|


cầu trường tiền
sáu vài mười hai nhịp
****
Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
Em qua không kịp tội lắm anh ơi
Thà rằng không biết th́ thôi
Biết rồi mỗi đứa mỗi nơi cũng buồn
(Ḥ ru em của Huế)
Văn hoá những chiếc cầu
Có một khái niệm tưởng như gần gũi và đơn
thuần nhưng lại rất xa vời và trừu tượng, đó là khái niệm về
Văn Hóa. Thời nhỏ, tôi thường nghe giới đàn anh hỏi thăm
“Tŕnh độ văn hóa” của một người bằng cách đem chữ nghĩa
thánh hiền ra đo, như “tŕnh độ văn hóa: Mù chữ, trung
học, tiểu học, đại học...”. Lớn lên, tôi mới khám phá ra
điều thú vị rằng: A th́ ra! Việt Nam ta là nơi duy nhất
trong vũ trụ có “tŕnh độ văn hóa mù chữ”! Thế mà mấy bác
Tây học như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh lại phán: “Văn: Là
vẻ đẹp, vẻ sáng...”. Mù chữ mà lại đ̣i đẹp và sáng th́ cũng
như đêm ba mươi tối hù, dẫu Văn có đi ṃn trăm đôi guốc gỗ
cũng khó ḷng mà Hóa được thành… trăng.
Trong khái niệm Đông Phương, văn hóa tiềm ẩn
một vẻ đẹp mơ hồ và một thiên năng cao cả, th́ Tây Phương
thực tế hơn, văn hóa là cách thể hiện kinh nghiệm sống.
Nhất là Mỹ, những nhà hoạt động văn hóa đă đập vỡ và vun
quén lại khái niệm văn hoá cổ điển từ thời tiền Victoria để
đưa văn hóa xuống đường. Nhiều khái niệm văn hóa ra đời đến
nỗi chẳng ai c̣n thấy “chướng” trước những khái niệm “văn
hóa bên lề” (subculture) như văn hóa của giới đồng tính
luyến ái, văn hoá những người sống vô gia cư, văn hóa giới
nghệ sĩ, văn hóa giới quyền quư tiếng tăm, văn hóa vùng
thường xuyên bị động đất, văn hóa khu cao ốc chọc trời...
Đi từ những bước nghênh ngang cao chênh vênh
trong khái niệm “Văn Hóa Cao Sang” (High Cuture) của Matthew
Arnold (1869) đến dáng là đà trong mớ hành lư bụi đời “Văn
Hoá B́nh Dân” (Ordinary Culture) của Raymond Williams
(1958), tôi bỗng hứng chí nhớ về và dừng lại bên những chiếc
cầu từ thuở cây đa bến cũ rồi tự hỏi: “Có chăng Văn Hóa
Những Chiếc Cầu?”. Rồi cũng hồn nhiên như anh Xă Xệ tin
mặt trăng làng ta là sáng nhất, tôi trả lời rằng, “Có!”.
Tôi tin là mỗi chiếc cầu đều có một ḍng đời, một lịch sử,
một nếp sinh hoạt tương tự như một dáng vẻ, một kiểu cách
văn hóa riêng. Những chiếc cầu khỉ đă nằm vắt qua suốt
chiều dài của lịch sử. Rồi cầu tre (Anh thương em mấy nhịp
cầu tre), cầu ván, cầu ao (Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre
lắt lẻo gập ghềnh khó đi) . Cho đến cầu phao, cầu nổi, cầu
sắt, cầu đá, cầu xi-măng, cầu chuồi, cầu gác, cầu treo... đă
ghi dấu bao nhiêu thế hệ lịch sử, văn hóa.
Thuở c̣n bé ở quê nhà, mỗi chiếc cầu từ đầu
làng đến cuối xóm đều gợi cho tôi một thế giới riêng tư nho
nhỏ. Như Cầu Lừ, chiếc cầu khỉ èo ọp bằng tre đă chứng kiến
bao nhiêu là tai biến của dân làng. Cầu Vượn, cầu Banh một
đời chở đầy những mùa trăng lúa mới. Những chiếc cầu Việt
Nam quản chi khó nhọc để quặn ḿnh nối hai bờ anh em hay thù
nghịch. Có những chiếc cầu nằm xuôi mái lặng lẽ mà sao đứng
nh́n, tôi lại có cảm giác như mỗi thanh sắt vô tri và chiếc
bù loon đang run lên bần bật. Đó là cảm giác thuở học tṛ
được thầy giáo dắt ra thăm cầu Bến Hải nối liền – mà chia
cắt – hai bờ sông Hiền Lương soi bóng hai màu cầu... lạnh
lùng, rờn rợn. Cầu không dắt ta đi mà cũng chẳng đưa ta
về. Có khi đi th́ c̣n, mà về lại mất. Mất khi trở về có
nghĩa là đi không bao giờ trở lại.
Khái niệm văn hóa những chiếc cầu lớn hẳn
trong ḷng tôi như một niềm thâm tín khi mùa Hè năm 2000 tôi
ngỡ ngàng qua nhánh Tiền Giang sông Cửu Long bằng chiếc cầu
treo “Bắc” Mỹ Thuận. Có lẽ cả nước đều mang chút tâm trạng
ngỡ ngàng như thế khi đối diện với chiếc cầu treo tân kỳ mở
màn đi vào thế kỷ 21 với nỗi ḷng Tú Xương: “Đêm nghe tiếng
ếch bên tai; giật ḿnh c̣n tưởng tiếng ai gọi đ̣!” Nh́n từ
xa, tôi bỗng thấy cây cầu giống như cây đàn 128 sợi dây, một
cây đàn đầy biểu tượng cho ngón đàn tài tử của dân Nam bộ.
Đứng trên chiếc cầu lộng gió dài gần hai cây số với hai trụ
tháp cao vút, khách vẫn c̣n mường tượng nghe tiếng máy phà
mới hôm nào đây c̣n kḥ khè cuộn nước. Mùi nắng gió và phù
sa lồng lộng thổi qua cầu vẫn chưa làm ai quên được mùi chim
mía nướng than, mùi những xách hàng rong đủ vị và và khối âm
thanh không tên tuổi nhưng thật thân quen trên bến phà thuở
nọ. Chiếc cầu mới đang khởi sự một nguồn sống mới. Tôi cảm
nhận được rằng, dù con người có muốn hay không, cây cầu với
ngôn ngữ văn hóa lặng thinh hay lao xao riêng một cơi, vẫn
đang tự nó ghi những ḍng đầu của cuốn sử đời ḿnh... như
chuyện chiếc cầu trên sông Drina, trường ca cầu sông Kwai đă
trở thành bất tử.
Tôi đă đi qua những chiếc cầu xa xứ với cái
nh́n hiếu kỳ của người du khách và với một cảm giác thán
phục bàn tay và khối óc tuyệt hảo của con người. Nhưng giữa
cầu và tôi vẫn là hai thế giới, đi về không một chút vấn
vương. Như h́nh ảnh nhà quư tộc cổ kính đi xe song mă,
chiếc cầu treo của thế kỷ 20 là con đẻ của nền văn hóa cao
ốc chọc trời.
Những chiếc cầu vang bóng như Golden Gate
Bridge, Bay Bridge, Brooklyn... của Mỹ đều vươn những vài
cầu cao vút tới những vùng giàu sang như San Francisco,
Manhattan. Cầu Mirabeau của Pháp bắt qua ḍng sông Seine
soi bóng tháp Eiffel uy nghi mà kiêu sa giữa ḷng kinh thành
Ba Lê ánh sáng. Cầu Mỹ Thuận – chiếc cầu treo trẻ nhất của
thế kỷ nầy– đă được thai nghén và h́nh thành trong một bối
cảnh văn hóa khác hẳn với những chiếc cầu kia. Chiếc cầu đă
vươn ḿnh qua sông phù sa vạn lư như con rồng chín khúc uốn
ḿnh từ Tây Tạng về tới biển Đông. Ḍng sông vẫn c̣n nguyên
nét sơ khai. Tôi qua cầu với tâm trạng đi vào cửa ngơ ngày
mai của đồng bằng sông Cửu Long đang c̣n ngủ say trong màu
xanh phủ hết chân trời của ruộng lúa, bóng dừa, vườn cây,
kinh rạch và điệu lư qua cầu. Dáng nổi bật của cây cầu giữa
một vùng mênh mông làm cho cây cầu chưa thuần với ḍng sông
mà gợi lên một cảm giác thách thức. Đó là một cảm giác mạnh
mà du khách thường nhắc tới khi đi qua cầu Akashi Kaikyo,
chiếc cầu treo dài nhất thế giới – gấp ba lần cầu Mỹ Thuận –
của Nhật bắc qua eo biển Akashi. Nhưng sự thách thức của
cầu Akashi là những luồng sóng dữ, là sự đối mặt với cái uy
vũ tàn bạo của thiên nhiên. C̣n sự thách thức của cầu treo
Mỹ Thuận là sức bật khai phá của con người tương lai trên
lối vào thế kỷ.
Từ khi chưa có bóng người trên trái đất th́
đă có hàng vạn ḍng sông. Và lịch sử con người lớn lên với
những cây cầu cho bớt ngăn sông cách núi. Nhưng có được bao
nhiêu ḍng sông thuộc về một vùng đất ở và có được bao nhiêu
chiếc cầu thuộc về một ḍng sông trôi. Chiếc cầu chỉ thuộc
về ḍng sông khi nào cầu không chỉ là phương tiện để vượt
qua sông mà cầu chở ḷng người đến với ḍng sông. Hơn 2000
năm, cầu Luân Đôn trên sông Thames; 500 năm, cầu Mirabeau
trên sông Seine; và 100 năm cầu Trường Tiền trên sông Hương
không chỉ đưa chân người qua cầu mà c̣n đưa ḷng người trôi
chảy dưới ḍng sông. Nguyễn Du, trong mắt nh́n Đông Phương,
thấy cây cầu như là điểm hẹn của thiên nhiên, “Dưới cầu nước
chảy trong veo, bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha”, màø
Appolinaire, trong cảm nhận đầy đam mê với chút váng vất
siêu thực Tây Phương th́ thấy cây cầu trăm năm vẫn đứng đó
nhưng bóng nó là khởiø điểm của từ ly: “Dưới cầu Mirabeau,
sông Seine thầm lặng chảy. T́nh chúng ta đi măi, vui với sầu
theo nhau.”
Có đứng trên những chiếc cầu với lịch sử hàng
trăm năm của thế giới, mới cảm nhận hết h́nh ảnh đan thanh,
xa vắng “em qua không kịp tội lắm anh ơi…” và khái niệm cầu
soi bóng nước của Trường Tiền. H́nh ảnh một chiếc cầu phải
ngắm từ nhiều góc độ và trong những thời điểm ngày đêm khác
nhau để cho thiên nhiên góp phần sáng tạo nét đẹp của cây
cầu. Tôi đă qua lại cầu sông Thames ở Luân Đôn. Chiếc cầu
chạm trổ như một lâu đài La Mă đúng với cái tên Tower Bridge
(Cầu Tháp). Nhưng khách trông cầu chỉ thấy được những đường
nét vuơng giả, kiêu kỳ của chiếc cầu với gịng sông Thames
đục ngầu bên dưới. Tôi không có một cảm xúc nào khi đứng
trên chiếc cầu cứng đơ, ch́m khuất trong khung cảnh của
những lâu đài chạm trổ. Tôi đă cố đến t́m chiếc cầu
Mirabeau man mác trong thơ Appolinaire trên bờ sông Seine
của Paris lúc về đêm, nhưng chỉ thấy một chiếc cầu vạm vỡ,
lăng quên trong hằng trăm chiếc cầu trên sông Seine. Và
trong ánh sáng ban ngày chiếc cầu lại trông càng trơ trụi
với bức tượng mỹ nhân bên dưới ngước lên như một nỗi buồn vô
vọng. Tôi cố đừng suy nghĩ chủ quan hay mang một thiên kiến
bảo thủ để so sánh, rồi tự phong cho cầu Trường Tiền là đẹp,
là nên thơ. Nhưng tôi không thể dừng lại được khi trong mắt
nh́n và cảm xúc của tôi, cầu Trường Tiền thật sự có một linh
hồn ḥa điệu với gịng sông, thiên nhiên và con người đơn sơ
qua về nơi khung cảnh ấy.
Tôi lớn lên ở Huế.
Rồi bỏ Huế mà đi.
Hành lư một đời để dành với Huế mà tôi mang
theo cũng có thể là cả một gia tài mang đi không hết, mà
cũng có thể chỉ là một búp sen đầu mùa mới nhú lên mà v́
thương màu hồng ngây thơ quá, tôi không nở hái mang theo. Xa
Huế, tôi đă mang màu tím trong không gian Huế buổi chiều,
mang mùi trầm hương từ mấy trăm ngôi chùa cổ, mang tiếng
chuông công phu trong đêm khuya, mang rong rêu của ḍng sông
có những bến đ̣ áo trắng mà đi. Mớ hành lư đó cần một chiếc
va-li không giới hạn để đựng. Chiếc va-li không khóa, là
trái tim vô ngă của Huế, là chiếc cầu Trường Tiền màu nhũ
bạc trên ḍng sông Hương.
Chiếc Cầu trong tâm ảnh
Châu Thuận Hóa là ốc đảo của thiên nhiên Việt
Nam suốt cả một thời quá khứ. Huế cách trở trong ḷng người
xứ Bắc – Thương em anh cũng muốn vô, sợ truông nhà Hồ sợ phá
Tam Giang – Và xa xôi lạ lùng quá đỗi với người phương Nam –
Đi bộ th́ khiếp Hải Vân, đi thủy th́ khiếp sóng thần Hang
Dơi. Thiên nhiên thuở nọ đă bắt Huế nằm im gối đầu Trường
Sơn, co chân trên dăi đất hẹp giáp biển Đông như những ḍng
sông bị cản chiều dài, cách trở chiều rộng, nên phải chảy
vào bề sâu mà về lại trong ḷng. Bởi vậy cái đẹp của Huế là
cái đẹp mang vẻ trầm lặng và cô tịch. Cái nên thơ của Huế
là vẻ nên thơ trong mắt nai rừng lúc hoàng hôn: Vời vợi,
hồn nhiên nhưng cũng trang đài và huyền hoặc. Dường như
người Huế nh́n về quê người th́ thấy thấp thoáng bóng tương
lai, mà nh́n về quê ḿnh th́ chỉ thấy toàn quá khứ. Phải
chăng v́ thế mà người Huế thành người tù chung thân của quá
khứ, thành kẻ hành hương quanh miếu đền kỷ niệm, những kỷ
niệm thuộc về một thời “mô tê” lăng đăng như ca dao.
Huế có một ḍng sông và một chiếc
cầu như ảo ảnh, đó là ḍng sông Hương đă trở thành ḍng thời
gian và chiếc cầu Trường Tiền là bến đ̣ của dĩ văng. Ḍng
thời gian vẫn luân lưu trôi chảy nhưng không già. Thời gian
sẽ đẩy lùi quá khứ để mà quên và kéo dĩ văng trở về để mà
nhớ. Mỗi năm, khi mùa Thu về, ḍng sông ấy vẫn xanh; vẫn
trôi chảy âm thầm dưới chiếc cầu cong sáu nhịp có nét e ấp
tṛn trăng đầy duyên dáng. Ḍng sông và chiếc cầu vẫn c̣n
trẻ măi mà những hàng cây hai bên đường lại ngă màu. Thời
gian cũng có nét buồn riêng của nó. Với Huế, nét buồn của
thời gian là vết chân chim trên khóe mắt cười đă hết long
lanh của cô học tṛ Đồng Khánh một thời áo trắng.
Một sớm mùa Hè năm 1954, sau khi
rời bến xe Nguyễn Hoàng, tôi theo mẹ về chợ Đông Ba. Một
sớm mai trên hè phố Huế, được ngồi bệt trên chiếc mũ đệm bên
gánh cháo ḷng un khói và được ăn một tô cháo nóng hổi đă
đời là cả một niềm hạnh phúc lớn lao mà rất ít đứa trẻ ở
làng cùng lứa như tôi có được. Mùa Hè, mới nắng mai đă
gắt. Vị cay và sức nóng bên trong của tô cháo ḷng, bên
ngoài của nắng làm tôi ngầy ngật như say. Tôi chạy lúp xúp
theo mẹ qua cầu mà chẳng thấy được ǵ v́ mồ hôi đổ dầm như
tắm. Đến giữa cầu, cơn gió qua sông mát lạnh. Tôi không
cần đưa tay áo quệt mồ hôi mà mắt mũi, mặt mày vẫn ráo
hoảnh. Tôi ngước nh́n quanh. Cao vút trên đầu tôi là đường
cong trắng vàng rực rỡ như thềm núi Trường Sơn có cầu vồng
ra ăn mưa. Trước vẻ ngỡ ngàng của thằng con trai út chưa ra
khỏi mấy lũy tre làng, mẹ tôi chợt nhớ ra và lên tiếng:
- Cầu Trường Tiền!
Cả một cơn sóng kư ức dội về. Tôi đă quen
lắm từ bao nhiêu năm qua tiếng khóc trẻ thơ dịu dần trong
tiếng ḥ ru em, vang lên ấm dịu, ngọt ngào từ xóm trên về
xóm dưới. H́nh như tôi đă biết sâu lắm rồi mà vẫn hỏi. Hỏi
như để khẳng định một t́nh yêu đang có mặt, nhưng cũng rất
xa xôi:
- Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp đây
phải không mạ hè?
Mẹ tôi thật vô t́nh. Mẹ không chia
sẻ luồng gió mới đang mở phăng cánh cửa ḷng tôi, nên mẹ đă
nói bằng ngôn ngữ thản nhiên, làm như tôi cũng đă có hơn nửa
đời người quen thuộc với chiếc cầu nầy như mẹ. Không, tôi
có riêng đôi mắt b́nh minh của trẻ thơ để khám phá ra “cái
ông cầu” uy nghi vươn tay dài sáu khúc để nối liền bờ bên nớ
bên ni. Tôi như một người nghèo cháy túi v́ không t́m ra
được chút vốn liếng kinh nghiệm nào ở làng để so sánh với cả
một thế giới lạ lùng, đồ sộ, xinh đẹp, cao sang, nhưng cũng
mang vẻ ngự trị và bí ẩn chứa trong từng mảnh nhỏ của “ông”
cầu. Tôi mơ hồ liên tưởng tới đường cong như cánh cung của
cặp rồng uốn lượn trên nóc đ́nh làng để ví với dáng cong
cong thon thả của những vài cầu lên xuống. Vài cầu đang ngự
trên cao chót vót tận đọt tre lá ngà gần mây trắng, thấp dần
xuống để soi ḿnh trên sông và từ từ vút cong lên trở lại.
Tôi đếm thầm những cây quạt trắng khổng lồ ḿnh đă đi qua:
Một, hai, ba, bốn, năm, sáu. Rồi những tảng mây trôi trên
xa cho cây cầu đổi sắc làm tôi nhớ những giọt sương mai trên
lưới nhện hoang giăng trên bờ cỏ dại ở đầu làng.
Có tiếng nổ rất xa, đâu từ phía
núi. Tôi nhớn nhác bấu chặt tay mẹ. Mẹ tôi cười, nói một
cách tự tin:
- Sáng ni đ́nh chiến rồi, sợ chi nữa!
Tôi nghĩ bụng, “Đ́nh chiến là cái ông nào mà
to hơn gan cóc tía. Súng đạn không sợ th́ c̣n biết sợ
ai!”. Tôi hỏi về cái ông “đ́nh chiến”. Mẹ tôi cười tội
nghiệp rồi giải thích theo lối thông tin “Làng trên xóm
dưới”:
- Th́ đ́nh chiến là họ kư hiệp định Giơ-Neo
với nhau. Việt Minh, Bảo Vệ như chú Dưa, chú Cà không bắn
nhau nữa. Mai mốt, ḿnh lên nhà trên kê phản ngủ. Rồi mạ
tháo cái hầm làm chuồng heo, thả cặp heo tới tháng Chạp kỵ
Ba, rồi ăn Tết. Tôi nín thở tận hưởng nguồn hạnh phúc tưởng
tượng là từ nay, đêm đêm ḿnh sẽ thôi ngủ dưới hầm, khỏi
ngửi mùi rễ tre lên mốc, khỏi nghe bầy mối nghiến tre trèo
trẹo thâu đêm.
Nghe mẹ tôi vẽ bức tranh mơ ước, mấy người
gánh gồng cùng chạy bộ qua cầu cũng hớn hở hỏi nhau:
- Ń, Thím nớ về mô? Đ́nh chiến rồi, hoà
b́nh rồi, hết sợ súng đạn, ăn hột muối cũng sướng. Chừ lo
về lại dưới làng cuốc đất mần ăn.
Cây cầu quanh tôi trắng tuyền như ngọc bích.
Từ phút đó, cầu đă viết trong kư ức hoa niên của tôi những
trang đầu tiên và kết tụ thành tâm ảnh: Cầu Trường Tiền đó,
chiếc cầu chở hoà b́nh về lại quê xưa.
Rồi đời cứ theo ḍng. Năm năm, mười năm, hai
mươi năm…... tôi đă đi về qua chiếc cầu đó; và hết một đời
chiếc cầu đó sẽ soi bóng măi trong ḷng tôi.
Ḍng sông Hương là mẹ nuôi, đă trở thành mẹ
hiền và xứ Huế quê ngoại đă trở thành quê hương yêu dấu của
cầu Trường Tiền. Cầu chào đời ở tận bên Tây. Năm 1899 hăng
Eiffel mang về Huế đặt bên cạnh kho đúc tiền nên mang tên là
cầu Trường Tiền. Lên năm tuổi, mới học vở ḷng đường đi c̣n
lót ván, trận băo năm Th́n 1904 đă xô ngă bốn nhịp cầu. Vè
dân gian ghi lại rằng, “Nửa đêm băo tới th́nh ĺnh; cù lăn
nổi dậy miếu đ́nh nghinh ngang...” và cù lăn đă “Xô cầu
Trường Tiền ngă bốn, đốn cột cờ găy ba!”
Trường Tiền là chiếc cầu định mệnh của Huế.
T́nh yêu chưa bước song đôi qua cầu là t́nh yêu chưa
“chín”. Hận thù chưa giải được trên cầu th́ thù hận chưa
nguôi. Uy vũ chưa tuyệt lộ trên cầu th́ chưa phân thắng
bại. Đến Huế mà chưa đứng trên cầu là chưa vô tới Huế, chỉ
mới “tạt” qua Huế mà thôi. Phải chăng v́ thế mà từ ngày có
mặt, tuy nằm yên một cơi, Trường Tiền đă mang những vết hằn
lịch sử sâu nặng nhất của một xứ Huế thăng trầm theo thế sự.
Ngày mới lớn lên ở làng, tôi thường nghe thế
hệ đàn anh kể chuyện “Chiến sĩ qua cầu”. Câu chuyện bao giờ
cũng bắt đầu bằng cái mốc “Thời Nhật đảo chánh”. Ngày ấy,
thực tế lẫn huyền thoại “chống thực dân Tây xâm lăng” là một
khúc anh hùng ca thôi thúc những tấm ḷng yêu nước lên đường
kháng chiến. Mùa Đông năm 1946, những người trai quê và
thôn nữ của làng tôi lũ lượt gánh ớt bột, mạt cưa, trấu, rơm
rạ, và bùi nhùi để qua Huế đánh đồn Tây Ṭa Khâm. Nghe kể
lại làø khi xông ớt, trấu, rơm rạ, mấy ả đầm và Tây con ở
trên lầu cay mắt quá, khóc bằng tiếng Pháp (!), nghe thảm
thiết như “mèo kêu” (?!). Các chiến sĩ chân đất làng ta
không biết v́ động ḷng trắc ẩn hay v́ không chống nổi với
súng đạn thiệt t́nh của quân Tây nên đă hè nhau chạy bộ qua
cầu Truờng Tiền, băng qua đồng, trở về làng cũ hát t́nh ca
Phạm Duy “Ngày nao ta phá tan đồn nó đi, sẽ thấy trên đường
trở về, áo dài đùa trong nắng hè...” Làng tôi có khoảng mười
“Chiến Sĩ Qua Cầu” và tất cả đều có một nỗi niềm chung là
đầu hôm khi băng qua sông Hương, cầu Trường Tiền c̣n nguyên
vẹn, nhưng khi trở lại sau nửa đêm gần sáng, cây cầu đă găy
đôi! Những người trai quê và gái quê đêm đó đă khóc khi lội
qua sông: Khóc cho một cây cầu thân yêu đă găy và buồn cho
một ḍng sông không ấp ủ nỗi một cây cầu. Lịch sử sau nầy
đă ghi lại rằng, nửa đêm 19 tháng 12 năm 1946, dưới sự chỉ
huy của Trung đoàn trưởng Trung đoàn Trần Cao Vân, ông Hà
Văn Lâu, cầu Trường Tiền đă bị gài ḿn đánh sập để cản bước
tiến của quân Tây. Ớt khô của ḷng yêu nước làm sao thắng
được thuốc súng của xâm lăng! Anh hùng ca không chỉ là chiến
lợi phẩm thu được trên chiến trường. Chiến sĩ làng tôi bỏ
chạy, thế mà hào khí một thời vẫn c̣n cháy măi trong ḷng họ
theo những câu chuyện kể không đầu không đuôi, nhưng bao giờ
cũng cảm động khi đến đoạn một nhịp cầu Trường Tiền đă găy
lúc nửa đêm...
Tôi là học tṛ từ làng quê lên Huế học. Thời
tôi mới lớn, học tṛ nhà quê lên tỉnh học c̣n ít hơn là học
tṛ các thành phố lớn được qua Tây, qua Mỹ du học.
Tôi ở trọ trong Thành Nội, học trường Quốc
Học. Mỗi buổi sáng đi học, ra cửa Ngăn dọc theo bờ Bắc sông
Hương, qua cầu Trường Tiền, đi ngược bờ Nam sông Hương. Băi
học, về cầu Trường Tiền, vô cửa Thượng Tứ... Nhịp điệu đi về
trên một chiếc cầu ngỡ như đơn điệu ngày lại ngày cả mười
năm đó, thực ra, chẳng có bao giờ giống nhau như con nước
bao năm qua trôi chảy măi dưới chân cầu mà vẫn không có một
lần lập lại.
“Mỗi sáng sớm đi học, qua cầu khi gió ban
mai c̣n nhẹ nhàng, mơn man tà áo, vuốt ve mái tóc thề, dỗ
dành từng bước đi của người qua cầu, ánh sáng lấp lánh trên
mấy vài mấy nhịp uốn cong, tuổi học tṛ thấy cuộc đời như
trang vở đầu tiên của ngày tựu trường, con tim hồi hộp vui
mừng nơi từng nhịp đi...
Cái ṿm trắng bạc có một chút kiêu sa phù
phiếm. Mỗi bận qua cầu tôi có cảm giác như đi qua một đám
mây phù du, một đoạn đường sương phủ hay đi vào một mối t́nh
đầu không dài lâu; hoặc bắt đầu một cuộc đời lăng tử cũng
không biết chừng.
Bước đi trên cầu trong ngọn gió sông Hương
buổi sáng, khi chiếc cầu c̣n ngái ngủ trong khói sóng và màn
sương, nh́n về phía Vĩ Dạ, có sóng nước êm đềm xanh một màu
lục thủy, những chùm tre lă ngọn nơi phía Cồn Hến ẩn hiện
đằng sau như vừa mới gội nước hồ thủy để xanh một màu xanh
êm ả có thể làm mướt lại những con mắt suốt đêm thức trắng
để “gạo” bài. Đến giữa cầu, ấy là lúc không thể nào không
ngoảnh mặt về phía rặng núi Kim Phụng nổi hẳn lên trong dăy
Trường Sơn kéo dài về hướng Tây Nam. Sông Hương mà không có
dăy núi này đứng đợi như một tri âm vĩnh viễn th́ e sẽ là
con sông thảm thiết không biết trôi về phương mô. Dăy núi
ấy, xanh một màu xanh “xuân sơn” thăm thẳm, vừa huyền bí,
vừa đa t́nh. H́nh như nhờ bóng núi xa xăm kia mà sông Hương
trở thành huyền ảo, như có như không trong một nỗi thầm lặng
miên man của ḍng nước chảy.” (Thái Kim Lan)
Giờ đến trường và tan học, cả con đường,
chiếc cầu và ḷng sông soi bóng đều sáng lên theo ḍng nón
lá và áo trắng học tṛ. Ḍng suối trắng đó có lúc đầy giữa
mùa Thu tựu trường, mùa Xuân nắng ấm; vơi dần giữa mùa thi
sang Hè, và xám lại giữa mùa Đông co ro trong những chiếc áo
mưa. Thế nhưng cũng có khi ḍng suối ấy khô quắt khô queo
theo nhịp cầu găy đổ.
Chiếc cầu sáu nhịp nối liền hai bờ sông bên
phượng, bên me. Huế cùng ḍng sông bên dưới và ḍng người
bên trên th́ trôi chảy mà chiếc cầu th́ vẫn lặng im trong
nắng trong mưa có vẻ như thường hằng, bất biến. Huế đă trải
qua không biết bao nhiêu cuộc bể dâu, thế mà sự ngây thơ vẫn
c̣n đeo đẳng. Có những tâm hồn đă thành sắt đá v́ chiến
tranh; những cảm quan đă chai ĺ v́ súng đạn; những ước mơ
đă cùn nhụt v́ thực tế chua cay... bỗng trở ḿnh một cách
nhẹ nhàng, rồi thức dậy nh́n ḍng sông xanh bên dưới với đôi
mắt trẻ thơ khi lững thững bước qua chiếc cầu màu nhũ bạc.
Phong cảnh trên cầu, ngày lụn tháng qua, đă
trở thành Tâm Ảnh trong ḷng người lớn lên hay già đi cùng
với chiếc cầu. Khi một bóng dáng đă trở thành tâm ảnh th́ sự
hiện sinh của nó sẽ trở thành ảo ảnh. Như bóng dáng Kim
Trọng thuở ban đầu “Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa” đă thành
tâm ảnh trong một thế giới riêng của Thúy Kiều. Bởi vậy,
trong ngày Kim Kiều tái hợp, chàng Kim bằng xương bằng thịt
chỉ là một hiện sinh xa lạ. Nỗi đam mê cháy bỏng và sự khắc
khoải đợi chờ “từ Lâm Truy em lạc tới Giang Hà” của Thúy
Kiều đă miên viễn hướng về tâm ảnh. Buổi đoàn viên sau mười
lăm năm luân lạc mà “đổi duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ” là
một phản ứng lạnh lẽo của tâm hồn. Phải chăng đó là một
cách lẩn trốn dưới cán dù đạo lư khi lửa t́nh đă nguội!
Cũng thế, những người xa Huế đă mang chiếc cầu trong tâm ảnh
mà ra đi. Vô số chiếc cầu Trường Tiền đă bắt qua ḍng sông
tưởng tượng trong tâm thức lăng mạn được thi vị hóa bằng
chất men lưu đày nên càng… xa Huế, chiếc cầu và ḍng sông
trong tâm ảnh lại hiện về càng rơ, bất chợt, không hẹn không
ḥ. Tôi đă về lại Huế, nhiều lần đi trên chiếc cầu xưa mà
vẫn quay quắt đi t́m. T́m chi? T́m chiếc cầu trong tâm ảnh
- như ngày xưa vua Tự Đức đă có lần toan “Đập cổ kính t́m
ra lấy bóng...”!
Cũng như tháp Eiffel ở Paris, Cầu Tháp ở
London, cổ thành La Mă ở Ư, tượng Mănh Sư ở Thụy Sĩ… cầu
Trường Tiền là biểu tượng thể chất nhưng là một dấu ấn tâm
hồn thấm đậm mầu son của Huế. Chiếc cầu tự nó đă đẹp như
một sự kết hợp hài ḥa giữa kỹ thuật hiện đại và nghệ thuật
truyền thống mang dáng vẻ Đông Tây đă đành; nhưng phong cảnh
thiên nhiên kỳ tú làm bối cảnh càng đẹp hơn. Và h́nh ảnh áo
trắng học tṛ – một thời và măi măi? – ngày hai buổi qua
cầu trong h́nh tượng vật lư và in bóng trên cầu trong h́nh
tượng tâm lư đă biến chiếc cầu thành huyền thoại của những
điều có thật.
Với ḍng tiểu sử đời ḿnh dài dằng dặc trong
vinh quang hay cay đắng, một người đàn bà có thể sẽ đáng
kính hơn, nhưng đồng thời cũng sẽ mất đi sức hút hồn nhiên
và đam mê của tuổi xuân th́ hơn. Nhưng với một chiếc cầu
th́ chính ḍng lịch sử đó mới là ngôn ngữ thầm lặng của hiện
thể đang nói với nhân gian. Chuyện chiếc cầu không dừng lại
trên cầu mà chuyên chở vào tâm hồn cả bóng lẫn h́nh theo mỗi
bước đi từ quá khứ đến tương lai. Không gian và thời gian
thường hằng thay đổi, nhưng Cầu Trường Tiền vẫn tâm sự triền
miên với những người yêu Huế c̣n đứng lại bên cầu hay một
đời xa xứ.
Không một chút vô t́nh nhưng rồi tôi cũng
cũng phải xa Huế, mang tâm ảnh cầu Trường Tiền mà đi. Chiếc
cầu trong tôi bỗng thành một sự hiện hữu vô h́nh. Những khi
buồn và cô độc nhất ở quê người, tôi lại lục lọi ngăn kéo
hoài niệm của những ngày vui bên cầu, cố lấy một tâm ảnh
b́nh minh để tự ḿnh soi ḿnh giữa hoàng hôn và bóng tối.
Có khi, cái cầu như một đạo sĩ thần thoại giúp ḿnh hiểu
ḿnh; giúp cái ta hiểu cái tôi v́ tự bản chất cái “ngă” của
chiếc cầu là vô ngă. Chiếc cầu thân ái một cách dửng dưng;
không xua đuổi cũng chẳng níu kéo những suối nguồn thổn
thức.
Sống hơn 20 năm trên đất Mỹ, cái nh́n của tôi
về chiếc cầu trên quê hương hay quê hương trên chiếc cầu vẫn
chẳng có ǵ thay đổi. Trong sự thăm thẳm tận cùng của lặng
yên, chiếc cầu trong tôi hiện ra nửa như hư ảo mà nửa như
rất thật; kết tụ những bến bờ xa lạ và quen thân thành một
dăi Ngân hà. Ḍng sông trắng phau ấy không vắt ngang vũ trụ
mà cũng chẳng ở dưới ḷng đất. Nó ở trong sâu thẳm của tâm
hồn. Tôi chợt nhận ra ḍng sông đó trong một chiều của “Ngày
Mẹ Hiền” (Mother’s Day) cuối mùa Xuân ở California. Tôi có
thật nhiều quà nhưng không c̣n Mẹ.
Mỗi lần nhớ Mẹ tôi lại nhớ chiếc cầu và nhớ
ngọn gió Nồm lồng lộng nắng cuối Xuân quấn quưt bên Cầu. Xa
quê hương trên 20 năm, khi tôi thức bên ni th́ chiếc cầu bên
tê đang ngủ, nhưng ḷng tôi vẫn gần với chiếc cầu trong gang
tấc: Tôi vẫn c̣n Quê hương, c̣n hơi ấm nắng cuối Xuân và
chiếc Cầu trong tâm ảnh.
trở về
CON YÊU BÁNH NẬM
trở về tập
truyện
|