Trần Kiêm Đoàn

C̉N DUYÊN CƠM HẾN

 

 

Mai Huế, xế Quảng” là một khái niệm không gian khá tương đối giữa Huế và Đà Nẵng. Người Huế vào Đà Nẵng hay Quảng Nam th́ bị nhận diện ngay là “dân trèo đèo”, nhưng cũng c̣n may là không bị dán thêm cái đuôi ở đàng sau thành... khỉ Sơn Chà. Trong khi mấy bà mẹ Huế léo nhéo lên tiếng: “Ui cha! Học tṛ trong Quảng ra thi, THẤY O GÁI HUẾ chân đi không rời!” Th́ liền đó mấy bà Quảng Nam phản pháo liền tay: “Ừ hử! Học tṛ trong Quảng ra thi, MẤY O GÁI HUẾ chân đi không rời!” Thật là một cuộc chiến đấu trường kỳ gian khổ bất phân thắng bại v́ chưa xử được “Ai mê ai trước!”  Được  mê nhau là gặp duyên cá nước rồi chứ cần ǵ phải thắc mắc...  ai mê ai!

Năm 1957, ở làng tôi, cách Huế 10 cây số, chưa có một ngôi trường nào cả.  Mấy lớp vở ḷng ABC mượn khi th́ chái đ́nh làng, khi th́ một góc nhà thờ họ để học, nên do đó mà nền văn hiến của làng tôi lâm vào cảnh đánh vần xuôi th́ tạm được mà đánh vần ngược th́ chưa xong!  Gặp cơ hội có ông anh cả làm lính hải quân ở bến Bạch Đằng Đà Nẵng, mẹ và anh chị tôi quyết định cho tôi vào Đà Nẵng... du học.

Lần đầu, được ra khỏi mấy lũy tre làng, ngồi xe chạy ngoằn ngoèo trên đường đèo Hải Vân non xanh nước biếc chao ơi là cảm động, là hồi hộp, là bâng khuâng, là nhớ nhà, nhớ mạ như tâm sự của Huyền Trân Công Chúa (tôi đoán thế!)

Tôi được vào học trường Bồ Đề Tỉnh Hội Đà Nẵng trên đường Ông Ích Khiêm.

Con đường Ông Ích Khiêm thuở đó c̣n đá sỏi trộn với dầu hắc lởm chởm ổ gà.  Hai bên đường trồng toàn cây mù u.  Tôi ở nhà anh chị Hồi trên đường Ông Ích Khiêm gần chợ Cồn.  Đứng ở Chợ Cồn có thể nh́n thẳng xuống biển Thanh B́nh mà không bị nhà cửa lầu đài chắn ngang tầm mắt.  Thời Mỹ chưa sang chọn Đà Nẵng làm căn cứ quân sự cho không quân và hải quân, Đà Nẵng là một thành phố nhỏ nhắn, xinh xinh như Hội An.  Đời sống dân cư êm đềm và cần cù lam lũ.  Tôi học lớp Nh́, thầy giáo là thầy Ngô Sĩ Cầu có chiếc xe Vespa xanh chạy trên đường dầu đá sỏi tiếng thùng xe lùng bùng “nổ” to hơn tiếng máy!  Thế nhưng cũng đủ thuộc hàng quư tộc đi xe song mă thuở đó rồi!  Những ngày nghỉ học, tôi rong chơi với lũ bạn một cách thoải mái và b́nh an tự tại với cặp gị vừa chạy vừa đi mà đi đâu cũng tới. Chỉ có Nam Ô, Sơn Chà và Ngũ Hoành Sơn là xa thôi.  C̣n Chợ Mới, Cổ Viện Chàm, sân Vận động, bến Bạch Đằng, biển Thanh B́nh th́ chúng tôi rủ nhau chạy ṿng ṿng khắp bến, khỏi cần cỡi xe “hột nổ” hao xăng như thời nay!

Một năm học đi qua êm đềm như giấc mơ.  Trong lớp tôi, con gái tập trung ngồi đầy hai dăy bàn trước, c̣n bao nhiêu là con trai. H́nh như con gái đàn bà xứ Quảng khôn hơn là đàn ông con trai.  Tôi nói điều nầy có bằng chứng rơ ràng, khỏi sợ quư vị nam nhi xứ Quảng thưa kiện.  Số là tuị nhóc trong lớp cao, lùn, thấp, bé đều đủ cỡ, nhưng tôi kêu chúng nó bằng “thằng” ráo trọi.  Trong lúc phe đờn bà học tṛ, có hai trong số nhiều nàng th́ tôi và dăm ba thằng nhóc t́ rắn mắt lạiï kêu bằng “chị” có khi xưng “tui”, khi xưng “tau” rất... thoải mái cuộc đời.  Một nàng tên là chị Thân.  Có lẽ nàng tuổi Thân, hơn tôi, tuổi Tuất, hai tuổi chăng?  Nàng kia là chị Kính.  Chị Thân đẹp nhất đám... con gái. Da trắng hồng, miệng cười có duyên đáo để và dĩ nhiên, nói giọng Quảng Nam vùng Đ̣ Xu, Cẩm Lệ toàn ṛn.  Thú thật là tôi không thích lắm cái tiếng “chu choa” dài ḷng tḥng của chị, nhưng khi chị nói, miệng chúm tṛn và hé mở sau nụ cười hàm tiếu, bán khai đẹp ngơ người, làm cho chị dù có nhảy mũi vẫn hay ho như thường lệ.

Tôi thuộc loại học tṛ nghịch thiệt chứ không phải nghịch ngầm, nhưng được cái là học hành cũng hơi sáng dạ.  Sau kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt đứng đầu lớp, tôi từ một đứa nhóc trèo đèo vô danh tiểu tốt trở thành nhà thông thái trời cho trong lớp.  Bắt đầu có tiếng ŕ rầm hỏi bài của tụi bạn. Một buổi sớm, đă 55 năm qua, nên tôi không c̣n nhớ sáng nào, nhưng có lẽ là một sớm mai hồng, chị Thân t́m tôi trước giờ học.  Chị cho một gói nhỏ trái bon bon và hỏi bài toán đố. Lần đó, có lẽ tôi cảm động quá đâm ra lú lẫn nên bài giải của hai đứa, chị và tôi, đều trật.  Thầy thương t́nh cho 1 điểm rưỡi trên 10.  Nhưng chị Thân là một người đẹp rất anh thư xứ Quảng, nên không lấy sự sa chân lỡ bước của tôi làm điều.  Hôm sau và mấy hôm sau nữa chị vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt hỏi bài và dĩ nhiên là những lần sau nầy trúng phong phóc. V́ cả hai chúng tôi đều thuộc hàng kẻ sĩ trong lớp nên gọi nhau bằng tên và xưng “ḿnh” rất điệu chứ không xưng hô bừa băi “tao, mầy, tôi, tớ” như tụi nhóc mà thời thơ dại ấy mà tôi cho là lôm côm, hàng tháng bị thầy hô vị thứ đứng xa nên tên gọi ba ngày đường chưa tới!

Cuối năm học, tôi và chị Thân đứng nhất đồng hạng trong lớp. Có lẽ thầy cho chị thêm điểm dung nhan nên chị mới đứng ngang hàng với tôi như thế v́ h́nh như càng học hành đứng cao, chị Thân càng đẹp ra. Ngày phát phần thưởng danh dự trước sân khấu rộng mênh mông của chùa Tỉnh Hội, khi gọi tên, tôi và chị Thân cùng lên một lần.  Chị mặc áo đầm trắng, thắt nơ hồng trên bím tóc. Trong tiếng vỗ tay khen tặng, chị Thân nghiêng mặt nh́n tôi nói nho nhỏ: “Ḿnh cảm ơn Đoàn!” Sau nầy nghĩ lại, tôi không hiểu là cụ Nguyễn Du có ở trong tâm trạng của tôi lúc đó không mà phóng một câu thơ đáng đồng tiền bát gạo đến thế: “Đài gương soi thấu dấu bèo cho chăng!”

Trại Hè chia tay của lớp Nhất và lớp Nh́ chúng tôi được tổ chức tại băi biển Sơn Chà. Lều dựng dưới chân núi trông ra biển. Sơn Chà hay c̣n gọi là Sơn Trà thời tôi c̣n học tiểu học đẹp với cây rừng thâm u và c̣n hoang dă như băi biển thần tiên. Nuớc biếc in mầu trời và núi xanh quàng nắng hạ đẹp đến lặng người.  Chiều về, trước khi nắng tắt, chúng tôi được lệnh của Ban quản trại di chuyển tất cả vật dụng và thức ăn để kề dưới chân núi đằng sau phía cắm lều để gió đêm khỏi tung cát vào thức ăn đồ ngủ.  Thầy tṛ yên chí tập họp ra băi biển để sinh hoạt lửa trại. Tiếng hát học tṛ vang lên sưởi ấm cho nhau giữa băi biển đêm lạnh vắng và bao la trong cơi vô cùng.

Trong hiện diện tương phùng đă có tiếng chào chia tay của ngày sắp tới nên tất cả thầy tṛ đă để cho đêm, cho sóng biển, cho ḷng ḿnh ḥa ca trong đêm lửa trại chia tay đến khuya.

Vừa trở lại lều, mọi người đều chưng hửng khi thấy tất cả các giỏ, soong, chảo đựng thức ăn đều bị lôi ra tung toé.  Một số bị lấy mất và số c̣n lại bị vùi trong cát.  Th́ ra, trong lúc thầy tṛ quây quần bên lửa trại dưới băi biển, bầy khỉ núi Sơn Chà đă túa xuống xâm nhập, đột kích khu vực trại, lấy cắp đồ ăn.

Gió lạnh, đêm khuya khoắt, bụng đói cồn cào nhưng toàn trại không một miếng ăn c̣n trọn vẹn sót lại.

Hồi chiều ăn qua loa để kịp tập nhảy lửa, tôi đói bụng đến run người.

Những người khôn ngoan có thể dánh lừa cơn đói bằng giấc ngủ.  C̣n tôi th́ không.

Tôi ngồi bó gối muốn lă người v́ đói và mơi mệt.  Xung quanh mọi người đang ngủ say. Giữa lúc trơ vơ gần như tuyệt vọng th́ ở đâu nàng tiên hiện đến:  Chị Thân!

Chị Thân nói nhẹ như hơi thở bên tai tôi, sợ mọi người nghe:

- Ḿnh c̣n một miếng kẹo kéo sót trong túi áo ấm. Tụi ḿnh chia chung nghen.

Thân dúi vào tay tôi miếng kẹo kéo dài bằng nửa gang tay.  Tôi dúi lại vào tay Thân:

- Không có dao lấy chi mà cắt?

Thân nhanh trí:

 - Cắn!

Miếng kẹo kéo dài như cây viết.  Mỗi đứa cắn một đầu cho khỏi dính nước bọt của nhau.  Miếng kẹo ngắn dần và không cầm trên tay được v́ sợ dính cát nên phải “cầm” trên răng. Đến miếng cuối cùng th́ hai miệng đă “dính” nhau nhưng vẫn không đứa nào có ḷng nghĩa hiệp để nhường hết cho phía bên kia...

Đêm ngắn mà vẫn dài hơn miếng kẹo.

Ngày cũng lên và miếng kẹo đường ngọt lịm không c̣n. Nhưng vẫn c̣n măi nụ cười vui  trên môi và hơi ấm trong sáng vô ngần của tuổi học tṛ yêu dấu.

 

***

 

Mới đó... mới đó mà tôi đă thành ông cụ già 68 tuổi. Năm nay tôi về quê ăn Tết. Đă 32 năm mới được về quê ăn Tết một lần. Thế hệ cha anh trong làng chỉ c̣n lác đác vài người. Thế hệ cùng trang lứa với tôi đă vơi đi quá nửa. Người trẻ trong làng gặp cúi đầu “chào ôn!” lạ lẫm của lần đầu mới gặp. Trong những buổi chiều nhớ nhà man mác mà không biết là ḿnh đang nhớ nhà ở Mỹ hay nhớ ngôi nhà tâm ảnh trong hoài niệm “Ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên. Đi trên Trường Tiền mà nhớ cầu xưa...” Cảm giác ngậm ngùi chợt đến và tự nhiên thích làm thơ, tôi hí hoáy viết bài thơ Về Quê Ăn Tết sau buổi ăn chiều:

 

Xé đi tờ lịch cuối năm

Thời gian nửa cạn rượu tăm nửa đầy

“Tóc ông chừ bạc như mây,

Mười hai năm nữa ông đầy 80”

 

Về làng cháu nhỏ đành hanh nhắc

Ta thấy mùa Xuân bỗng xế chiều

Quê xưa người cũ đi đâu mất

Lặng lẽ cồn hoang bóng tịch liêu

 

Làng cũ người đông mà vắng bóng

Những o những chú thuở đời xanh

Trai thanh gái lịch giờ lên lăo

Nhớ nhớ quên quên chuyện chính ḿnh

 

Chắc ǵ c̣n gặp nhau lần nữa

Tay nắm bàn tay thuở búp măng

Gầy guộc tre tàn run ớn lạnh

Đồng tiền má lúm hóp da nhăn

 

Tuổi 68 về quê ăn Tết

Ba mươi năm gặp lại một lần

Cố nhen nhúm ước mơ t́m dĩ văng

Lạc thời gian nên chỉ thấy bâng khuâng

 

Lau lách sông Bồ nước vẫn xanh

Có ai chờ đợi tắm hai lần

Hỏi người giặt áo trăm năm nữa

Vớt được ǵ trong bọt đă tan

 

Quá khứ qua rồi quên khỏi nhắc

Tương lai chưa tới ngoảnh đi thôi

Hiện tại vui lên không sẽ mất

Chờ vui ai biết thuở nào vui

 

Gặp nhau cứ kể như lần cuối

Nâng chén cười tan nỗi ngậm ngùi

Xuân chín hay tàn Xuân vẫn mới

Bán trăm buồn mua lấy một niềm vui

 

Ở trên căn gác của ngôi nhà thừa tự, chiều chiều c̣n nghe tiếng chim cuốc gọi từ trong mấy bụi tre ở sau hè và đêm đêm tiếng dế, tiếng cây lá quanh vườn vẫn c̣n hồn nhiên và tươi mới. Dư âm và tiếng vọng đâu đây vẫn c̣n quấn quít thân thương  như đêm qua tôi c̣n ngồi bên cạnh mẹ. Nơi ngôi nhà cổ kính nầy, ba mẹ tôi đă qua đời, sáu anh chị em tôi đă sinh ra nay chỉ c̣n một nửa. Nhưng cái cảm giác lạ lẫm ùn đến khi tôi mở đường dây in-ter-net với tốc độ rất nhanh hay khi tôi với tay bật đèn điện và cầm cái máy điện thoại trên bàn gọi cho mấy người bạn ở Cổ Lăo, An Thuận, Nam Thanh. Thật t́nh tôi chưa quen sử dụng những phương tiện thời mới nầy nơi vùng đất vẫn c̣n đọng lại trong kư ức tôi h́nh ảnh và cảm xúc rất mạnh của những ngày về làng đi ra “hoái” câu cá rô, tát đ́a bắt cá trê và nếu thích một chút ấm áp và cô liêu th́ ra đụn rơm trải rơm khô trên nền đất, lượm bẹ cau vàng vừa rụng, đem bó rơm làm gối nằm ngủ.

Con đường mới băng qua Phe Chùa, làng Triều Sơn Trung, đồn Mang Cá tới hồ Tịnh Tâm ngắn trong tầm mắt mà ngày xưa loanh quanh đi bộ với mẹ từ làng lên Huế mất non nửa ngày. Nay chỉ mất chừng mười lăm phút cỡi xe Honda là tôi đă từ làng tới quán cà phê Cây Đa, Thành Nội gặp bạn bè chuyện tṛ tếu táo. Lần đầu, tôi hơi sững sờ một chút khi thấy một hiện tượng lạ chưa từng xảy ra ở cái thành phố Huế cổ kính và bảo thủ nầy. Đó là khách uống cà phê buổi sáng tại các quán cà phê lớn ở trong thành như Thành Nội, Hoàng Trúc... phụ nữ đông hơn nam giới!

Sáng ba mươi Tết, tôi phóng xe Honda lên Huế sớm để đi chợ hoa với ư định mua vài chậu cúc. Vào quán cà phê Thành Nội tôi cứ đinh ninh là sẽ “vắng như chợ chiều ba mươi Tết”, nhưng thực tế ngược lại là bàn nào cũng đông nghẹt khách ngồi. Thấy c̣n chỗ trống ở một cái bàn đă có người ngồi, tôi không c̣n sự chọn lựa nào hơn là tới ngồi theo ư sắp xếp của các tiếp viên trong quán. Bàn có hai người ngồi. Khi ngồi xuống và chào xă giao tôi mới để ư đó là hai phụ nữ có dáng vẻ vừa già vừa trẻ mà tôi không đoán được tuổi v́ cách ăn mặc kín đáo kiểu phương Tây nhưng cũng rất trẻ trung và quư phái. Một chị nói giọng Huế rặt và một chị nói lơ lớ giọng Quảng pha Huế.

Em bé chạy bàn bưng ly cà phê tới. Tôi nói lời cám ơn. Em bé không nói ǵ mà chỉ chúm chím cười và chạy qua bàn khác. Một chị hỏi tôi bất ngờ:

 - Xin lỗi, anh ở Mỹ về?

Tôi ngạc nhiên nh́n cánh tay gầy rám nắng và bộ quần áo xuềnh xoàng hôm kia mua ở ngă tư Anh Danh của ḿnh, hỏi:

- Cái ǵ đă làm chị nghĩ là tôi từ Mỹ về?

Người đàn bà trả lời nhẹ nhàng, không do dự:

- V́ tiếng “cám ơn” của anh dành cho một đứa nhỏ chạy bàn. Ở đây người ta rất hà tiện nói tiếng cám ơn. C̣n dân Mỹ th́ rất lạm phát tiếng “cám ơn” và “xin lỗi.”

Câu chuyện ấm lên và thân mật hơn. Năm mươi năm trước, hai người phụ nữ nầy là bạn học trường Đồng Khánh Huế. Năm nay, xuân Năm mới sẽ cùng lên... bảy chục! Chị tên Thanh ở Úc và chị tên Trang ở Na Uy hẹn nhau về Huế ăn Tết.

Mỗi người Huế xa quê đều có thừa tư liệu để viết nên một cuốn tự truyện dày cộm về đời ḿnh. Có những sự thật t́nh cờ khám phá ra c̣n ly kỳ hơn cả tiểu thuyết.

Ngồi vân vê cái băng tang nho nhỏ ghim trên vành mũ mệnh phụ. Chị Thanh ngoắc cho được chị bán gánh cơm hến ngoài hàng rào để làm cho mỗi người một tô cơm hến buổi sáng. Tôi cám ơn không ăn v́ đă ăn cháo gạo đỏ cá bống thệ kho rim ở làng rồi. Chị Trang cũng từ chối và giải thích thật thà, cởi mở:

- Ḿnh là dân Huế mà “không biết ăn cơm hến” nơi tề!

Nghe mà... rụng rời. Có lẽ đoán được ư nghĩ của tôi hiện trên sắc mặt và dáng người, Trang từ tốn giải thích:

- Tíếc...dễ sợ v́ không được ăn cơm Hến từ thuở nhỏ. Ngày xưa, nhà ḿnh là tiệm vàng Kim Thành ở đường Trần Hưng Đạo. Buổi sáng, ba ḿnh không cho ăn cơm hến v́ cứ nghĩ rằng, cơm hến là cơm nhà nghèo, làm toàn bằng rau đậu, mắm ruốc và hến Cồn quá đơn sơ chơn chất, không hợp với tầm cỡ con nhà sang, sợ ăn vào hàng phố chê là dân mê “cao lầu Cồn”. Con nhà giàu là phải ăn bún ḅ, xôi thịt hon, phở Bắc buổi sáng mới xứng đáng. Lớn lên nghe người ta ca tụng cơm hến Huế quá chừng chừng và ḿnh cũng có thử vài lần nhưng thấy chẳng ngon lành ǵ nên bỏ quên luôn.

Chị Thanh ngước nh́n gánh cơm Huế bằng cái nh́n xa xăm nửa như hồ nghi, nửa như tiếc nuối. Chị nói:

- Ḿnh là dân Quảng Nam theo ba ḿnh ra Huế làm việc. Lên trung học mới bắt đầu học ở Huế và trở thành nàng dâu Huế. Cả nhà ḿnh chỉ thích ḿ Quảng chứ chẳng biết mô tê chi về cơm hến cả. Tới khi về nhà chồng là dân Huế rặt, lại gặp cả nhà chồng đều mê cơm hến như điếu đổ. Nhưng chỉ biết ăn chứ chẳng ai biết nấu cả. Đôi ba lần, ḿnh cố thử ăn cơm hến cho nhà chồng vui ḷng nhưng không cảm được cái mớ cơm rau, ruốc muối, gia vị “tạp pí lù” hỗn độn đó. Ông xă ḿnh là kỹ sư học bên Tây về nên tinh thần cũng thoáng và không ép ḿnh phải thích cơm hến như anh ấy. Năm ngoái, anh ấy bị ung thư gan vào giai đoạn chót. Khi biết anh gần qua đời, ḿnh năn nỉ anh thích món ăn ǵ th́ ḿnh làm món nấy cho anh vui ḷng. Khổ nỗi, anh cứ khăng khăng đ̣i ăn cơm hến là món ăn mà ḿnh mù tịt; trong lúc anh lại đ̣i thêm kiểu cơm hến Huế có nêm cả ruốc tươi và ớt tương cay phỏng lưỡi nữa mới làm ḿnh phát hoảng chứ. Ḿnh cố giải thích là món cơm hến nêm ruốc ớt nầy có hại cho gan của anh trong lúc đang yếu. Nhưng anh nói rằng, đằng nào cũng ra đi sớm nên cứ cho anh ăn món cơm hến mà anh thích nhất vào những giờ phút cuối cùng của đời anh. Tụi ḿnh đang ở xứ Úc nhưng cách xa các thành phố có đông người Việt và quán ăn Việt Nam hàng mấy trăm cây số. Trong phút bối rối ấy, ư nghĩ ḿnh bỗng sáng lên. Ḿnh nhớ là có đọc chuyện viết về cơm hến Huế rất duyên dáng của một ông người Huế viết văn ǵ ǵ  đó. Ḿnh với tay lên kệ sách rút cuốn Chuyện Khảo Về Huế có bài viết về Cơm Hến Huế. Ḿnh đọc vội đọc vàng và thử nấu cơm hến theo cách bày trong sách. Ít ra th́ có chút ít vẫn c̣n hơn không có ǵ. May quá, các vật liệu đều có sẵn ở nhà, chỉ có hến là phải mua hến lon “Whole Baby Clam” có bán rất nhiều ngoài các siêu thị chứ không t́m ra “Green Mussel” nói trong sách. Cho đến khi ông xă ḿnh gượng ngồi dậy, mắt sáng rỡ và khuôn mặt tươi lên đầy vẻ đam mê thích thú khi đối diện với tô cơm hến rồi tự tay múc từng muỗng cơm hến đút vào miệng nhai và nuốt đầy khoái trá ḿnh mới an ḷng. Mấy  hôm sau th́ anh ấy mất...

Chị Trang cười cười chêm vào:

- Úi dà! Mấy anh nhà văn chỉ giỏi nói lư thuyết suông chứ làm ǵ biết nấu cơm hến mà Thanh phải bắt chước theo cho mệt vậy hè.

- Th́ gặp hồi khẩn cấp có chi vớ nấy chứ biết làm sao hơn. Nhưng cũng may là ông xă ḿnh đă khen “cơm hến ngon tuyệt vời” chứ không phải là ḿnh vụng nấu thành ra món râu ria nào khác. Ừ! Mà ḿnh vẫn thường tự hỏi là cái người viết văn nầy có thực sự biết nấu cơm hến không ḱa?!

Trông hai chị có vẻ ngồi im suy nghĩ về gă viết cơm hến là ai và hắn ta có thực sự biết nấu cơm hến không hay chỉ nghe lóm rồi viết trăng, viết cuội mà chơi thôi. Ngồi cùng bàn nhâm nhi ly cà phê đối diện với hai chị, tôi cảm thấy vui vui. Được nghe một câu chuyện ḿnh viết từ hơn hai mươi năm trước nay có người không những nhắc lại mà c̣n đem ra thực hành làm vui ḷng người chồng sắp vĩnh biệt ra đi, tôi thực sự cảm thấy bị xao  động với cảm xúc vừa thú vị, vừa ấp áp thân t́nh nên đă lên tiếng:

- Dạ, hắn cũng biết nấu cơm hến khá lắm hai chị ơi!

Cả hai bà hơi chững lại một chút. Chị Thanh đưa tay lên như vừa hồ nghi, vừa dọ hỏi:

- Rứa, hắn... hắn là ai?

Tôi cười cười, đưa tay chỉ vào ḿnh như... thú tội:

- Th́ hắn là thằng nầy đây!

Chị Thanh chỉ về phía tôi:

- Nói rứa th́ anh là tác giả Cơm Hến? Anh là TKĐ?

Tôi gật đầu:

- Chính hắn!

Chị Thanh hỏi dồn:

- Tui có thằng bạn người Huế cùng tên với anh hồi cùng học lớp Nh́ ở trường Bồ Đề Tỉnh hội Đà Nẵng. Anh? Anh quen...?  

Đến lượt tôi kinh ngạc:

- Tui có học lớp nh́ ở trường Bồ Đề Tỉnh hội Đà Nẵng năm 1957. Thầy Ngô Sĩ Cầu dạy. Rứa chị là ai mà cũng biết...

Chị Thanh hồn nhiên chồm lên, đứng dậy nắm lấy tay tôi:

- Ḿnh là Thân đây. Lấy chồng thêm chữ “h” thành Thanh cho đỡ làm con khỉ!

Chúng tôi từ từ nhận ra nhau khi ôn lại từng kỷ niệm; nhất là kỷ niệm đêm cắm trại Hè ở băi biển Sơn Chà. Sau năm mươi lăm năm, thời gian đă biến đổi hoàn toàn khuôn mặt và nhân dáng của mỗi người. Chúng tôi không c̣n nhận ra nhau nếu không có cuộc gặp gỡ kỳ thú t́nh cờ này.

Tô cơm hến long lanh váng ớt màu đỏ đă được chị bán cơm hến bưng vào để trên bàn. Mùi cơm hến thoang thoảng trong màn sương buổi sớm của Huế kéo tôi về với thực tế. Tôi và chị Trang cùng mỉm cười, gật đầu khi Thân cố nài thêm lần nữa lời mời ăn cơm hến cho có bạn đồng hành.

Trả lời sự thắc mắc của chị Trang là tại sao việc nấu cơm hến làm vui ḷng ông xă đă qua rồi mà nay vẫn c̣n “đeo” cơm hến, Thân tâm sự:

- Rứa mới ngộ chứ. Sau khi ông xă ḿnh qua đời th́ trong 49 ngày đầu, gần như sáng nào ḿnh cũng chuẩn bị nấu sẵn một tô cơm hến và thắp nhang cúng ảnh. Cúng xong, ḿnh ăn. Phần c̣n lại chia cho mấy đứa nhỏ đến ở tạm chơi với mẹ, bà nội, bà ngoại cho đỡ buồn. Những ngày đầu ḿnh ăn cơm hến v́ muốn giữ “hiếu” với “ông dôn” yêu dấu. Nhưng những ngày sau, cái vị hến tươi thật sự, gia vị  và mọi thứ rau theo khẩu vị Việt Nam mà ḿnh đă gởi mua tại các chợ Việt Nam ở Sydney đă “thấm” và chinh phục cái khẩu vị của ḿnh lúc nào không hay.

Thân làm tôi nhớ thuở ḿnh mới lên Huế học cũng chẳng biết ǵ về cơm hến. Rồi thương cô em Đông Ba nhà ở ngay trên đại lộ cơm hến Thành Nội nên mới bén duyên và trở thành đồ đệ cơm hến càng ngày càng nhiệt t́nh thưởng thức. Nghĩ tới bầy con cháu của ḿnh ở Cali cũng thích cơm hến, tôi ṭ ṃ hỏi Thân và được trả lời:

- Thú vị nhất là bầy con ḿnh và mấy đứa rể, dâu ngoại quốc cùng bầy cháu nội, ngoại đều sinh tại nước ngoài cũng lần lượt khoái cơm hến như ḿnh. Đặc biệt nhất là mấy đứa con gái của ḿnh đang rầu nẫu ruột v́ bị lên cân, có khả năng mập tṛn như củ khoai Tây, nay ăn cơm hến vào no bụng mà lại có cơ giảm cân, giữ được thân h́nh thon thả th́ lại đua nhau “bravo cơm hến mẹ nấu quá ngon!”

Chị Trang hỏi ngang:

- Ḿnh có đọc một bài báo từ Cali nói là cơm hến giúp chữa “bệnh già” là thế nào?

Thân nói ngay:

- Th́ tại người già thường lo “mỡ-đường-máu” tấn công làm cho người ta dễ sụm bà chè sớm về với ông bà. Nhất là ở phương Tây ăn thịt nhiều quá nên càng dễ bệnh hơn. Dù là thịt nấu, thịt chiên, thịt bóp, thịt dầm chi chi đó th́ cũng là mối đe dọa bệnh mập ph́, bệnh đường cao, mỡ cao, máu cao đang đe dọa cái thế giới tràn ngập thịt chả nầy. Nấu ở nhà, ḿnh thường cho đủ loại rau được quảng cáo là trị “bá bệnh” xắt nhỏ vào cơm hến. Mùi và vị cơm hến kích thích ăn rau. Sau một thời gian chúng nó kháo nhau cơm hến giúp hạ mỡ, hạ đường... Xưa ba ḿnh thường nhắc “năng ăn không bằng tiết thực”, nghĩa là ăn uống đừng quá hả hê, ăn nhin nhín một chút là tốt cho sức khoẻ nhất. Theo ḿnh th́ ăn cơm hến là cách “tiết thực” gần với tự nhiên hơn cả.

Chị Trang h́ lên một tiếng:

- Thiệt là ly kỳ,  dân Tây, dân đầm mà lại mê cơm hến. Tại sao có chuyện lạ rứa hè?!

Thân giải thích như một giả định đồn đoán có phảng phất mùi vị khoa học.

- Năm tê, tụi ḿnh có dịp du lịch qua vùng Tam Giác Vàng mới biết cái “mê” cũng có lư do riêng của nó. Ở đây từ người lớn đến con nít ai cũng mê ăn canh nấu bằng lá cần sa. Chỉ cần một số hóa chất trong lá cần sa thôi cũng đủ làm bao người mê rồi. Cứ tưởng tượng thức ăn của ḿnh có cả tổng hợp không biết bao nhiêu là hương vị mang tính hóa chất “gây mê” như thế. Riêng cơm hến th́ khỏi nói về nguồn rau sống truyền thống của dân ḿnh quá phong phú cả mùi lẫn vị. Nếu có chăng những hoá chất gây mê th́ cũng nhẹ nhàng chẳng gây tác hại ǵ đáng kể. Mê cơm hến vừa là một tác dụng tâm lư, vừa là ảnh hưởng thể chất. Cái “mê” là một sự dính mắc thường rất đa dạng khó nói lắm. Nghĩ về cái mê cũng như nghĩ tới những chuyện t́nh thời tụi ḿnh đi học, đứa ưng đứa chọc, nên ai nói cũng đúng mà ai nói cũng sai. Cột buộc ḿnh với cái lư và cái sự làm chi cho mệt óc. Ai mê cơm hến cứ ăn, ai mê cà phê trà cứ uống, khoái bún phở ḿ quảng hủ tiếu... cứ dùng tự nhiên. Ưa ăn th́ đừng lư luận mà ưa lư luận th́ đừng ăn. Cái “đạo” cơm hến nó rành rành như rứa đó.

Chúng tôi vui vui trong im lặng để nghĩ và ăn tô cơm hến trước mặt ḿnh.

Ra khỏi đất nước ḿnh, tới những ngă tư thế giới mới có dịp nh́n lại và so sánh.   

Món ăn có thể nói là “đại biểu” độc đáo nhất của từng quốc gia, dân tộc. Những món “độc chiêu” quư hiếm th́ xứ nào cũng có. Nhưng anh chàng bày vẽ về cái ăn, cái uống nhiêu khê đứng đầu sổ thế giới vẫn là anh Ba Tàu Trung Quốc. Nếu nói đến những món ăn đại chúng như hot dog, gà chiên KFC của Mỹ, sushi của Nhật, kim chi của Đại Hàn, ḿ tô đủ loại của Trung Quốc, thịt nướng ḷ lộ thiên của Mông Cổ, lẫu Pad Thai của Thái Lan, cari của Ấn Độ, pizza của Ư, kabob của Trung Đông, xôi nếp thơm của Lào, phở của Việt Nam... th́ vấn đề không phải là ngon hay dở (hoặc dở với người nầy nhưng ngon với người kia) mà giá trị nhân bản cao nằm ở chỗ: Đại chúng, phổ thông và hợp vị. Nghĩa là ai cũng biết, ai cũng có thể đụng tới được và ai nếm cũng không đến nỗi lắc đầu, nhăn mặt. Và đâu đó, cơm hến của Huế cũng là món ăn đồng hành trong cảnh khó khăn –canh hến cơm nguội – trên bước đường tiến về Nam của dân tộc Việt với thế hệ khai phá tiền phong, cắm dùi ở Châu Ô Châu Rí.  

Từ hôm đó, trên đường đi thỉnh thoảng tôi vẫn “vô duyên” mỉm cười chào người lạ đi qua vừa gặp trong tầm mắt. Biết đâu họ cũng là người quen của ḿnh từ năm chục năm trước hay từ một kiếp trước mà ngỡ như mới hôm qua. Bởi vị ngon quê hương ngay trên vành môi nhưng không phải ai cũng từng quen hay ưa thích như khi gặp lại bạn bè xưa – hay một món ăn truyền thống của quê nhà – bởi không c̣n nhận ra nhau nên quay mặt không chào.

 

Thôn Liễu Hạ, mồng Ba Tết 2013 

Trần Kiêm Đoàn

                                                                                        

truyện ngắn

văn

 trankiemdoan.net