|


TỪ NGƠ HUẾ XƯA
Không ngờ rồi sẽ có ngày một
chú bé quê lại được vào trường Quốc Tử Giám.
Tôi được vào học lớp đệ thất
trường Hàm Nghi Huế năm 1958. Thỉnh thoảng vào những buổi
sáng sắp hàng chào cờ thầy hiệu trưởng Hồ Văn Lê và thầy
tổng giám thị Lê Hiếu Kính vẫn nhắc nhở rằng, nơi chúng tôi
đang đứng là trường Quốc Tử Giám ngày xưa. Quốc Tử Giám là
trường Đại học Quốc gia đầu tiên xây dựng ở thành Thăng Long
Hà Nội vào năm 1076 và trường “Đại học Quốc gia” này được
xây dựng ở Huế vào năm 1821 dưới triều vua Minh Mạng. Quốc
Tử Giám là trường dành riêng cho con vua cháu chúa đến học.
Gần một thế kỷ rưỡi sau, khi con cháu của hàng dân dă như
chúng tôi bước đến vùng đất một thuở Hoàng triều nầy, th́
Quốc Tử Giám uy nghiêm ngày xưa chỉ c̣n là tên gọi.
Di Luân Đường, tên ngôi nhà
lớn ở giữa làm đại giảng đường thời cổ, nay trở thành nơi
thờ phụng đức Khổng Tử và viện nghiên cứu Hán Học. Ba dăy
nhà làm cư xá cho các hoàng thân, cậu ấm xưa kia, nay được
dùng làm pḥng học của chúng tôi và văn pḥng của nhà
trường. Rồi bốn năm Quốc Tử Giám êm đềm đi qua. Những cậu
bé quê cũng học được chút ít văn minh thành phố. Ít ra th́
đầu óc chân tay cũng nhạt bớt chất phèn của “quê hương em
nước mặn đồng chua”, lên được hàng “tŕnh độ văn hóa đít
lôm” đủ làm kẻ sĩ miệt đồng.
Sau Hàm Nghi là Quốc Học.
Trường Quốc Học Huế cũng mang trên ḿnh một lịch sử le lói
không thua ǵ Quốc Tử Giám. Quốc Học vừa “oai” v́ có cái
tên rất sang; lại vừa có một lịch sử vang bóng như những dấu
ấn chói mầu son của chốn Hoàng triều cương thổ. Được xây
dựng từ năm 1896 dưới triều vua Thành Thái với cái tên Pháp
Việt đề huề là Lycée Khải Định. Lần đầu tiên, nơi chốn đế
đô thâm nghiêm, truyền thống “kỵ húy” khắt khe đến mức tên
thê thiếp của nhà vua cũng không dám gọi thẳng, thế mà lại
lấy tên một ông vua ra đặt tên trường không khác ǵ ở Paris.
Đây là nơi dành riêng cho con cái của các hoàng thân, quốc
thích và quan lại đến học. Trường Quốc Học đă là ḷ đào tạo
nhân tài của hai thế hệ Tiền chiến và thế hệ Chiến tranh
Việt Nam trong cả nước.
Tôi học lớp đệ tam, được đeo
“một quèo” ở biển tên màu xanh may trên ngực áo sơ mi
trắng. Học tṛ đệ tam Quốc Học là hàng lính mới ṭ te, nên
phải biết e dè và khiêm tốn đi về ngày hai buổi trên con
đường trái tim chất ngất ân t́nh nhất của Huế. Đó là con
đường Lê Lợi dọc sông Hương, từ Đập Đá lên ga Huế. Nhưng
khi đến trường Đồng Khánh và Quốc Học con đường bỗng mất
tên, biến dạng, quên cả tuổi đời, đổi áo nhân gian để trôi
vào ảo ảnh. Đường sẽ mang tên: Con đường áo trắng, đường
phượng bay, đường mang tên em, đường áo tím, đường t́nh sử,
đường tôn nữ… Tên mỗi con đường mang ư nghĩa riêng đối với
một người, một thuở, nhưng cái chung của nó vẫn là nét đẹp
không tàn phai.
Cái tự nhiên, xuềnh xoàng từ
trong bản chất của gă học tṛ miệt đồng như tôi thường xuyên
bị đánh thức. Cứ mỗi sáng thức dậy, chuẩn bị sách vở đến
trường, nghĩ đến khi đạp xe qua cầu Trường Tiền, quẹo phải,
ngang qua trường Đồng Khánh phải xông pha phơi ḿnh giữa một
rừng áo trắng, tóc thề, và những đôi mắt hải đăng ẩn ḿnh
sau nón lá là tôi phải “dọn ḿnh” cho gọn gàng tươm tất.
Quệt thêm một chút nước lạnh chải đầu cho gọn. Lấy bộ áo
quần xếp nếp thẳng tưng dằn dưới phản ngủ suốt đêm ra mặc.
Nếu không đi học trên đường phượng bay, ngang qua trường
Đồng Khánh có lẽ đời tôi sẽ đơn giản hơn. Rồi đến những mùa
thi, tương lai xa vời vợi, tôi ít nghĩ tới hơn là siêng năng
hé cửa nh́n trộm cô bé Đồng Khánh học cùng cấp lớp bên cạnh
nhà. Tôi dại dột không dám thổi đèn ngủ sớm hơn, nếu ánh đèn
nhà bên chưa tắt, mặc dù tôi đă ngáp dài, ngáp ngắn, cố vật
lộn với cơn buồn ngủ cứ níu tôi về với thực tại. Tôi tưởng
tượng quả đất sẽ quay ngược chiều nếu ngày treo bảng tú tài
mà cô bé đậu c̣n tôi rớt. Thế mà năm sau cô bé đậu c̣n tôi
rớt kỳ đầu thiệt t́nh. Tôi chẳng dám nh́n ai và dĩ nhiên là
không dám nh́n cô bé đă lên “bà tú”, rồi lặng lẽ cuốn gói
rời nhà trọ về làng bế môn gạo bài thi kỳ 2.
Hỏng thi là một biến cố của
đời học tṛ bất kỳ ở đâu. Nhưng đối với học tṛ Quốc Học
chúng tôi th́ hỏng thi tú tài là “đệ nhất buồn” v́ có ngôi
trường Đồng Khánh bên cạnh. Cái nh́n ghẻ lạnh hay thương
hại của người đẹp đối với người thua cuộc sẽ nhức buốt như
một bản án tuyệt t́nh không công bố đối với kẻ sa cơ.
Trường Đồng Khánh ảnh hưởng
lên con dân Quốc Học như thế nào th́ quả là khó mà lường
được. Nhưng tôi đă nghe một thằng bạn thuộc loại đẹp trai,
con nhà giàu, học… lếu long trọng phát biểu về nữ sinh
trường Đồng Khánh như sau:
- Dân Đồng Khánh dễ sợ chi
lạ, nói không “ngạ”!
Cách diễn tả thuần Huế như
vậy là một lọai “công án” Huế; một sự đem ngh́n trùng về
giữa hư không. “Dễ sợ” là một khái niệm cực tả mà mọi quy
ước của ngôn ngữ đều bất chấp h́nh tướng, không bị giới hạn
bởi kích thước của sự ví von, cân đo đong đếm. Đó là một cảm
nhận gần với tuyệt đối, mạnh hơn cả một chùm tiếng “rất”.
Rất, rất, rất… đẹp sẽ không đẹp bằng “đẹp dễ sợ!”. “Ngạ”
cũng là khái niệm của vô biên. Nói không ngạ là không thể
nào nói hết ra bằng lời. Cách nói Huế là cách nói bằng cảm
nhận. Nói hơi, nói bóng, nói một vầng mây bay qua thay cho
lời trần t́nh về mơ ước t́nh yêu chan chứa cả bầu trời xanh;
nói “sợ mạ la” thay cho một sự gật đầu ḥ hẹn. Ngôn ngữ
giàu cảm xúc nhất của Huế là nói mà không cần hiểu hay hiểu
cách nào cũng được. Chỉ cần cảm nhận “như rứa” và thấy
hay. Cái hay không qua ngơ ngách của phân tích và lư luận
mà đi thẳng vào cảm quan người nhận như lời nhạc mang chất
thơ dễ cảm nhưng khó hiểu của Trịnh Công Sơn. Dễ cảm mà khó
nhận như một lần qua bến đ̣ Thừa Phủ chiều mưa, vắng vẻ và
cảm thấy buồn. Nỗi buồn vô lư, vô duyên và vô cớ cứ lất
phất bay từ đầu sông tới cuối bến. Qua đ̣, không cần biết
có ai chờ ai, ai nhớ ai, ai con nhà ai và ai đă vắng, nhưng
vẫn có nổi cảm xúc mênh mang chực chờ đâu đó. Nhớ ai, ai
nhớ, bây giờ nhớ ai!
Riêng tôi, suốt ba năm học
Quốc Học, ngày lại ngày đạp xe đi học qua trường Đồng Khánh,
nhưng chưa bao giờ có dịp dừng lại trước cổng trường vôi
hồng pha sắc tím đó. Lư do tôi không dám lân la bén mảng
đến trường Đồng Khánh v́ thuở học tṛ, tôi cảm thấy Đồng
Khánh cả người lẫn ngựa đều mang một vẻ ǵ vừa sang, vừa
đẹp, không hợp với bản chất nông dân chất phác của ḿnh.
Dân Đồng Khánh đẹp nhất là
dáng vẻ bên ngoài. Mặt mũi nội dung ra sao chưa biết, nhưng
với cái vóc dáng thanh thanh, khoác lên chiếc áo dài tha
thướt, quần dài trắng tinh tươm, thanh khiết, nuột nà; với
dăi tóc mây đen tuyền, mọc ra từ chiếc nón lá trắng ngà, óng
mượt phủ lên lưng, chảy xuống bờ vai và uốn lượn với gió đă
tạo nên những huyền thoại về “cô gái sông Hương”.
H́nh như những dáng vẻ thanh
nhă như vậy thường hứa hẹn một khuôn mặt không diễm kiều th́
cũng rất thơ, e ấp núp dưới pháo đài là cái bóng vạn lư của
chiếc nón lá và dăi quai nón có h́nh dáng và mầu sắc nói
nhiều hơn cả vài trang tiểu sử. “Người lịch sự không ngoái
cổ nh́n lui”, tôi biết vậy nên họa hoằn lắm mới dám liều
lĩnh quay nh́n lui một khuôn mặt tưởng đâu đă yên thân sau
vành nón. Đi xe đạp nh́n lui một nàng tuyết trắng Đồng
Khánh, tôi thường ít sợ bị mắng “ba nhe” hơn là cảm giác vỡ
mộng nếu lỡ bắt gặp một khuôn mặt được dựng lên trong phút
đăng trí của “bà Mụ bắt lầm”!
Dân Đồng Khánh thường làm cho
dân Quốc Học chúng tôi không ít chàng bỗng thành nghệ sĩ,
thi nhân, lăng tử và đôi khi cũng thành anh hùng thật bụng
và anh hùng... vớ vẩn, chỉ v́ từ buổi có em. Người Đồng
Khánh c̣n có khúc “mê hồn ca” v́ giọng nói, tự nhiên cũng
nhiều mà làm điệu cũng không phải là ít. Âm vang tuổi thanh
xuân tṛn và ngọt lịm của giọng nữ có sức lay động đă dành,
nhưng cách dùng từ nhẹ nhàng, chọn lọc và quư phái của giới
nữ sinh thành phố Huế cộng với nghệ thuật diễn cảm gợi hồn
như th́ thầm, cắn môi, nheo mắt, bỏ lửng, đam mê, đăm chiêu,
hờn dỗi, lạnh lùng... c̣n làm cho dân Huế ngoại vi thành phố
như tôi đủ ngẩn ngơ bạt vía; nói chi đến những chàng trai xứ
Quảng mướt mồ hôi trèo đèo, lặn lội… ra thi!
Ai đă chọn ngôi nhà sát nách
trường Quốc Học để dựng lên trường Đồng Khánh quả là một
thiên tài đầy lăng mạn về khoa phong thủy và nghệ thuật.
Nếu đứng quay lưng về phía
núi Ngự B́nh, nh́n ra sông Hương trước mặt, sẽ có “Nam tả”
là trường Quốc Học và “Nữ hữu” là trường Đồng Khánh. Hai
ngôi trường mang thế cực dương và cực âm tạo thành một cặp
đôi “âm dương b́nh hành” qua gần cả một thế kỷ lịch sử học
tṛ. Chắc chắn là h́nh ảnh cô nữ sinh Đồng Khánh sẽ không
nên thơ đến mức huyền thọai như thế nếu trên đường Lê Lợi
bên bờ sông Hương không có bóng dáng của những chàng trai
Quốc Học: Vắng chàng, vàng rơi nỏ tiếc!
Ngày kỷ niệm Quốc Học 100
tuổi và Đồng Khánh 79 tuổi, tôi có cảm tưởng như đây là ngày
t́nh sử “Bách niên giai lăo” của hai ngôi trường “cặp đôi” –
Vẫn măi măi là cố nhân – dẫu cho “Cây đa bến cũ con đ̣ khác
đưa”!
Xa quê hương, cũng có nghĩa
là xa Huế, xa Quốc Học Đồng Khánh, xa những mảnh đời ngọt
ngào và cay đắng… mà tất cả đă thành kỷ niệm nằm sâu trong
những ngăn kư ức. Có những lúc thật bất chợt, ngăn kư ức
bật nắp và cơn lũ của hoài niệm cuồn cuộn cuốn phăng những
ḍng suy tưởng cho suối nguồn t́nh cảm kéo những nỗi buồn
vui đi về đâu xa tắp. Như sau cơn lụt có những bờ đất trầm
lỡ, dăm mảnh đất mang một h́nh hài mới nhưng đây đó vẫn c̣n
lại dấu vết của ngày xưa. Nơi đây, quê người, nếu giờ nầy
là 5 giờ chiều ngày thứ năm sắp tan sở ở Cali th́ bên tê,
Quốc Học Đồng Khánh là 7 giờ sáng ngày thứ sáu. Có tiếng
trống báo giờ vào lớp. Tôi nghe, từ một nỗi nhớ rất sâu,
nhưng không rộn ràng v́ dư âm đă tan vào đất, lắng vào ḷng,
hốt mê hốt giác hơn 40 năm…
Đêm Hồ Trường Quốc Học
Trong lịch sử 100
năm của trường Quốc Học, không biết có thời kỳ nào mà bảng
kết quả kỳ thi tú tài 2 lại có một tác dụng mang tính quyết
định cho số phận con người mạnh mẽ đến như thế. Mảnh bằng
không chỉ là dấu hiệu của học vấn mà c̣n là một quyết định
gần như tối hậu cho một thanh niên tuổi mười tám, đôi mươi,
được tạm yên thân hay phải bị nhổ bật cả gốc rể như thời kỳ
của tôi vào những năm giữa thập niên 1960. Khi tấm bảng
niêm yết danh sách thi Tú Tài vừa treo lên, cũng là lúc
chúng tôi chuẩn bị đổi đời: Vào đại học chuyên nghiệp, đại
học tự do; vào quân truờng rồi ra chiến trường hay chẳng vào
đâu cả… đều có nghĩa là bước vào một cuộc đời, một cách sống
hoàn toàn mới mẻ.
Tôi t́nh cờ được dự
buổi họp mặt học sinh Quốc Học mùa Hè tại nhà Nguyễn Thành
Nhân gần sân vân động Tự Do. Thật ra, đây là một cuộc họp
mặt của một nhóm thân hữu học sinh lớp 12 Quốc Học với sự
tiếp tay của những người đẹp Đồng Khánh, Kiểu Mẫu, Bán Công,
Mai Khôi… Chủ lực là các gă tú đậu thết đăi an ủi mấy chàng
tú hỏng.
Đây là cuộc họp mặt
học tṛ làm tôi nhớ đời v́ không ngờ sau đêm chia tay ấy, có
đứa đi lính bên nầy, đứa trốn vào bưng biền đi bộ đội bên
kia. Nhiều đứa trong “Đêm Hồ Trường” hôm đó, ngất ngưởng
men rượu Thiên Tường, rượu Làng Chuồn nằm gác chân lên nhau
mà ngủ, sớm mai chia tay đầy lưu luyến. Nhưng rồi qua nhiều
biến cố dồn dập trên quê hương, có những đứa bạn gần gũi
cùng ngồi chung bàn, chung lớp ở Quốc Học nhưng lại không
chung hoàn cảnh và chí hướng Chiến tranh băo liệt lan ra
khắp nơi, chỉ c̣n chừa lại cái lơi thành phố. Thơ xanh êm ả
pha mùi lăng mạn sướt mướt thời tiền chiến, cũng như thơ lữa
của Quang Dũng hừng hực khí thế kháng chiến chống xâm lăng…
đă trở thành quá khứ. Vẻ mệt mỏi, trăn trở, than van pha
mùi triết lư về quê hương đau khổ và thân phận làm người như
Jaspers, Sartre, Remarque, Trịnh Công Sơn, Phạm Duy… trở
thành khuynh hướng thời thượng. Bài thơ được ưa chuộng nhất
trong các tiệc rượu thời nầy là bài Hồ Trường của Nguyễn Bá
Trạc có lẽ v́ bên cạnh hơi hướm lăng tử và trăn trở, Hồ
Trường c̣n có thêm niềm bi phẫn của kẻ sĩ sinh chẳng gặp
thời.
Gă nghệ nhân được
ưa chuộng và nhớ đời trong đêm họp mặt hôm đó là Lê Văn
Thôi, người vừa diễn, vừa ngâm bài Hồ trường sống thực và
sống động đến nỗi 40 năm sau c̣n có người nhắc lại “Đêm Hồ
Trường”.
Thôi là con nhà Huế
toàn ṛn nên mới có tiếng ngâm thơ B́nh Trị Thiên mềm và ướt
v́ có tẩm sương núi, ướp gió Lào như mây trên núi Bạch Mă,
nhưng cũng buồn xé ruột như điệu ca Hời Nam Ai.
Một buổi tiệc học
tṛ mang tiếng là họp mặt nhưng thực sự là để chuẩn bị chia
tay. Mỗi cuộc chia tay trên xứ Huế thường mang một vẻ ǵ u
ẩn nao ḷng v́ tâm Huế bao la nhưng tay Huế nhỏ quá, không
đủ bao bọc cho bầy con tứ xứ trở về. Đă ra khỏi Huế th́
đừng mong ngày về mà hăy chuẩn bị tâm trạng nhớ Huế, trông
vời quê mẹ. Những người trẻ có mặt trong đêm Hồ trường bịn
rịn t́m nhau v́ cảm nhận được điều đó.
Đêm xuống đă sâu,
nhưng không ai muốn chia tay. Sợ chia tay không có ngày gặp
lại. Bởi vậy tiếng ngâm thơ của Thôi trở thành chất keo gắn
những nỗi bâng khuâng dính chùm trong cảm xúc.
Sau lời giới thiệu của Nhân,
trong sự im lặng chờ đợi, tiếng cười vỡ vụn của Thôi bỗng
vang lên. Nửa như đau xót, nửa như hào hùng trêu chọc. Con
nhà hội họa hóa trang thật tài t́nh. Khuôn mặt thư sinh của
Thôi, thêm mấy cḥm râu, điểm những nét nhăn hằn lên trên
trán, với cái khăn mỏ quạ và chiếc áo dài đen bạc màu mượn
của bác cai trường đă biến Thôi thành h́nh ảnh một kẻ sĩ
thời xa xưa sinh chẳng gặp thời. Một tay ôm bầu rượu, tay
kia đặt trên đốc kiếm. “Hồ rượu” và “bảo kiếm” đều là các
dụng cụ hóa trang vở kịch Tiếng Gọi Lam Sơn của Trần Quang
Long diễn trong trại Hè học sinh Quốc Học c̣n sót lại. Sau
tràng cười kinh động là tiếng kiếm rút ra khỏi vỏ “rít” lên
qua cửa miệng của Thôi. Đường kiếm múa lấp loáng mê cuồng
như đang nhịp theo một bản cuồng ca. Những bè bạn thân quen
không ai ngạc nhiên với đường kiếm bay bướm của Thôi v́ biết
gă là một sư huynh của phái Nga Mi Băi Dâu; nhưng đối với
khách lạ th́ căng mắt ngồi nh́n một cách khoái chí.
Bỗng tráng sĩ nhà
họ Lê im bặt, tra kiếm vào vỏ, rồi cúi gầm nh́n đăm đăm vào
hồ rượu. Tiếng ngâm như từ vực sâu cuồng nộ, khí khái cất
lên:
Trượng phu sao
không xé gan bẻ cật,
Phù cương thường hà
tất tiêu dao!
Tiếng ngâm thơ B́nh
Trị Thiên đanh như vết chém. Những âm sắc vút lên cao nhọn
hoắc, rơi dần lảo đảo với một chút ỡm ờ và giọt xuống:
Bốn bể lưu lạc tha
hương,
Trời Nam ngh́n dặm
thẳm,
Non nước một màu
sương.
Kẻ sĩ lại ngước lên
nh́n trời như đang cầu xin một ân điển, nhưng rồi hai tay
buông xuống, vuốt nhẹ mái tóc đă bạc màu. Trời th́ quá xa mà
kẻ sĩ đă về chiều nên cũng đành đành thú nhận:
Chí chưa thành,
Danh chưa đạt,
Trai trẻ bao lăm mà
đầu đă bạc,
Trăm năm thân thế
bóng tà dương!
Im lặng!... Một
thoáng yên ắng lắng sâu trong ánh đèn dầu lay lắt. Tráng sĩ
trỗi dậy, gươm tuốt trần, rượu đầy hồ, tiếng ngâm ngân lên
rộn ràng, xôn xao giữa tâm hồn băo nổi:
Vỗ gươm mà hát,
Nghiêng bầu mà hỏị
Thiên địa
man man,
Ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn
một hồ trường!
Không rơ Thôi đang
diễn tuồng hay đang ngất ngưởng trong những khoảnh khắc phù
du mượn tạm một vai tṛ để sống. Nhưng lạ lùng là đôi mắt
đam mê đầy hào khí của Thôi lấp lánh t́nh bầu bạn, chiếu
thẳng tới nhăn quan từng người có mặt. Tiếng ngâm thơ dạt
dào và hưng phấn, nhưng cũng dằng dặc nỗi buồn của kẻ đi
đường xa chưa gặp bạn đồng hành:
Hồ trường!
Hồ trường ta biết
rót về đâu?
Vẫn im lặng. Thôi
giương cao bầu rượu và nối đuôi theo tiếng ngâm thơ mời gọi:
...rót về đâu? Ta
biết rót về đâu?
Có tiếng đáp thật
bất ngờ:
- Rót về đây đi tráng sĩ ơi!
Đó là tiếng của Chiêu Hà
“Vélo Solex”, cô bé Đồng Khánh “mode” nhất ở đường Phan Bội
Châu, nổi tiếng như cồn v́ mái tóc ngắn “đờ mi gạc xông” rất
có duyên với dáng Tây Phương, học vơ Karate với giáo sư Ngô
Đồng và cỡi xe Vélo chạy phon phon trên đường phố Huế.
Mọi người quay lại vừa khi
Thôi nghiêng hồ rượu rót vào ly nước chanh đă cạn của Chiêu
Hà. Rồi Thôi nghiêng hồ rượu và khoát tay mời anh em cùng
uống. Người đẹp Đồng Khánh đă đưa ly lên môi, th́ những
người hùng Quốc Học không c̣n lư do e dè hay từ chối. Tất
cả cùng uống. Tiếng ngâm thơ lại nổi lên nửa như thách đố,
nửa như mời gọi trong nỗi trần t́nh đầy cảm khái:
Rót về Đông Phương, (ư) ?
Nước bể Đông chảy xiết sinh
cuồng lăng!
Thôi lại đưa cao hồ rượu quá
đầu, hỏi tiếp:
- Hồ trường... Hồ trường ta
biết rót về đâu… Rót về đâu?
Có nhiều tiếng đáp một lần,
cả tiếng trong veo của người đẹp đâu đó đầy phấn chấn:
- Rót về đây!
Thôi lắc đầu theo
tiếng thơ chảy xiết:
- Rót về Tây phương, (ư)?
Mưa Tây sơn từng trận chứa
chan!
Và tiếp:
-...biết rót về đâu?
Lại thêm năm ba cái ly đưa
lên. Thôi rót đầy rượu cho từng người rồi chỉ tay về Bắc:
- Rót về Bắc phương, (ư)?
Ngọn Bắc phong vi vút cát
chạy, đá giương!
Âm hưởng giọng ngâm thơ của
Thôi rung cảm tới mức mọi người đều đứng dậy, nâng ly uống
cạn trong tiếng thơ hướng về Nam:
- Rót về Nam phương, (ư)?
Trời Nam mù mịt!
Hồ rượu trong tay
Thôi lại được châm đầy và rót cạn tới bao nhiêu lần nhưng
niềm vui pha men đắng của sự sum họp tạm bợ trong cuộc chiến
vẫn tràn trề, mỗi lúc một cuồn cuộn dâng lên trong cơn mê
hồ trường. Dáng đi của tráng sĩ Thôi đă ra chiều chếch
choáng. Thôi lấy hết tuyệt kỹ đểâ ngâm tràn những giọt thơ
c̣n lại:
Có người quá chén như điên
như cuồng!
Nào ai tỉnh, nào ai say,
Chí ta ta biết, ḷng ta ta
haỵ
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thủy,
Hà tất cùng sầu đối cỏ câỵ
Tiếng ngâm thơ đă dứt một
thoáng qua rồi mà không khí vẫn lặng im ngây ngây. Không
hiểâu thơ đang say ḷng người hay người đang say men rượu
bốc thành thợ. Cho đến khi hồ rượu cạn tuột khỏi tay người
cuồng sĩ, rơi xuống vỡ tan mới chợt nghe tiếng vỗ tay kéo
dài như luyến tiếc...
Thiên địa man man, ai người
tri kỷ... nên chúng tôi không c̣n dịp gặp lại nhau ở quê nhà.
Những thằng bạn “Hồ trường” một thuở gặp nhau ở Cali. Nguyễn
Trát, Hoàng Kính, Nguyễn Lập, Phạm Tuế, những thằng bạn chân
quê của tôi qua Mỹ theo diện H.O. Tôi và Mảng Bảo Thạnh chèo
ghe đi chui qua biển. Đặng Văn Tuấn và Lê thị Hoa du lịch Mỹ
bằng máy bay. Bạn cũ gặp lại ở quê người, điểm lại những
khuôn mặt trong ngày hội ngộ Hồ Trường 40 năm trước th́ hơn
một nửa đă qua đời v́ tử trận, chiến tranh, mất tích, bệnh
tật, tai nạn bất ngờ…
Rót về đâu? Sự bâng quơ lạc
lối một thời vẫn c̣n đó như một vấn nạn chung thân của kiếp
người. Hơn một nửa bạn bè đă về đất, nhưng có mấy người
biết “rót về đâu” để hồ rượu đời khỏi tràn be giọt xuống
sông Hương, chảy về Nam Hải. H́nh như vẫn c̣n một nơi an
toàn nhất để rót cho đầy, uống cho cạn hết Hồ trường mà vẫn
không say; hay say mà không cần uống: Đó chính là ḷng
ḿnh. Có ai đă bưng hồ rượu để rót về lại ḷng ḿnh để t́m
lại chính ḿnh và kết ḿnh làm tri kỷ. Con rồng, con phụng
cao sang tận đỉnh trời, nhưng phải triều nguyệt hay tranh
châu để mượn ánh sáng mặt trời, mặt trăng soi rọi cho ḿnh.
Đời sống Việt Nam chỉ có một con chịu đốt chính ḿnh để làm
ra ánh sáng. Đó là con cúi bằng rơm với thân tâm nhẹ nhàng,
rỗng lặng và vô ngă.
Ngày Về...
Đồng Khánh là ngôi trường
định mệnh của tôi về cả nghề lẫn “nghiệp” dạy học v́ đây là
nơi đầu tiên tôi bước chân vào và cũng là nơi cuối cùng tôi
bước chân ra khỏi nghề dạy học trên quê hương Việt Nam.
Nơi đầu tiên tôi bước lên bục
giảng là lớp Đệ nhị C của cô Thanh Tâm với tư thế là một
giáo sinh thực tập.
Để cho “ăn khách”, tôi cũng
đă cẩn trọng ăn mặc theo lời khuyên của quân sư tiểu muội
Đông Hải với áo sơ mi trắng, cà vạt tím Huế điểm hoa ch́m,
quần tây màu sậm, gót giày kê lên một chút cho có vẻ cao...
thượng!
Nghe đâu học tṛ ban văn
chương (ban C) Đồng Khánh đều là những “con yêu bánh nậm” có
nội công thâm hậu và miệng không cần bôi mỡ mà ăn nói vẫn
cực kỳ lưu loát trơn tru.
Buổi sáng vừa bước chân vào
lớp, phái học tṛ đă x́ xào xuất chiêu trước không cần tốn
th́ giờ để phân ngôi chủ khách ǵ cả:
- Chà, thầy ni có cặp mắt đẹp
ác liệt tụi bây ơi!
Một giọng khác từ phía “hậu
trường” lắc xắc phóng lên:
- Hi, hi! Cà-la-hoách tím cả
chiều hoang biền biệt. Úi chao ơi! Ngoài hai mươi tuổi yêu
mười bảy. Tim tím ban chiều tim tím mai! Tim tím sim rừng
tim tím núi. Đời răng nhiều tím rứa anh ơi!
Tôi phải lạnh lùng làm chủ
t́nh thế. Mặc cho yêu quái lộng hành, ḿnh cứ mủ ni che
tai. Nhắc cái thiết bảng Tôn Ngộ Không lên tai giả điếc vân
du vào động yêu là chắc ăn. Đến lượt tôi “ra chiêu” gọi đám
tiểu nữ bằng “các em”, xưng “tôi” th́ phản ứng x́ xào nghe
càng dễ bị nao núng tinh thần hơn. Từ bàn thứ hai, có tiếng
vọng nhỏ như tiếng th́ thào:
- Em ơi nếu mộng không thành
th́ sao… Em, em… ôi, thiệt xưng hô chi mà nghe ngọt xớt,
muốn rớt nửa trái tim luôn!
Học tṛ nghịch tới cỡ nào đi
nữa th́ vùng bảng đen và bục giảng vẫn là giang sơn bất khả
xâm phạm của ông thầy. Tôi phải mở đợt phản công từ chiến
tuyến của ḿnh bằng cách dơng dạc điểm danh và kêu học tṛ
trả bài cũ. Tôi nhắm ngay mấy tiểu nữ có tên gọi rất yêu
kiều nhưng mang cột điểm toàn “bị gậy” (zero và một) lên
trước để trấn áp đối phương và văn hồi an ninh trật tự.
Nữ sĩ đầu tiên lên trả bài,
có tên gọi đẹp như gịng sông, không thuộc bài. Cô bé lúng
túng đứng sát góc bàn thầy giáo, mắt chớp chớp nh́n lên như
muốn kéo cái trần nhà xuống che mặt, rồi nh́n xuống, trán
lấm tấm mồ hôi làm cho những sợi tóc mai dán lên má hồng
chín ửng, tay vân vê chéo áo dài trắng thêu hoa tím. Cô bé
nh́n quanh vối đôi mắt mọng nước như sắp khóc. Th́ ra nội
lực của các cô nương Đồng Khánh có tiếng mà không có miếng.
Yêu Bánh Nậm khi lâm trận cũng mềm nhũn như cuốn bánh ướt
mà thôi. Nghĩa là các nàng chỉ dám phục kích núp sau bàn
chọc thầy, chứ bị kêu lên vùng giang sơn lănh địa của thầy
cô cũng bối rối và có khi “run như run thần tử thấy long
nhan” nếu học bài chưa chín.
Đến phần giảng văn, tôi dạy
bài Tống Biệt của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Tôi cố chứng
minh thủ pháp dụng h́nh đầy biểu tượng trong thơ Tản Đà đă
làm nổi bật tính chất huyền ảo, vĩnh hằng, an lạc của chốn
Thiên Thai. Nhưng bài b́nh giảng tung ra chưa hết sách vở
th́ đă có vài ba cánh tay giơ lên nêu thắc mắc. Tôi chỉ một
học sinh có dáng thiệt thà nhất. Nữ hảo thủ nầy có giọng
nói uyển chuyển, nhưng đầy tự tin và quyết đoán. Cô ta phản
bác lại ư kiến của tôi khi cho rằng, thủ pháp thi ca của Tản
đà trong bài Tống Biệt là quá câu nệ về từ ngữ và h́nh thức
trau chuốt nên chưa đạt. Cô bé lư luận là tại sao tả cảnh
Đào Nguyên mà vắng bóng những nàng tiên xinh như mộng, vắng
điệu múa nghê thường. Từ đầu chí cuối chỉ có thấy đá ṃn,
rêu nhạt, nước chảy hoa trôi giống như... mùa mưa trong sở
thú Sài G̣n.
Tôi đă soạn bài dạy kỹ lưỡng
trong mấy tuần qua và dợt đi dợt lại nhiều lần nên thoát
hiểm không mấy khó khăn trước sóng gió vơ lâm giữa rừng con
yêu bánh nậm Đồng Khánh.
Hết giờ, chàng giáo sinh trẻ
tuổi trong tôi nghe vui vui qua lời nhắn với: “Thầy giảng
nghe ‘điệu’ quá. Mai mốt trở lui dạy lớp tụi em nữa thầy hỉ?”
“Mai mốt” đó là gần mười năm
sau. Tôi trở lại Đồng Khánh. Bục giảng một thời c̣n đó ,
nhưng những người “muôn năm cũ” đă biền biệt nơi mô? Đồng
Khánh ngày tôi về không c̣n “lá đào rơi rắc chốn Thiên Thai”
như thuở tôi say sưa giảng bài Tống Biệt. Cà vạt tím Huế
ngày xưa chỉ c̣n là dư ảnh của một chặng đời quá khứ.
và Giă Từ Đồng Khánh
“ Gió sông Hồng gọi nắng
sông Hương; như người thương nhắn gởi người thương... !”.
Tiếng hát của Diệu Hoàng,
một nữ sinh lớp 12, vang vang và lưu lại trên từng lớp vôi
hồng trường Đồng Khánh vào những ngày c̣n ngỡ ngàng, nhưng
đằm thắm của cái “thuở ban đầu” anh em Bắc Nam mới sum họp.
Ngày đó, tôi là một
thầy giáo dạy Văn c̣n trẻ. Lư tưởng làm đẹp cho tuổi trẻ và
quê hương từng ấp ủ thoáng một chút ǵ hơi chao động và xôn
xao khi tiếp xúc với những đồng nghiệp từ Quảng B́nh, Thanh
Hóa, Nghệ An, Hà Nội... vào Nam làm công tác giáo dục. Cái
khác giữa tôi và họ không phải là chiếc xe Honda hay chiếc
xe đạp phượng hoàng Trung Quốc; cũng chẳng phải là bộ áo
quần may đúng thời trang hay quần áo quốc doanh. Cái khác
đầu tiên là nề nếp suy tư đă h́nh thành và tôi luyện trong
hoàn cảnh xă hội khác nhau giữa hai miền Nam Bắc.
Sân trường Đồng
Khánh những buổi sáng mùa Xuân sau 1975 vẫn có sương mù và
nắng lụa êm như nhung, nhưng những chao đảo câm nín của ḷng
người làm tôi bao lần có cảm giác như sách vở học tṛ cũng
vương mang một men sống lạ. Chữ nghĩa không c̣n nằm im ĺm
ép ḿnh trong trang sách nữa mà nhảy múa như theo một nhịp
sống mới. Có lẽ trong cuộc đổi đời nầy, tôi không có duyên
nợ với thơ văn nên được làm trưởng ban lao động sản xuất của
trường Đồng Khánh, cùng với Hồ Hữu Hạnh, giáo sư Anh Văn và
Vĩnh Ba, giáo sư Toán làm phó ban. Lâu lâu có “Mệ Quế” tức
là Vĩnh Quế, giáo sư Lư Hóa, tăng cường cho đủ “tứ nhân
bang”.
Lao động sản xuất
là một môn học mới. Một môn học mới trong một hoàn cảnh
mới, lại phụ trách bởi những giáo sư mới chưa có một chút
kinh nghiệm thực tế lao động là một hiện tượng hơi lạ. T́m
đủ việc hàng tuần cho mấy ngh́n học sinh các lớp đâu có dễ
ǵ hơn bàn kế hoạch vượt vượt biển Đông bằng bè chuối.
Tôi cứ theo quan
niệm cổ xưa và đơn giản nhất là có cá th́ có nuớc, có đất
th́ có cây.
Mấy tháng đầu, Đồng Khánh
cũng thi đua với các trường Quốc Học, Nguyễn Huệ, Gia Hội…
vác cuốc ra sân lao động sản xuất, sân trường đă trở thành
thực tế chiến trường cho cả thầy tṛ làm lao động. Nhưng
đến khi cống rănh thoát nước cũng đă có khoai sắn mọc lên la
liệt th́ phải rủ nhau lên núi, xuống ngàn mà lao động. Làm
sao tôi quên được cây lệ liễu trước bồn hoa văn pḥng hiệu
trưởng và những cây phượng vỹ ở sân trường đă mọc lên ở đó,
đă chứng kiến những thế hệ học tṛ tiếp nối ra đi. Giữa
rừng dao rựa và cuốc xẻng trùng trùng của các em học sinh
giỏi môn học lao động tới mức “thà cuốc lầm hơn bỏ sót”, ban
lao động chúng tôi phải bảo vệ từng gốc cây phượng vỹ như
bảo vệ nét chân tâm của những tấm ḷng trong sáng giữa buổi
giao thời.
Cho đến khi kư hợp
đồng với Lâm Trường Tiền Phong để trồng mấy chục vạn cây
thông và bạch đàn trên núi Ngự B́nh, tôi vẫn không hiểu v́
sao bao năm qua những ngọn núi b́nh phong của Huế vẫn chịu
cảnh “Núi Ngự không cây chim đậu đất...”. Rồi đến những ngày
dài thầy tṛ Đồng Khánh trồng cây trên núi Ngự B́nh mà dù ai
có vụng nhất cũng trồng được năm mười cây trên những triền
núi thấp. Núi th́ xa mà gió rừng th́ mạnh, tôi chỉ sợ học
sinh ḿnh bị lạc. Thầy cô chủ nhiệm dắt một lớp đi đă khó,
huống chi đem cả ngh́n học sinh đi lao động.
Mấy ngh́n học sinh
Đồng Khánh lao động trên núi Ngự B́nh chưa có em nào bị lạc,
nhưng toàn ban lao động Đồng Khánh một thời đă “lạc” xa mù
tận bên kia trời Tây: Tôi lạc qua Cali, Hồ Hữu Hạnh lạc về
Texas, Vĩnh Ba lạc tới Colorado. Trong tứ nhân bang khoai
sắn một thời, chỉ có Vĩnh Quế c̣n ở lại, nhưng biết đâu
chàng ta cũng bị lạc trong hồn Phượng Vỹ!
Xong lên núi, ban lao động
lại phải xuống ngàn. Học tṛ Đồng Khánh, thế hệ bắc cầu của
ba năm cuối trung học 1974-1977, chắc chưa ai quên chiến
dịch Lao Động Phong Sơn.
Phong Sơn là vùng đất hoang
tràm chổi phía Trường Sơn gần Cổâ Bi, Hiền Sĩ cách Huế
khoảng 35 cây số. Nhà trường xin được chừng hai mươi mẫu để
trồng sắn. Thầy tṛ đi lao động phải khăn gói dựng lều ở lại
qua đêm. Ngày tiến công xuất phát, khí thế như xuất quân.
Mấy cô học tṛ Đồng Khánh đi lao động trồng sắn mà giống như
đi cắm trại ngoài trời. Cũng quần chẽn, áo thun, mũ lát hoa;
cũng bới theo trái cốc, ô mai... thay v́ cơm mo cau, gạo
ruột tượng, nước chè gừng. Đến hiện trường, các cô bao khăn
trên cán cuốc v́ sợ ḷng bong tay. Đến khi lên vồng trồng
sắn, thân cây sắn giống cắt ngắn, không phân biệt nổi đầu
đuôi nên gần một phần ba học sinh trồng sắn cắm ngọn xuống
đất chổng gốc lên trời. Thế mà tội nghiệp, v́ thương Đồng
Khánh nên sắn vẫn mọc, nhưng củ lại đắng và ăn và sẽ bị say
nghiêng ngửa. H́nh ảnh Đồng Khánh lao động sản xuất đă được
thầy Củng dạy toán, từ Hà Nội vào, nhận xét: “Trông giống
như văn công ngoài biểu diễn vũ khúc ngoài trời!”
Sau ba bốn tháng
“với sức người sỏi đá cũng thành cơm”, thầy tṛ Đồng Khánh
đă thu hoạch được gần mười tấn sắn. Thành tích lao động của
trường Đồng Khánh được ty Giáo dục khen ngợi nhiệt thành.
Nhưng chỉ có một “sự thật phũ phàng” mà mọi người không để ư
tới là giá thành sản phẩm. Mỗi cân sắn bán ra cho cán bộ
công nhân viên nhà nước là 3 hào rưỡi mà phí tổn sản xuất
mỗi cân do ban lao động chúng tôi tổng kết lại là khoảng 5
đồng. Cũng suưt soát hơn hai chục lần lỗ vốn. Bởi vậy, một
số học tṛ biết chuyện thường cười khúc khích gọi đùa sắn
Đồng Khánh sản xuất là “sắn sâm Cao Ly”.
Mười năm sau tôi về lại lên
núi Ngự B́nh. Những cây thông nhỏ như chân chim sơn ca thuở
nào bây giờ đă lớn. Tàng cây xanh như mái tóc thề che phủ cả
phong sương. Tôi lặng lẽ ngồi dựa dưới bóng thông chiều.
Mười năm trước gió núi xao xác về thổi bay tóc mây của học
tṛ, bây giờ đă có những lá thông thay tóc mây ŕ rào với
gió. Mười năm đếm được trên những nhánh thông, nhưng bóng
dáng cũ th́ vẫn c̣n mường tượng trước mắt. Dáng xuôi ngược
của anh Châu Trọng Ngô, tiếng dậy rừng của Nguyễn Hữu Châu
Phan, khuôn mặt nhễ nhại mồ hôi của chị Lưu Ty, bàn tay
trồng cây mà vẫn nhẹ nhàng quư phái như chơi đàn nguyệt của
chị Bích Đào...
Chiều nay, có tiếng cười nói
vang vang trẻ thơ vang vọng dưới chân đồi. Các em có thể về
đây cắm trại, du ngọan hay cào lá khô về nhóm lửa. “Núi Ngự
không cây chim đậu đất!” một thời nay đă thành đồi thông
xanh mướt. Tôi ngây ngất giữa tiếng đồi vọng của gió, của
núi, của thung lũng, của ai đó ở lưng chừng đồi. Vẫn c̣n
nghe đâu đây tiếng đọc thơ nhè nhẹ của thầy Nguyễn Đ́nh Niên
– thi sĩ Tường Phong của trường Đồng Khánh; tiếng c̣i thầy
gọi tṛ cho khỏi bị lạc...
Mười năm trôi qua nhanh như
mới buổi chiều hôm trước. Thế hệ đàn em của tôi có ai c̣n
nhớ những giờ lao động thời đó khi ngồi dưới rừng thông xanh
hôm nay.
Tôi vẫn nhớ “sắn sâm” Đồng
Khánh như một ư niệm ngồ ngộ về Phượng và Sắn giữa sân
trường nhưng chưa bao giờ được ăn thử. Ngày trước khi mới
bới sắn về th́ thầy tṛ chỉ mong có chén cơm trắng không độn
khoai sắn nên chưa ăn, mà măi khi đến xứ người th́ chỉ có
sắn Tàu hay sắn Thái. “Sắn sâm” ngỡ như đă trở thành huyền
thoại giống chuyện củ sâm ngh́n năm để luyện thuốc truờng
sinh trong chuyện kiếm hiệp Tàu, ai ngờ cũng có một ngày đẹp
trời “sắn sâm” trở lại với tôi trên đất Mỹ làm khuấy động
mặt hồ kư ức tưởng như không c̣n vướng vất chuyện ngày qua.
Một người học tṛ Đồng Khánh
cũ qua Mỹ với chồng theo diện H.O và t́nh cờ ghi danh vào học
lớp ngôn ngữ do tôi phụ trách. Ngày mồng một Tết con cọp năm
nay nhằm ngày thứ Tư, nên tôi vẫn lên lớp như thường lệ. Vài
sinh viên Việt Nam vắng mặt đón Xuân. Những sinh viên Mỹ
cũng chỉ biết ngày thứ Tư là ngày có lớp như mọi thứ Tư khác
trong tuần. Thế thôi. Cuối giờ, cô sinh viên cựu học sinh Đồng
Khánh tặng cho tôi một món quà Tết nho nhỏ với lời chúc “vạn
sự như ư”. Lên xe, mở quà ra tôi bỗng cảm thấy vui như mùa
Xuân khi đọc mảnh giấy nhỏ kèm với hai củ sắn, bở trắng, phảng
phất mùi lá dứa và hương cau. Miếng giấy ghi: “Kính tặng thầy
‘sắn sâm Đồng Khánh,’ do ông xă em trồng trong chậu kiểng đó
thầy”. Tôi ăn củ sắn. Tôi không c̣n nhớ hương vị sắn Đồng
Khánh ngày đó có ngon như thế hay không. Nhưng dù ngon hay
dở mà củ sắn do chính những bàn tay bút nghiên của học tṛ
ḿnh làm ra th́ đối với thầy, dù buôn một, lỗ ba mươi cũng
thật đáng đồng tiền bát gạo.
Tay cầm miếng sắn, tay cầm vô
lăng, tôi lái đi trong gịng xe như gịng đời lao nhanh vun
vút trên xa lộ vô t́nh vào ngày Tết thiêng liêng. Sự dửng
dưng của phố xá quê người làm tôi thấy xót xa và nhớ quê nhà,
nhớ những kỷ niệm đă thành chuyện kể. Giờ đây, những củ sắn
thôi mọc chung giữa sân trường phượng đỏ và ước chi những củ
sắn mọc lên tự tiềm thức cũng không c̣n. Tà áo trắng đă trở
lại trường Đồng Khánh: “Một thời để yêu” đă thắng “một thời
để chết”. Quốc Học – Đồng Khánh, hai ngôi trường cặp đôi đó
vẫn tiếp tục vẽ thêm cho Huế những nét đẹp không tàn phai.
Chút tâm sự cá hồi
Nghĩ đến tuổi trăm năm Quốc Học
Đồng Khánh, nh́n những mái tóc bạc và dáng vẻ chiều hôm của
quưù Thầy, Cô cùng những mái tóc muối tiêu và dấu vết quá nửa
đời của bạn cũ trong những dịp họp mặt thân hữu Quốc Học Đồng
Khánh, tôi lại nhớ mấy câu thơ trong một bài nào đó của Lưu
Trần Nguyễn, tác giả bài “Đồng Khánh Năm Xưa”:
Rồi mai tê tuổi già bóng xế
Đem ngh́n trùng về giữa hư
không.
Tuổi già bóng xế là con đường
trăm sông về một cơi không ai tránh được. Nhưng có chăng một
giao điểm giữa ngh́n trùng và hư không để hai đối cực nầy về
lại với nhau. Cho đến những năm đầu tiên định cư trên đất Mỹ,
tôi thường nghĩ về Huế như một “Lầu Hoàng Hạc” trong thơ
thôi Hiệu ngày xưa mà ở đó, những đứa con của Huế ra đi là
những con hạc vàng một đi không trở lại (hoàng hạc nhất khứ
bất phục phản). Ít nhất cũng là không trở lại được tổ ấm cũ
chẳng c̣n hiện hữu của ḿnh.
Với cuộc sống mới, tôi đi t́m
một tổ ấm khác và ngỡ như dễ dàng quên đi cái tổ cũ quá đơn
sơ kết bằng cọng rơm và tranh tre, lau lách. H́nh như thực
tế xuôi ḍng theo thời gian đă dẫn tôi về một hướng ngược
lại. Càng ngày, sự hội nhập của tôi vào xă hội mới càng
chững lại. Khác với lư thuyết “Bốn biển một nhà” (Melting
Pot) mà những người Mỹ tiền phong ước đoán rằng, tất cả các
dân tộc hợp chủng di cư vào đất Mỹ sẽ hoà hợp, trộn lẫn với
nhau trong cái “Nồi Xúp Nóng Chảy” Hoa Kỳ thành một hợp thể
thống nhất, thực tế không đồng t́nh với sự ước đoán. Thực
tế, xăơ hội Hoa Kỳ là một “tô rau tập tàng” (Salad Bowl) mà
trong đó mỗi dân tộc và mỗi nhóm người vẫn giữ riêng bản sắc
của ḿnh. Tất cả đều mang “tinh thần quân tử” của Khổng Tử
“hoà nhi bất đồng”. Và dĩ nhiên người Việt, dù có tha thiết
và nóng ḷng muốn Mỹ hóa đến mức nào đi nữa th́ cũng đành
phải “em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé!” Nghĩa là biết bao
giờ mới đổi được vóc dáng Việt Nam thành “người em mắt nâu,
tóc vàng sợi nhỏ” như người đẹp Paris của Cung Trầm Tưởng.
Sau hơn 20 năm “nội chiến
từng giờ” với chính ḿnh trên đất Mỹ để sống c̣n và vươn
lên, ngoảnh mặt lại tôi ngỡ ngàng tự hỏi: “Tôi là ai?” Thời
gian đủ dài để biến một đứa bé sơ sinh thành một người
trưởng thành trẻ tuổi. Hoàn cảnh đủ mạnh và chín mùi để sản
xuất một mẫu thanh niên Mỹ từ ngôn ngữ đến tư tưởng, từ cách
sống đến cách nh́n. Riêng ḿnh, cũng giống như những người
Việt cùng thời và cùng trang lứa, tôi xông xáo cố hội nhập
vào đời sống Mỹ càng nhanh càng dễ sống. Tôi cố luyện giọng
nói tiếng Ăng Lê âm mũi cho dẽo, xông xáo vào xă hội Mỹ cho
sâu, làm quen với mùi chiên (fried), mùi hun khói (smoked),
mùi xốt cà chua (catchup)… càng ít bị dị ứng càng tốt.
Năm bảy năm đầu tiên, đă có
lúc tôi bùi ngùi khi tự thấy rằng, ḿnh thật sự đă xa Việt
Nam hàng vạn dặm về cả địa lư, tâm lư và tri lư. Tôi hân
hoan đi vào xă hội Mỹ không c̣n những bước chân khập
khiểng. Tôi bằng ḷng với chính bản thân ḿnh, gia đ́nh
ḿnh và xă hội xung quanh. Tôi có những ǵ thuộc về đời
sống tinh thần, vật chất và tri thức mà một người Mỹ trung
b́nh muốn có. Nhưng sau những tháng ngày dài phấn đấu không
mơi mệt ở quê người, từng sợi tóc đổi ra mầu bạc và những
phù hoa bám bụi trong tôi cũng dần dà rơi xuống và mất dấu
để cái lơi của ḿnh lù lù hiện ra như một sự thách đố khi
nhẹ nhàng, khi ray rứt, khi băo liệt… mỗi ngày một đậm nét.
Hơn mười năm sau, càng ngày
tôi càng khám phá ra rằng, bản thân ḿnh là một thứ gà cồ ăn
quẩn cối xay, một sản phẩm bằng da đă thuộc, một gă Xă Xệ
ngồi bên bờ biển xanh Miami, Monterey với Tây Đầm mà cứ mặc
áo dài, chống dù đ̣i “ta về ta tắm ao ta!” Nói một cách
thật thà th́ dẫu sao tôi cũng là người tiến bộ trong đám
chậm tiến v́ tôi biết tỏng là ḿnh chậm tiến. Nhưng cũng có
người nằm ngủ khoèo trong ḷng máy bay mà cứ ngỡ ḿnh đang
bay thiệt như có cánh thiên thần, ngồi trên lưng ngựa mà cứ
tưởng ḿnh tung vó. Nói rằng họ đứng một chỗ cũng không
đúng, mà nói họ đang bay cũng không ổn. Đứng một chỗ sao
lại từ Mỹ về Việt Nam được; mà đang bay th́ tại sao vẫn nhắm
mắt nằm nguyên một nơi trên ghế nệm. Hai đối cực ngh́n
trùng và hư không đang gặp nhau ở điểm nầy chăng? Ḍng sống
như chiếc máy bay đang lao nhanh vun vút về phía trước mà
tôi vẫn dừng lại giữa ḷng cuộc đời. Tôi bay v́ quả địa cầu
đang quay vun vút và cánh máy bay chẻ mây vượt gió trôi đi.
Nhưng đứng lại v́ nh́n bóng ḿnh cũng chỉ là bóng đổ tường
xiêu trên vách đời đă cũ.
Hai
thập niên qua rồi mà mỗi chiều thứ sáu, tôi vẫn lao đao giă
từ thế giới Mỹ, bương bả đi t́m bạn ta. “Bạn ta” trong khái
niệm của riêng tôi không nhiêu khê như khái niệm “quân tử
chi giao” của truyền thống Á Đông. Tôi chỉ cần được ngồi với
những người anh em nói chung một ngôn ngữ; chung một bối cảnh
văn hóa và xă hội của đất nước mà ḿnh lớn lên; chung một
khái niệm vui buồn để cùng chia sẻ. Nếu có khen nhau th́ sự
cảm động cũng sâu hơn, căi nhau cũng ít hiểu lầm ư nhau hơn
và lỡ có nói “kháy” nhau th́ cũng thấm thía hơn. Cái “hơn”
với bạn ta là cái “thua” với bạn Mỹ. Đă nhiều lần ngồi
trong những bữa tiệc họp mặt của người Mỹ toàn ṛn, tôi cảm
thấy cô đơn và lạc lơng v́ bản chất thực tế của người Mỹ, họ
muốn nói đến những điều thiết thân xảy ra cận kề với cuộc sống
hàng ngày như thể thao, báo chí, phim ảnh, kỹ thuật; trong
khi tôi mang bản chất mơ mộng của dân ta, thích nói chuyện
thời sự quốc tế, văn chương, triết học, nghệ thuật. Có một
lần tôi mang chuyện Kiều ra khoe. Khi nói đến tài mệnh
tương đố “chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” th́ một người
bạn Mỹ không hiểu tại sao chuyện đời lại có sự kỳ quặc đến
thế. Bằng tinh thần lư tính phương Tây, anh bạn Mỹ nói rằng,
tài và mệnh “thương nhau” hỗ trợ cho nhau chứ làm sao lại
ghét nhau được. Như Bill Gate có tài nên cái “mệnh” của anh
ta là đại tỷ phú đó mà...!
Thế hệ thứ nhất của chúng tôi
nơi quê người có vẻ rất giống những chiếc lá vàng, càng già
càng rủ xuống gần cành và rụng dần về cội, càng ngày càng muốn
rủ bỏ cái thế giới ngh́n trùng xa cách “vĩnh vi lăng đăng
phong trần khách” để t́m lại chính ḿnh. Có một thế giới
như vùng đất hứa chẳng phải bên nầy hay bên kia mà cũng chẳng
phải nơi nào trên trái đất. Đó là thế giới nguồn cội, thế giới
xao xuyến của loại cá Hồi (Salmon), năm năm lũ lượt kéo về
nguồn như một sự thôi thúc vô h́nh, thiêng liêng mà không một
trở lực nào ngăn cản nổi.
Cứ tưởng ḿnh lẩn thẩn v́
tinh thần “về nguồn” thường xuyên nằm sâu trong cảm xúc.
Nhưng khi cùng sinh hoạt và chia sẻ tâm t́nh với Thầy, Cô và
đồng nghiệp Quốc Học, Đồng Khánh của tôi một thời ở Huế, tôi
mới nhận ra Thầy, Cô và bạn bè của tôi vẫn c̣n là bậc thầy,
là bạn đồng hành, đồng điệu trong cảm xúc về nguồn đó.
Nguồn trăm năm c̣n đọng lại nụ cười. Ở phía bên nầy, có người
vẫn đang t́m về một thời Quốc Học-Đồng Khánh từ ngơ Huế xưa.
Một thời mà măi măi.
trở về
CON YÊU BÁNH NẬM
trở về tập
truyện
|