|
r ỗ n g l ặ n g
trần kiêm đ̣an
Chẳng ai phân biệt được đó là ngôi nhà hoang, cái miếu cũ hay ngôi chùa cổ nếu không có âm thanh ngân nga như tiếng cầu kinh từ một nơi xa vắng vọng về. Tất cả ẩn sau tàn cây xanh. Mái ngói đóng rêu xanh ŕ và mép ngói nhấp nhô sắp đến hồi sụt lỡ. Sợ gây tiếng động làm t́ vết tiếng hát trong ngần, Trí Hải và Phạm Xảo rón rén vén hiên lá bước vào. Phải qua cái cổng gạch tô vôi hàu loang lổ mới đến cái b́nh phong chắn trước bể cạn nứt nẻ lâu ngày không c̣n một giọt nước. Núp dưới bóng những cây sanh, cây bồ đề, cây phong... cổ thụ, ngôi nhà gạch xưa cũ suốt ngày không ngoi lên được cho ánh nắng mặt trời rọi vào, dù chỉ là dăm bảy chấm nắng vàng lốm đốm. Trước hiên nhà, hai mẹ con mèo mướp quyện nhau nằm ngủ lim dim. Trong số những người ngồi xếp bàn hay duỗi chân, lưng tựa vào tường thoải mái, có cả thằng Vui điên nổi tiếng cả kinh thành. Thằng Vui điên nổi tiếng một cách tội t́nh không phải v́ được phong tước vương hầu, hay v́ đậu bằng tiến sĩ làm ông nghè ông cống mà chỉ v́ cái khố. Mưa lạnh buốt da cũng như nắng cháy lưng trần, thằng Vui chỉ thắng độc nhất cái khố rách với đầu trần, ḿnh trần và chân trần chạy rông khắp kinh thành. Tấm giấy thông hành độc nhất của nó là nụ cười muôn thuở trên môi. Nụ cười bất tận trên khuôn mặt tiếu lâm và cái khố của thằng Vui đă an ủi được cả những kẻ khốn cùng nhất. Nh́n thằng Vui chạy tóe nước trong cơn lạnh mùa Đông cắt da của xứ Huế, người khốn khổ nhất cũng cảm nhận và an ủi được rằng, ít ra trên đời cũng c̣n có kẻ khốn cùng hơn ḿnh. Tiếng tụng kinh của ai đó như một tiếng hát phiêu linh. Ngôn tự vẫn ràng buộc trong một qui ước mơ hồ của lời kinh. Nhưng âm thanh bay lượn vào cơi mênh mông, không phải đậu trên mỗi nhịp chuông, tiếng mơ. Âm thanh hồn nhiên như tia nắng mai phủ cả bầu trời lồng lộng: Sâu thẳm, cao vời huyền diệu quá Trăm, ngàn, vạn kiếp khó t́m nhau Nay nghe thấy được điều tâm nguyện Hiểu nghĩa Như Lai ư nhiệm mầu... Trí Hải nhẩm đọc theo bốn câu "Khai kinh kệ" bằng chữ Hán: Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp Bách thiên vạn kiếp nan tao ngộ Ngă kim kiến văn đắc thọ tŕ Nguyện giải Như Lai chơn thiệt nghĩa Cuối căn pḥng không rộng, mờ trong ánh sáng xanh hắt ra từ những bờ lá thấp phản ánh mặt trời, một nhà sư áo vàng ngă mầu đất sậm, giơ cao dùi mơ nhưng không đánh xuống mà chỉ chạm vào thành mơ rất khẽ, tạo ra một âm thanh đục trầm thấm sâu mà không dội. Giọng nhà sư trong và ấm, ngân nga tự do như hoà điệu với thời gian buổi chiều trôi chầm chậm ngoài kia. Cùng với đám người đang ngồi sẵn lặng nghe từ bao giờ, Trí Hải và Phạm Xảo chẳng ai nói với ai một lời, cùng ngồi xuống. Có những thanh âm huyền diệu làm cho tiếng lá rơi cũng thành một tạp âm chẳng ai chờ đợi. Có những sự gào thét im ĺm mà chỉ có tâm thức ḿnh nghe. Tiếng niệm kinh của nhà sư chấm dứt lâu rồi mà đám người nghe vẫn c̣n ngồi im lặng trong váng vất của dư âm. Cho đến khi nhà sư đứng dậy, tươi cười tiến về phía cửa vào, mọi người mới lần lượt di chuyển theo. Một chút ngỡ ngàng nhưng không mấy ngạc nhiên khi Trí Hải nhận ra nhà sư là người đốt than đă gặp trên núi. Trí Hải bước đến trước mặt nhà sư, chào hỏi: - Xin chào sư bác. Sư bác c̣n nhớ tôi không? Nhà sư nh́n Trí Hải với đôi mắt dịu hiền và tươi mát của người mới gặp lần đầu, trả lời một cách hồn nhiên làm người nghe chưng hửng: - Có mà không! Trí Hải cố gợi lại điểm tựa của kư ức: - Lần đầu chúng ta gặp nhau khi sư bác đốt than và lần cuối gặp nhau là khi sư bác nhắc tôi về cái "tâm không – xả bỏ..." trong thuật đánh cờ đó mà, lẽ nào sư bác lại không nhớ? Nhà sư vẫn giữ dáng cười hiền hậu và chân t́nh, trả lời: - Không nhớ quư hữu mà chỉ nhớ một nhân vật cao cờ đang chết đuối. Đă ngoi lên bờ được rồi, sao quư hữu không nhớ hiện tại mà phải quay lui mang quá khứ về đây? Trí Hải vẫn thắc mắc: - Không có quá khứ th́ làm sao có hiện tại. Không có hiện tại làm ǵ có tương lai? Giọng nhà sư nhỏ lại và trầm xuống như nhắc nhở: - Ích ǵ đâu để kéo những vui buồn đă qua hay chưa tới. Cột dính chùm quá khứ với hiện tại, làm cho hiện tại bị lay động và mất hết vẻ hồn nhiên v́ những cái không phải là chính nó hay của nó. Cơm nóng hôi hổi trước mắt không chịu ăn lại phải trộn cơm nguội hôm qua và gạo sống chưa nấu vào cơm nóng trước mắt để làm ǵ. Mỗi lần gặp nhau muốn có niềm vui và giao t́nh chân thực th́ cần được xem như là lần đầu và cũng là lần cuối. Quên chuyện đă qua và khoan nghĩ tới chuyện chưa đến để dành cho hiện tại chút tươi mát, thảnh thơi. Lắng ḷng nghe một câu kinh, uống một chén nước chè xanh và giữ ḷng an lạc là hạnh phúc trong tầm tay. Nắm lại và giữ nguồn hạnh phúc khỏi mất tiền mua v́ nó ở trong ta. Nào mời quư hữu... Vị sư đưa tay mời nhóm khách lơ thơ chừng mươi người vào lại căn pḥng trống duy nhất của ngôi nhà gạch quá cũ kỹ rêu phong để dùng trà. Quay về phía Trí Hải bên cạnh, nhà sư nói vừa đủ hai người nghe: - Quư hữu biết rồi, một ngày qua là một chuổi đổi thay. Trong giờ khắc nầy quư hữu gặp tôi là một thầy tu; và quư hữu là một khách thập phương ghé lại nghe kinh. Bị than không c̣n trên vai tôi và những thế cờ cũng chẳng c̣n trong trí quư hữu. Mỗi chúng ta là một con người khác, một nhân vật mới. Mọi người, mọi vật đều đang thay đổi. Sự thay đổi tiếp diễn liên tục trong từng nháy mắt. Có khi sự thay đổi toàn triệt đến tận cùng như là chết đi và sống lại... Trí Hải chợt nhận ra cái ư nghĩa thâm sâu trong giọng nói ấm áp của nhà sư: - Ư sư bác muốn nói đến sự vô thường trong từng nhấp nháy của ḍng sống không biết đâu là điểm khởi đầu hay kết thúc?! Nhà sư im lặng thay cho một sự trả lời đồng t́nh. Đám khách thập phương, từ người mặc áo gấm lam có hoa văn ch́m, thêu nhăn hiệu "Cô Ba Gấm" nức tiếng đương thời – một chỉ dấu thuộc hàng quư tộc – đến những người dân nghèo áo quần vá chằng, vá đụp, đều ngồi xuống nền nhà lót bằng đá thanh đă nứt nẻ nhiều nơi nhưng c̣n sạch sẽ. Cái b́nh trà lớn và chục cái chén đất nhỏ kiểu rất lạ bày sẵn trên hai tàu lá chuối xanh c̣n nguyên vẹn để giữa pḥng. Nhà sư mở cửa hông, đến bên ḷ nước đang sôi, xách ấm nước sôi chế vào b́nh trà với một phong thái nhẹ nhàng và cẩn trọng. Mùi thơm phảng phất thoảng hương khói man dại của một loại gỗ rừng đang cháy lọt vào khung cửa hẹp. Trí Hải nhắm mắt và hít mạnh. Mùi hương cũ của bếp than đang cháy bị nhà sư tưới nước tắt nửa chừng trong rừng hôm nào phả mạnh vào mũi. Từng cảm quan bén nhạy nhất của Trí Hải trỗi dậy. Th́ ra, than chín chỉ mang lại sức đốt, nhưng than "sống" mới mang theo hơi hưởng của loài cây phát sinh ra nó. Trà đến từ đọt non mới nhú ra hai lá của vô số cây trà hoang trên núi mà nhà sư đă hái về ướp sen rồi sao khô để dành đăi khách. Hương trà thơm như hương rừng tổng hợp muôn ngàn cây núi. Vị trà chát đầu lưỡi, lưu lại vị ngọt sau cùng trong cổ có sức níu kéo mang đầy ấn tượng thanh thoát lẫn huyền hoặc khó phân tích hay gọi tên v́ nó là vật mời của một nhà sư kỳ lạ... "không giống ai". Nhà sư âm thầm xuất hiện giữa kinh thành nổi tiếng là kinh đô của chùa chiền; và cũng là đất thánh của hàng tu sĩ cấp cao nầy bằng một cung cách riêng. Theo dấu nhà sư, người ta nhớ lại từ đầu, không rơ từ đâu lại, một người có dáng vẻ như nhà sư v́ chiếc đầu tṛn nhẵn bóng và nét an lạc tự tại trên một khuôn mặt vừa già vừa trẻ. Căn nhà hoang một thời, được dùng làm nơi thờ tự của "tôn nhơn" Đoan Vương thứ phi, bỏ hoang v́ không người thừa tự. Một người thuộc hàng con cháu xa của ḍng Đoan Vương bỏ công của ra sửa sang chút đỉnh và mời nhà sư vào ở. Từ đó, căn nhà hoang sống lại trong vẻ côi cút ẩn nhẩn nhưng vẫn tỏa ra cái không khí quư tộc, đài các vô h́nh của một cung phi thất sủng về chiều. Người cư trú cũng có vẻ vừa thật, vừa thần thoại như ngôi nhà. Người đàn ông khi khoác áo nhà sư; khi vác cuốc, mặc áo cộc chàm của người lao động; khi cầm ŕu mang gánh của gă tiều phu. Bởi vậy, nhân vật lạ lùng nầy mang nhiều tên mà không ai biết tên nào là đúng, v́ gọi tên nào nhà sư cũng hoan hỉ gật đầu. Người căn cứ vào cách sống đạm bạc, đơn sơ và lam lũ và bất chấp h́nh tướng của nhà sư th́ gọi là "Thiền Sư Tu Bụi". Người chỉ chú ư cặp mèo lúc nào cũng có mặt trước hiên nhà th́ gọi là "Thầy Miêu". Người nghe được vài ba câu nói sâu xa hiếm hoi và biết chút ít tông tích của nhà sư th́ gọi là "Sư Minh Thiền". Và, thậm chí có người chỉ gặp nhà sư khi đốt than, đốn củi th́ gọi là "Thầy Tiều"... Có vẻ như không tên gọi nào sai mà cũng chẳng có tên gọi nào vừa vặn cho nhà sư. Cái tên như bóng nắng nhuộm sáng thịt da nhưng chợt đến, chợt đi không nằm lại với con người. Trên bệ thờ chạm bằng đá Thanh đặt ở cuối pḥng không biết đă xuất hiện ở đó từ thời nào, cắm đầy hoa tươi và trái cây đủ loại. Trên tường chỉ thấy h́nh hai bàn tay nuột nà bằng thạch cao, nét chạm rất tinh vi. Một bàn tay chỉ mặt trăng và một bàn tay cầm đóa sen nở hàm tiếu. Hai bàn tay như đang nâng một khung kính soi h́nh bầu dục, chiều cao to bằng người đứng thẳng. Khung kính thếp vàng đă lóc men và cũ kỹ, nhưng mặt kính vẫn c̣n trong vắt. Chẳng thấy tượng Phật hay tượng thánh nào khác ngoài chiếc kính lồ lộ mà tất cả mọi người trong pḥng chỉ cần ngước nhẹ nh́n vào tấm kính th́ cũng thấy được ảnh ḿnh soi trong đó. Những người ghé lại nghe kinh ngày một đông. Dường như nhà sư chỉ đọc kinh khi nào đang ở một trạng thái thanh tịnh, siêu thoát nhất. Người theo dơi có cảm giác rằng, nhà sư đọc kinh bằng một cảm xúc trọn vẹn hay hứng khởi vô biên như nghệ sĩ xuất hiện trên sân khấu, chẳng có một thời biểu nào rơ rệt. Tất cả đều theo cái tinh thần "tùy duyên"; có duyên th́ gặp. Hầu hết những lời kinh gốc từ chữ Phạn và chữ Hán, đều được nhà sư dịch ra bằng một thứ ngôn ngữ thuần Việt trong sáng như ca dao và giàu vần điệu đẹp như thơ. Sau ngày gặp sư Trúc Lâm từ hai năm trước, Trí Hải nghe như có sự thay đổi từ trong cách nh́n và cách cảm nhận về thế giới xung quanh. Đó không phải là một thế giới lạnh lùng và cô quạnh. Con người không phải sinh ra để đếm ngày tháng đi qua; để đón những đứa bé mới ra đời và tiễn biệt những người vừa mới chết hay để tiếc nuối tuổi thanh xuân nhạt dần với sự già nua hiện đến. Người ta biết rơ sự tan hợp rất vô thường nên không "chạy lui về tương lai" bằng cách đem cái quá khứ đặt vào tương lai mà quên mất hiện tại. Mỗi con người không phải là một thế giới riêng. Không ai tự cô lập khỏi cuộc đời để rút về một nơi trú ẩn tốt nhất mà núp bóng hạnh phúc, chống lại sự biến dịch và giữ được măi những ǵ ḿnh ưa thích. Ngày xưa, những thế giới an toàn vương giả nhất, nhưng cũng đầy chuyện thêu dệt hoang tưởng nhất trong cung cấm như Vọng Nguyệt Thành, Tử Cấm Thành, cung A Pḥng... chỉ là những thế giới an toàn mong manh của cái tổ chim treo trên ngọn cây trước sức công phá của gió băo thời gian đầy biến dịch. Đó là sự thu ḿnh vào cái ngă tưởng tượng được xem như là lâu đài kiên cố. V́ tưởng tượng nên đấy chỉ là "giả ngă" – một cái tôi bọt bèo nấp bóng dưới một cái cái ta không có thật . Chỉ khi nào cái Giả Ngă bị xua tan như màn đêm th́ cái Chân Ngă mới xuất hiện. Và khi chân ngă xuất hiện th́ sẽ thấy được Ngă là một cái ǵ rộng lớn bao gồm toàn thể vũ trụ: Cái giới hạn vươn tới và hoà nhập vào cái vô cùng là khi Tiểu Ngă chuyển hóa thành Đại Ngă! Một giọt sương đă hoà vào đại dương th́ không bao giờ mất mà cũng chẳng bao giờ c̣n. Giọt sương treo đầu cành là thật v́ rơ ràng nó hiện hữu dưới dạng một giọt nước đang long lanh dưới ánh mặt trời. Nhưng đồng thời nó cũng không thật v́ nó vừa kết tụ bằng hơi nước và sẽ tan đi rất nhanh cùng với tia nắng ban mai. Giọt sương có đó và không đó. Giọt sương như có, như không v́ nó được tạo ra bằng hơi nước, độ lạnh, bóng đêm, cành cây và sẽ tan đi v́ nắng, v́ gió, v́ hơi ấm của ánh sáng ban ngày. Con người "vĩ đại" và hiện hữu lâu hơn v́ nó là kết tụ của hằng tỉ tỉ giọt sương, hàng muôn muôn hạt bụi. Nó có sự kết tụ qua lại của hằng hà sa số tế bào vật chất và ngọn lửa ư thức. Dẫu sự hiện hữu của con người có lâu hơn giọt sương nhưng khi khối giả hợp nầy tan ră th́ khoảng không gian nhỏ bé của thân người đă chiếm cũng sẽ khép lại không c̣n dấu vết. Rốt lại, cơi người ta và cuộc sống hiện tại nầy dù chỉ là một sự trú chân tạm bợ của những giọt sương. Thế nhưng kiếp người hiện hữu vẫn là một trạm trú chân sống động nhất, hiện thực nhất, đầy ư thức nhất để con người t́m một hướng đi, t́m một con đường về và t́m một nơi sẽ đến... Chỉ có con người chính ḿnh chứ không ai khác chịu trách nhiệm lấy đời ḿnh. Con người có khả năng t́m một con đường ḿnh thích: Một sự bám víu đơn giản, dễ dăi và tự nhiên “ai sao ḿnh vậy” vào cuộc sống trước mắt mà chẳng suy tư ǵ hơn là đời sống áo cơm. Một sự cố chấp đứng lại nh́n ḿnh tàn lụi theo mỗi ngày qua, ư thức được ḿnh đang bị hủy diệt mà không làm ǵ cả. Một sự buông xả cầu giải thoát. Tạm trốn trong bóng mát của thời gian để cỡi trên chuyến tàu thành, trụ, hoại, không đang lăn bánh về chân trời hủy diệt là một thái độ không chọn lựa – mà tự nhiên thành chọn lựa – của con người. Trí Hải đă t́m thấy nơi nhà sư một phong thái riêng hợp với danh xưng "Thầy Tiều" hơn cả. Đấy là một con đường thênh thang của tự do đầy gió rừng, dáng núi và mây trắng phiêu du của tư tưởng. Không rơ phát xuất từ một khát vọng hay một biên kiến nào ẩn kín trong tâm hồn, Trí Hải cảm thấy mỗi ngày ḿnh càng gần gũi hơn với thầy Tiều. Đặc biệt là khi nhà sư tụng kinh với giọng ngân vang đầy cảm khái của một lời thông đạt đến nhân sinh, nhưng cũng rất u trầm mang tiếng gọi từ sự khát khao giải thoát. Theo nhà sư th́ kinh là một phương tiện truyền thông của t́nh cảm, tư tưởng và đức tin. Thiếu đức tin th́ kinh chỉ là thơ ca đầy tưởng tượng lăng mạn; thiếu t́nh cảm th́ kinh chỉ là bộ luật tôn giáo; và thiếu tư tưởng th́ kinh chỉ là một hệ thống thần chú bí ẩn. Có lần Trí Hải hỏi rằng, người ta thường đọc kinh với sự tha thiết hít hà, đôi khi ai oán như tiếng khóc than để nói lên thân phận bọt bèo của thân phận làm người, nỗi đau khổ nhân sinh và niềm kính sợ sức mạnh siêu h́nh đang vây bủa xung quanh. Thế nhưng v́ sao sư lại đọc kinh với phong thái đam mê và sự xướng âm trầm bỗng của một nhà nghệ sĩ như vậy, nhà sư trả lời: - Khác nhau ở chỗ là nhiều người tụng kinh với cái tâm cầu khẩn những thế lực thần linh cao cả đâu đó để xin ban ân, chứng giám, tự xem bản thân ḿnh cũng chỉ là vật trợ lực phát ra tiếng như cái mơ, cái chuông. Nơi đây không phải là chốn cầu khẩn mà là nơi tu tập. Tu tập không phải là họp nhau để ca ngợi sự cao siêu của một đấng siêu quần bạt tụy nào đó, và run rẩy ăn năn hối cải, kính sợ cầu xin. Tu tập là t́m về với sự cao cả có sẵn trong chính ḿnh đă bao năm bị vùi lấp. Nên đọc kinh là hát, là nói lời ngợi ca. Tiếng hát làm cho trong trẻo mặt đời bụi bặm. Từ đó, cái chân tâm, Phật tánh nằm sẵn trong chính ḿnh hiển lộ. Đừng đọc kinh để làm vui ḷng ai cả. Đọc kinh để làm vui ḷng ḿnh trước đă. Đọc kinh để cho con ngựa bất kham, khó tính và nhạy cảm trong ḷng mỗi con người ngừng hí lộng, tạm dừng chân lại và lắng nghe. Nói về kinh kệ nhà Phật, Trí Hải lại thắc mắc: - Nhưng trong tôn giáo nào cũng giống nhau, kinh là lời của vị giáo chủ chứ đâu phải là một bài thơ hay để ngâm, hoặc như một bản nhạc du dương để hát? - Đạo Phật khác với tất cả các tôn giáo khác. Tôn giáo nào cũng cần một Thượng Đế, một cuốn kinh thánh và một đấng tiên tri. Riêng đạo Phật th́ chỉ cần con người chính ḿnh và một đầu óc biết quét dọn cho thành rỗng không như mây trắng. - Nếu chỉ cần một tâm năo rỗng lặng như mây trắng th́ đâu cần kinh sách nhiều đến thế? Thầy Tiều khoác tay như muốn vứt bỏ một điều ǵ: - Tất cả kinh sách và sự hành tŕ theo tinh thần đạo Phật là phương tiện để học cách rũ bụi, quét bụi, tu bụi… làm cho cái trí được rỗng không và cái tâm phẳng lặng. Kinh là viên kim cương sắc bén giúp cạo sạch lớp lớp cáu bẩn của ḷng ham muốn, ư hung ác và trí ĺ lợm. Kinh là cái chổi giúp quét sạch bụi trần. Kinh là cỗ xe giúp chở người qua bờ an lạc bên kia. Kinh không bao giờ là tín điều, là phù phép, là những lời hô gió, gọi mưa làm phép lạ. Kinh không bao giờ là sản phẩm để thờ phụng hay đọc tụng mê man. Một cách e dè, Trí Hải hỏi lại: - Nói thế th́ kinh văn chẳng phải lời chí thánh của Phật và chư tổ để cung nghinh, đọc tụng và thờ phụng hay sao? Vẫn nở nụ cười vui, thấy Tiều trả lời: - Kinh là đôi giày bảy dặm, thoăn thoắt bước đi, giúp những bàn chân trần vượt gió bụi và đè chông gai để về nơi bến cũ của chính ḿnh. Kinh đọc tụng ŕnh rang để khấn đảo, cung bái là lời vô hồn bị đọc và bị lăng quên. Kinh vang vọng như tiếng sóng dâng lên ngoài biển cả để thức tỉnh ḍng suối đang ngủ yên trong thế giới riêng sâu kín của mỗi con người là kinh giữa đời, kinh đang sống. - Làm sao biết được đâu là ḍng suối đang ngủ yên trong mỗi con người? - Chân không. Tâm rỗng lặng, trí rỗng lặng, t́nh rỗng lặng th́ chân tánh hiện. Trí Hải nh́n vào vẻ mặt an ḥa như đang cười của nhà sư và hỏi lại: - Có phải ư thầy nói là một đầu óc trẻ thơ chăng? Nhà sư ngẫm nghĩ và trả lời: - Làm sao quư hữu biết được đầu óc trẻ thơ là rỗng không? Chân không là một trạng thái rỗng lặng tuyệt vời trong tỉnh thức chứ không phải là trống rỗng. Khi ta biết ta là ai, biết ngôi chùa là ngôi chùa, biết ông Phật là ông Phật, biết người là người, biết cành hoa là cành hoa, biết con chim là con chim, biết ánh nắng là ánh nắng, biết đau khổ là đau khổ, biết niềm vui là niềm vui... là khi ta đang bước những bước đầu tiên vào vùng đất tỉnh thức, vùng trời tĩnh lặng. Nếu ta không ôm đồm của người làm của ḿnh, đừng t́m hoa trong lửa, không t́m nắng trong mưa... là t́m ra lối vào an lạc. Trí Hải nhận xét: - Nếu chỉ đơn giản như thế mà thôi th́ chẳng khó, ai cũng có khả năng t́m được. Nhà sư lắc đầu: - Vậy mà có biết bao người t́m cả một đời không thấy đó quư hữu ạ. - V́ bị lạc? - Căn cứ vào điểm tụ nơi đâu hay bản đồ chỉ hướng nào để biết lạc hay không? Trí Hải c̣n đang theo ḍng suy nghĩ th́ nhà sư đă tự trả lời: - Người ta vẫn quen bám víu vào điểm lạc của ḿnh để kéo người khác lạc theo. Đó là trường hợp những người bỏ chính ḿnh để đi cầu xin những tha lực trên trời dưới đất và năng nỗ kéo người khác theo ḿnh đi cầu xin. Họ níu người làm ta; níu vật làm tâm nên cũng níu mê lầm làm giải thoát. Họ níu Phật, níu thánh, níu thần mà không chịu níu ḿnh. Họ đem phương tiện làm cứu cánh, như xây một ngôi chùa thật lớn và núp bóng trong bốn bức tường vôi mà cứ tưởng lầm ḿnh đang núp bóng từ bi của đức Phật. Họ núp trong chiếc áo mà cứ tưởng lầm rằng ḿnh là chiếc áo. Họ chỉ mặt trăng mà cứ tưởng ngón tay ḿnh là mặt trăng. Họ nguyện cầu, van xin, hứa hẹn và tự chôn ḿnh dưới những tàng kinh mà không chịu vực cái tâm quư giá nhất của ḿnh vươn dậy để lên đường. - Lên đường! Đường nào? Nhà sư không nói ǵ mà ra dấu mời Trí Hải đứng dậy theo ḿnh. Trí Hải theo nhà sư đến trước đài gương sáng. Cả hai lẳng lặng ngồi xuống. Trí Hải ngước mắt nh́n và thấy bóng ḿnh hiện ra lồ lộ trong gương. Mới ngoài năm mươi mà dáng mệt mỏi đă hiện ra rơ nét. Lần đầu Trí Hải mới có dịp nh́n ḿnh chăm chú đến như thế. Đă có những đốm đồi mồi dấu hiệu của tuổi già hiện trên khuôn mặt thanh tú một thời. Những đường nhăn sẵn sàng xông tới như những đoàn quân hẹn ḥ giáp trận trên khuôn mặt đă qua giờ ngọ. Học theo động tác của nhà sư, Trí Hải ngồi ngay ngắn, xếp bàn và đôi mắt quan sát từ từ kéo xuống trong thế mở lim dim. Trạng thái bồn chồn ban đầu dịu xuống. Những ư nghĩ muốn nhảy xổ ra khỏi đầu lắng lại. Đầu óc đầy đặc bao nhiêu là chuyện đời như tạm đóng cửa không trao đổi với bên ngoài để chất chồng thêm phiền muộn. Khi không c̣n liên tục nạp thêm thức ăn hỗn tạp phi vật thể, vô h́nh, trí óc từ từ rỗng lặng. Cái tâm không bị những xung động nghịch chiều làm rối lọan, cái tâm như mặt trăng không có mây che, chiếu vằng vặc và xa vời trên băi vắng của cảm xúc. Trí Hải có thể nghe từng tiếng lá khô và hạt vông vang rơi trên mái và bắt gặp hơi thở của ḿnh dường như dài và sâu hơn. Trí Hải cảm nhận được rằng ḿnh đang có một trái tim, không phải một trái tim đập rộn ràng v́ tham lam và cảm xúc, mà một trái tim làm việc cần cù một cách dễ thương và gần gũi như con trâu cày ruộng trên đồng. Trí Hải cảm nghe niềm hạnh phúc khi biết ḿnh đang sống. Sống trong từng chớp mắt của thời gian. Người ta quen đếm ḍng sống bằng năm mà quên đếm bằng chớp mắt nên tất cả đều quên giây phút đang sống nầy trong biển đời trôi nổi đă qua và trong ḍng đời hứa hẹn chưa tới của câu chuyện cứ lập đi, lập lại hoài hết năm ngoái đến sang năm. Trí Hải đứng dậy theo vị sư. Nhà sư chẳng nói một lời nào và thản nhiên như thể cả hai vừa uống một tách nước lạnh. Trên đường về một ḿnh, bao nhiêu ư nghĩ vừa lạ, vừa quen ào ạt kéo đến vây bủa Trí Hải trong im lặng. Nhiều câu hỏi về thân thế nhà sư hiện đến. Trí Hải đă từng được thấy nhiều nhóm, nhiều trường, nhiều lớp, nhiều khóa học, nhiều môn phái... tu thiền. Từ h́nh thức đơn giản đến ŕnh rang lễ lạt, cúng rước hoa đèn cũng lắm, nhưng chưa có một cách kiểu ngồi thiền theo môn phái tu nào mà lỏng lẻo một cách gần như nhạt thếch đến thế. Bao ư nghĩ so sánh về những pháp tu thiền xuất hồn đi bốn cơi, đạt đến định lực thần thông tự tại không ngừng lay động tâm tư Trí Hải. Sự ngây thơ của một người lắm khi không đến từ sự hiểu biết giới hạn, giản đơn mà đến từ sự uyên bác – hiểu biết quá nhiều mà không áp dụng như người ăn no mà không tiêu hóa – hóa thành bội thực. Kiến thức không có hệ thống thường chạy rông như thỏ lạc đường. Ngă ba nầy rẽ quanh, rẽ quất, mở ra nhiều ngă ba khác và cứ thế, cả vạn nẻo đường không biết đâu là một hướng đi đích thực dẫn đến nơi ḿnh muốn đến. Đúng hướng, con chim về tổ, con thỏ về hang, con người về nơi an trú. Lạc đường th́ cả trăm con đường vẫn không có một lối đi. Khi đă lạc đường th́ dù là nhà thông thái, người hoang dă, bà giàu sang, ông bần cùng... cũng chỉ là kẻ lạc đường. Lạc đường là lạc đường. Không có lạc đường cao hay lạc đường thấp; lạc đường giỏi hay lạc đường kém. Lạc đường càng lâu, càng cách xa nơi đến hơn. Tu một trăm năm mà bị lạc th́ khoảng cách với bờ giác ngộ càng xa một trăm lần so với người mới đến mà nhận ra rằng, ḿnh bị lạc, để quay về đúng hướng. Mê muôn kiếp mà ngộ nhất thời v́ đi lạc suốt muôn kiếp. Bỗng có một giây phút nào đó tỉnh thức quay về đúng hướng để tiến ngay vào điểm chuẩn đă nằm sẵn đợi chờ bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp ngay chính trong tâm ḿnh. V́ măi miết theo đuổi ḍng suy nghĩ về khái niệm lạc đường, Trí Hải vượt qua lối rẽ vào dinh ông Hoàng đă qua xa mà vẫn tiến bước. Trong đêm tối, con đường len lơi giữa những bụi cây mọc hoang bỗng cụt lối. Trí Hải chợt nh́n lên, đôi mắt bắt gặp bóng tối, mới nhận ra ḿnh đă bị lạc đường. Có thể bị lạc đường ngay trong khu vườn ḿnh làm chủ. Có ánh đèn di chuyển phía xa, Trí Hải đi về phía đó và gặp một người đang ḍ đường bước đi với cây đuốc bện bằng rơm gọi là "con cúi" khi đỏ, khi tắt lay lắt theo gió. Người cầm đuốc mừng rỡ lên tiếng: - May quá, được gặp bác! Tôi t́m đường về xóm Sông mà bị lạc. Xin bác làm ơn chỉ cho tôi lối đi ra khỏi khu vườn cây dại mọc um tùm nầy. Tôi muốn t́m đường về xóm Sông. Trí Hải thân mật: - Tôi cũng về ngă xóm Sông. Chúng ta cùng đi. Người bộ hành lạ mặt hỏi như muốn khẳng định lại niềm tin của ḿnh: - Bác biết đường vùng này quá rành rơi rồi phải không? Trí Hải đáp nhanh: - Không! Tôi cũng đang bị lạc như bác. Người khách lạ đưa cao cây đuốc lên trời: - Trời đất! Hai gă lạc đường định dắt nhau đi t́m phương hướng hay sao đây? Trí Hải cười cười: - Tôi và bác đều lạc nhưng cũng đều biết ḿnh đang lạc. Biết lạc th́ thế nào cũng t́m ra đường mà. Chỉ sợ kẻ lạc đường mà không biết ḿnh lạc nên cùng dắt ḿnh và dẫn người đi lạc mà thôi. Kẻ đồng hành biểu đồng t́nh: - Phải. Biết ḿnh lạc đường th́ sớm muộn ǵ cũng t́m ra lối. Ta đi cả con đuốc cúi sắp tàn. Gió mạnh. Đốm lửa cuối cùng ở đầu cây đuốc bện bằng rơm rụng xuống. Hai người xa lạ bỗng cảm thấy gần nhau hơn v́ chung một bóng tối trên một con đường. Dẫu là con đường đang lạc lối, nhưng chắc chắn không sớm th́ muộn sẽ có nẻo quay về.
Trần Kiêm Đ̣an (Chương 9 - TU BỤI )
|