mà sự ngây thơ vẫn c̣n đeo đẳng.  Có những tâm hồn đă thành sắt đá v́ chiến tranh; những cảm quan đă chai ĺ v́ súng đạn; những ước mơ đă cùn nhụt v́ thực tế chua cay... bỗng trở ḿnh một cách nhẹ nhàng, rồi thức dậy nh́n ḍng sông xanh bên dưới với đôi mắt trẻ thơ khi lững thững bước qua chiếc cầu màu nhũ bạc. 

 Phong cảnh trên cầu, ngày lụn tháng qua, đă trở thành Tâm Ảnh trong ḷng người lớn lên hay già đi cùng với chiếc cầu. Khi một bóng dáng đă trở thành tâm ảnh th́ sự hiện sinh của nó sẽ trở thành ảo ảnh.  Như bóng dáng Kim Trọng thuở ban đầu “Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa” đă thành tâm ảnh trong một thế giới riêng của Thúy Kiều.  Bởi vậy, trong ngày Kim Kiều tái hợp, chàng Kim bằng xương bằng thịt chỉ là một hiện sinh xa lạ.  Nỗi đam mê cháy bỏng và sự khắc khoải đợi chờ “từ Lâm Truy em lạc tới Giang Hà” của Thúy Kiều đă miên viễn hướng về tâm ảnh. Buổi đoàn viên sau mười lăm năm luân lạc mà “đổi duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ” là một phản ứng lạnh lẽo của tâm hồn.  Phải chăng đó là một cách lẩn trốn dưới cán dù đạo lư khi lửa t́nh đă nguội!  Cũng thế, những người xa Huế đă mang chiếc cầu trong tâm ảnh mà ra đi.  Vô số chiếc cầu Trường Tiền đă bắt qua ḍng sông tưởng tượng trong tâm thức lăng mạn được thi vị hóa bằng chất men lưu đày nên càng… xa Huế, chiếc cầu và ḍng sông trong tâm ảnh lại hiện về càng rơ, bất chợt, không hẹn không ḥ.  Tôi đă về lại Huế, nhiều lần đi trên chiếc cầu xưa mà vẫn quay quắt đi t́m.  T́m chi?  T́m chiếc cầu trong tâm ảnh -  như ngày xưa vua Tự Đức đă có lần toan “Đập cổ kính t́m ra lấy bóng...”!

Cũng như tháp Eiffel ở Paris, Cầu Tháp ở London, cổ thành La Mă ở Ư, tượng Mănh Sư ở Thụy Sĩ… cầu Trường Tiền là biểu tượng thể chất nhưng là một dấu ấn tâm hồn thấm đậm mầu son của Huế.  Chiếc cầu tự nó đă đẹp như một sự kết hợp hài ḥa giữa kỹ thuật hiện đại và nghệ thuật truyền thống mang dáng vẻ Đông Tây đă đành; nhưng phong cảnh thiên nhiên kỳ tú làm bối cảnh càng đẹp hơn.  Và h́nh ảnh áo trắng học tṛ – một thời và măi măi? –  ngày hai buổi qua cầu trong h́nh tượng vật lư và in bóng trên cầu trong h́nh tượng tâm lư đă biến chiếc cầu thành huyền thoại của những điều có thật.

Với ḍng tiểu sử đời ḿnh dài dằng dặc trong vinh quang hay cay đắng, một người đàn bà có thể sẽ đáng kính hơn, nhưng đồng thời cũng sẽ mất đi sức hút hồn nhiên và đam mê của tuổi xuân th́ hơn.  Nhưng với một chiếc cầu th́ chính ḍng lịch sử đó mới là ngôn ngữ thầm lặng của hiện thể đang nói với nhân gian.  Chuyện chiếc cầu không dừng lại trên cầu mà chuyên chở vào tâm hồn cả bóng lẫn h́nh theo mỗi bước đi từ quá khứ đến tương lai.  Không gian và thời gian thường hằng thay đổi, nhưng Cầu Trường Tiền vẫn tâm sự triền miên với những người yêu Huế c̣n đứng lại bên cầu hay một đời xa xứ. 

Không một chút vô t́nh nhưng rồi tôi cũng cũng phải xa Huế, mang tâm ảnh cầu Trường Tiền mà đi.  Chiếc cầu trong tôi bỗng thành một sự hiện hữu vô h́nh. Những khi buồn và cô độc nhất ở quê người, tôi lại lục lọi ngăn kéo hoài niệm của những ngày vui bên cầu, cố lấy một tâm ảnh b́nh minh để tự  ḿnh soi ḿnh giữa hoàng hôn và bóng tối.  Có khi, cái cầu như một đạo sĩ thần thoại giúp ḿnh hiểu ḿnh; giúp cái ta hiểu cái tôi v́ tự bản chất cái “ngă” của chiếc cầu là vô ngă.  Chiếc cầu thân ái một cách dửng dưng; không xua đuổi cũng chẳng níu kéo những suối nguồn thổn thức.

Sống hơn 20 năm trên đất Mỹ, cái nh́n của tôi về chiếc cầu trên quê hương hay quê hương trên chiếc cầu vẫn chẳng có ǵ thay đổi.  Trong sự thăm thẳm tận cùng của lặng yên, chiếc cầu trong tôi hiện ra nửa như hư ảo mà nửa như rất thật; kết tụ những bến bờ xa lạ và quen thân thành một dăi Ngân hà.  Ḍng sông trắng phau ấy không vắt ngang vũ trụ mà cũng chẳng ở dưới ḷng đất.  Nó ở trong sâu thẳm của tâm hồn. Tôi chợt nhận ra ḍng sông đó trong một chiều của “Ngày Mẹ Hiền” (Mother’s Day) cuối mùa Xuân ở California.  Tôi có thật nhiều quà nhưng không c̣n Mẹ.

Mỗi lần nhớ Mẹ tôi lại nhớ chiếc cầu và nhớ ngọn gió Nồm lồng lộng nắng cuối Xuân quấn quưt bên Cầu.  Xa quê hương trên 20 năm, khi tôi thức bên ni th́ chiếc cầu bên tê đang ngủ, nhưng ḷng tôi vẫn gần với chiếc cầu trong gang tấc:  Tôi vẫn c̣n  Quê hương, c̣n hơi ấm nắng cuối Xuân và chiếc Cầu trong tâm ảnh.

 

trở về CON YÊU BÁNH NẬM

trở về tập truyện