NHẠC VŨ TRONG HÁT BỘI BÌNH ĐỊNH

Không khí ca xướng rộn ràng. Ca hò, hát dạo,
tuồng cổ hồi sinh và phát triển như những
cơn nắng mới reo ca sau mùa mưa âm u. Thể
lọai sân khấu trình diễn phổ biến và được ưa
chuộng nhất là hát bội. Sự lôi cuốn và hấp
dẫn của hát bội mạnh đến độ làm cho người ta
lo sợ:
Trồng trầu trồng lộn dây tiêu,
Con theo hát bội mẹ liều con hư!
Quanh mỗi gánh hát trình diễn thường mọc
thêm phiên chợ đêm. Các gánh hàng quà vặt
như bún, cháo, chè, bánh trái... tranh nhau
mua bán bên ngoài trong khi đoàn hát chuẩn
bị và trình diễn bên trong. Tiếng trống dạo,
trống chầu giục giã đánh thức nếp sống trầm
lặng thường ngày. Mùi nem nướng, thức ăn bốc
lên mời gọi. Già trẻ, lớn bé mê hát quên ăn,
quên ngủ.
Những gánh hát bội đến từ nhiều miền khác
nhau. Nhưng nổi bật nhất vẫn là các đoàn hát
bội Bình Định và hát bội Huế. Các gánh hát
bội Bình Định thường rất xuất sắc trong
những tuồng cổ như Tam Quốc Chí, Hán Sở
Tranh Hùng, Đông Châu Liệt Quốc. Các gánh
hát Huế lại nổi tiếng với những tuồng xưa
được các ông hoàng bà chúa sọan lại một cách
ướt át và hợp thời hợp cảnh hơn như Tuyết
Hồng Lệ Sử, Kim Bình Mai, Lầu Trai Hương
Phấn...
Khán giả thuộc tuồng không thua gì nghệ sĩ.
Họ nhớ nằm lòng từng câu nói, từng cử chỉ,
từng sự cố trong cuộc đời của Tiết Đinh San,
Hoàng Phủ Thiếu Hoa, Tạ Ôn Đình, Thoại Ba
Công Chúa...
Đặc biệt là những màn phụ diễn nhạc võ Tây
Sơn của các đoàn hát Bình Định với những dàn
trống mang tên 12 con giáp. Những nghệ sĩ
nhạc võ Tây Sơn không bao giờ dám động đến
hai tiếng "Tây Sơn" trong kinh đô nhà Nguyễn
mà gọi là "Nhạc Võ Hùng Vương". Những diễn
viên đạt đến bậc thượng thặng, siêu thặng
thì khi biểu diễn đếùn độ xuất thần, đánh
trống không cần roi trống mà chỉ dùng hai
tay. Với ngón tay, bàn tay, nắm tay, cùi chỏ...
khi lướt, khi phi, nhảy múa trên 12 cái
trống, nghệ sĩ có thể diễn đạt nỗi lòng và
tình huống qua âm vang của tiếng trống. Đôi
tay tài nghệ của diễn viên khi yêu kiều lã
lướt nhẹ nhàng, khi dồn dập gấp rút, khi
hùng tráng đĩnh đạc... có thể "nói" lên được
dòng đời qua tiếng trống. Những nghệ sĩ
thượng thừa Bình Định đã tạo ra một loại
nhạc pháp "Cổ bề thanh động Tràng Thành
nguyệt" -- Trống Tràng Thành lung lay bóng
nguyệt -- vượt khỏi tầm kinh điển gọi là
"Song Thủ Đả Thập Nhị Cổ" (hai tay đánh mười
hai cái trống). Có những nghệ sĩ thượng thừa
còn đặt thêm 5 cái trống khác ở phía sau:
Một cái ngang đầu để ngả ngữa húc vào; hai
cái bên hông để thúc cùi chỏ vào và hai cái
đặt vừa tầm gót chân để đá hậu vào. Với dàn
"nhạc cổ" (mà cũng là cổ nhạc) 17 cái trống
này, những màn nhạc võ Tây Sơn kết hợp với
các màn trình diễn tuồng tích hát bội đã đưa
hát bội Bình Định lên đỉnh cao nghệ thuật
trình diễn sân khấu đương thời tại kinh đô.
Các vùng thôn ấp xa kinh đô cũng thi nhau
rước những đoàn hát dạo về trình diễn. Rộn
ràng nhất là thời điểm lễ hội đầu năm và sau
vụ gặt Đông Xuân.
Chiều
chiều, từ trên đỉnh đồi khuôn viên dinh ông
Hoàng, Trí Hải có thể nghe tiếng trống dạo
dập dồn của các gánh hát theo gió Nồm bay
đến. Một quá khứ ngỡ như đã khép lại hiện về.
Một thời, Trí Hải và Ấm Thuyên cùng các
vương tôn công tử của kinh thành đã từng
rước các bầu gánh hát chân truyền về tập
luyện nhạc võ Tây Sơn. Vốn là một tâm hồn
tài tử nhạy cảm và đam mê nghệ thuật, Trí
Hải đến với hát bội Bình Định vừa như là một
nhà soạn tuồng tài hoa nức tiếng, vừa là một
vị Mạnh Thường Quân hào phóng không ai bì
kịp. Với kiến thức uyên bác về tuồng tích và
tài đánh trống uốn lượn như múa kiếm của
phái nhạc võ Tây Sơn, Trí Hải được diễn viên
cũng như khán giả ca ngợi, ngưỡng mộ phong
là Ông Hoàng Cầm Chầu Hát Bội. Tiếng trống
chầu của Trí Hải không chỉ đơn giản là hiệu
lịnh âm thanh thưởng phạt mà còn là phương
tiện diễn đạt.
Nghệ thuật dân gian Việt Nam đặt nặng cái
trí và cái cảm ngang nhau. Khán giả thưởng
thức nghệ thuật có phong cách để khen chê
không phải là khối quần chúng đến xem mà
phải là người vừa có tâm hồn nhạy cảm với
nghệ thuật. Đấy là người cầm chầu, một nhân
vật vừa có tri thức hiểu rõ nghệ thuật và
vừa có vị thế xứng đáng để tỏ lời khen chê
đúng mức công minh và đúng điệu nghệ thuật.
Người cầm chầu hát bội là kẻ đại diện cho
khán giả để nói lên sự thưởng phạt các diễn
viên trên sân khấu qua tiếng trống chầu.
Trống chầu là một thứ trống lớn được đặt
trên giá ba chân. Đối với những gánh hát nhỏ,
diễn viên đơn sơ, trình diễn nơi những vùng
quê xa xôi thì thường chỉ có một trống chầu
và một người cầm chầu. Gánh hát qui mô hơn
và diễn những tuồng lớn tại các tụ điểm quan
trọng thì có hai trống chầu đặt phía trước,
hai bên tả hữu sân khấu và có hai vị cầm
chầu. Gặp những màn trình diễn đại sân khấu
trong một khung cảnh hoành tráng với sự tham
dự của các nhân vật quan trọng thì có thêm
một trống chầu đặt ở giữa, ngay trước sân
khấu gọi là "chầu bổ". Chầu bổ thường chỉ
dành cho các vị có chức phận danh tiếng.
Nhân vật cầm chầu bổ không điểm trống sôi
nổi và dồn dập như như hai trống chầu tả hữu
mà chỉ vung tay điểm trống khi thấy cần phải
nhấn mạnh những điểm nổi bật trong một câu
hát tuyệt hay, một sự diễn đạt tài tình,
điệu nghệ của diễn viên. Hoặc là điểm trống
để bổ khuyết cho hai trống chầu tả hữu chưa
thưởng phạt đúng mức.
Tiếng trống chầu của Trí Hải nức tiếng kinh
thành với ngón chầu điểm xuyết thích đáng,
tài hoa, bay bướm và phảng phất nét phóng
khoáng, lãng tử.
Trí Hải điểm chầu theo quy cách thông thường
là nếu sau một hơi hát hay thì được thưởng
một tiếng "thùng", đánh ngay giữa vòng trăng
tròn của mặt trống. Nếu hay hơn nữa thì được
thưởng hai tiếng gọi là "chầu đôi", nếu
tuyệt vời xuất sắc thì được thưởng ba tiếng
trống gọi là "chầu ba". Nếu gặp khúc hát hay
tuyệt luân trong không khí tưng bừng và hào
hứng thì điểm nhiều tiếng liền tay. Cũng là
chầu một, chầu đôi, chầu ba, chầu liên,
nhưng tiếng trống điểm của Trí Hải nặng nhẹ
gần như hòa điệu với hơi thở của diễn viên
và vực sân khấu dậy bằng muôn trùng cảm xúc.
Họa hoằn lắm người ta mới nghe một tiếng
"tan" đánh lên bìa mật trống để cảnh cáo một
câu hát diễn sai quy cách như hát dọc, hát
gãy, hát đâm hơi... hay diễn một điệu bộ lạc
dòng, không đúng làn hơi, thanh sắc. Nghiêm
khắc hơn là tiếng "cắc" gõ vào thành trống
để cảnh cáo diễn viên về một sai lầm lớn hơn
trong diễn xuất.
Một tiếng trống chầu của Trí Hải là một cung
nhạc cao thấp, yếu mạnh, nhanh chậm... diễn
đạt hết tinh hoa và thần khí của nghệ sĩ
trình diễn. Trí Hải nổi tiếng là cẩn trọng
và tiết kiệm tiếng trống. Nhưng khi tiếng
trống đã diểm ra rồi thì vang lên với một độ
bền và độ sâu đầy ấn tượng cuốn hút vào cõi
mênh mông vô biên.
Sự nghiêm khắc trong vai trò cầm chầu và kỹ
thuật điểm trống điêu luyện của Trí Hải
thường góp phần nâng cao nghệ thuật trình
diễn của diễn viên và làm nức lòng khán giả.
Với tay chầu tuyệt hảo đến độ xuất thần,
tiếng trống chầu của Trí Hải thường gắn bó
hài hòa với nghệ sĩ trình diễn. Tiếng trống
vang lên sau câu hát vừa tròn trịa, vừa vững
chãi làm giá đỡ cho làn hơi và câu hát của
đào kép một cách nhịp nhàng và chí thiết.
Ngày sân khấu kinh thành tưng bừng khai mở
lại, cũng là lúc Trí Hải muốn yên thân để
sống đời lặng lẽ. Bên cạnh thầy Tiều, Phạm
Xảo và Tâm An, Trí Hải vừa có cảm giác bình
an như đã thật sự được sống mai danh ẩn tích.
Nhưng vẫn có những đêm ra đứng ngắm trời,
cái cảm giác cô độc vì bị đời bỏ quên lại
lấm tấm trong suy tư. Trí Hải tự cảm nhận
rằng, mình không có duyên tu đạo nhưng có
thiện ý tu đời. Tu đời là tu bụi. Ngày ngày
rủ bớt những lớp bụi ham muốn, bỏ bớt những
tham vọng cao xa, quét bớt những phiền muộn
quanh mình. Trong vùng an lạc trước mắt, Trí
Hải vẫn không tìm ra một điểm dừng làm điểm
tựa cho đời mình. Trí Hải linh cảm một điều
gì đó khó hiểu như số phận vẫn không buông
tha mình, vẫn chực chờ đâu đó...
(Xin đón xem phần tiếp theo: Đêm cầm chầu
sôi động và cuốn hút nhất của nhân vật Trí
Hải...)
Trần Kiêm Đoàn